​​​​​​​Phân tích trắc lượng thư mục xu hướng nghiên cứu về kinh tế tuần hoàn và hàm ý cho Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 18:34 | 27/06/2026
Kinh tế tuần hoàn đang nổi lên như một lựa chọn phát triển thay thế, với mục tiêu kéo dài tối đa giá trị của sản phẩm, vật liệu và tài nguyên nhờ các hoạt động giảm thiểu, tái sử dụng, sửa chữa, tái chế, tái sản xuất và phục hồi tài nguyên.

Thái Hoàng Tuyết Nhi

Khoa Kỹ thuật và Quản lý Công nghiệp, Trường Công nghệ Văn Lang, Trường Đại học Văn Lang

Email: [email protected]

Đặng Ngọc Như Ý

Email: [email protected]

Tóm tắt

Trước sức ép ngày càng lớn của mô hình kinh tế tuyến tính lên tài nguyên, môi trường và mục tiêu phát triển bền vững, kinh tế tuần hoàn được xem là một hướng đi ngày càng quan trọng nhằm tận dụng tối đa tài nguyên, hạn chế chất thải và tái tổ chức hoạt động sản xuất. Bằng phương pháp phân tích trắc lượng thư mục, nghiên cứu khảo sát 289 bài báo trích xuất từ Scopus trong giai đoạn 2017-2026 và sử dụng phần mềm VOSviewer để lập bản đồ các mạng lưới đồng xuất hiện từ khóa, liên kết thư mục và hợp tác nghiên cứu. Kết quả chỉ ra rằng, những công trình có sức ảnh hưởng lớn chủ yếu xoay quanh đổi mới mô hình kinh doanh tuần hoàn, đo lường tính tuần hoàn, phát triển bền vững, Công nghiệp 4.0, dữ liệu lớn và chuỗi cung ứng bền vững; việc nghiên cứu kinh tế tuần hoàn đã mở rộng từ tái chế và quản lý chất thải sang đổi mới xanh, chuyển đổi số, mô hình kinh doanh và quản trị chuỗi cung ứng… Từ đó, nghiên cứu gợi mở một số khuyến nghị cho Việt Nam.

Từ khóa: Kinh tế tuần hoàn, phát triển bền vững, đổi mới xanh, trắc lượng thư mục

Abstract

Amid growing pressure from the linear economic model on natural resources, the environment, and sustainable development goals, the circular economy has emerged as an increasingly important approach to maximizing resource efficiency, minimizing waste, and restructuring production systems. Using a bibliometric analysis, this study examines 289 articles retrieved from the Scopus database covering the period 2017-2026. VOSviewer software was employed to map keyword co-occurrence, bibliographic coupling, and research collaboration networks. The findings indicate that the most influential studies primarily focus on circular business model innovation, circularity measurement, sustainable development, Industry 4.0, big data, and sustainable supply chains. Research on the circular economy has gradually expanded beyond recycling and waste management to encompass green innovation, digital transformation, business models, and supply chain management. Based on these findings, the study offers several recommendations for advancing circular economy research and practice in Viet Nam.

Keywords: Circular economy, sustainable development, green innovation, bibliometric analysis

ĐẶT VẤN ĐỀ

Áp lực ngày càng lớn từ sự cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm và biến đổi khí hậu đang bộc lộ những bất cập của mô hình kinh tế tuyến tính vận hành theo chuỗi “khai thác - sản xuất - tiêu dùng - thải bỏ”. Trong bối cảnh đó, kinh tế tuần hoàn nổi lên như một lựa chọn phát triển thay thế, với mục tiêu kéo dài tối đa giá trị của sản phẩm, vật liệu và tài nguyên nhờ các hoạt động giảm thiểu, tái sử dụng, sửa chữa, tái chế, tái sản xuất và phục hồi tài nguyên.

Theo quan điểm được chấp nhận phổ biến, kinh tế tuần hoàn là một hệ thống kinh tế đối lập với mô hình tuyến tính, vận hành theo nguyên tắc giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế để gìn giữ giá trị của sản phẩm, vật liệu và tài nguyên qua toàn bộ vòng đời của chúng (Kirchherr và cộng sự, 2017). Geissdoerfer và cộng sự (2017) xem đây là một hệ thống mang tính tái tạo, nơi mức tiêu hao tài nguyên và lượng phát thải được hạn chế bằng cách làm chậm, thu hẹp và khép kín các vòng vật chất, năng lượng. Ellen MacArthur Foundation (2013) cho rằng mô hình hướng tới việc tách tăng trưởng kinh tế ra khỏi sự lệ thuộc vào nguồn tài nguyên hữu hạn. Hơn 10 năm qua, kinh tế tuần hoàn đã vươn lên thành một chủ đề được nghiên cứu sôi động, thu hút sự quan tâm của cả giới học thuật lẫn nhà hoạch định chính sách (Ghisellini và cộng sự, 2016). Dù vậy, cách hiểu về khái niệm này vẫn chưa thống nhất. Khi rà soát 114 định nghĩa, Kirchherr và cộng sự (2017) nhận thấy lĩnh vực đang dịch chuyển từ trọng tâm ban đầu là tái chế và quản lý chất thải sang các hướng đổi mới mô hình kinh doanh, chuyển đổi số và phát triển bền vững.

Ở Việt Nam, kinh tế tuần hoàn đã được luật hóa trong luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và được triển khai cụ thể thông qua Đề án Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam ban hành kèm Quyết định số 687/QĐ-TTg ngày 7/6/2022. Đề án xác định mục tiêu cắt giảm cường độ phát thải khí nhà kính tối thiểu 15% đến năm 2030 và đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Thực tế này đặt ra yêu cầu phải hệ thống hóa tri thức khoa học về kinh tế tuần hoàn nhằm phục vụ việc thiết kế chính sách phù hợp với điều kiện Việt Nam. Dù số lượng nghiên cứu tăng nhanh, các công trình hệ thống hóa cấu trúc tri thức của lĩnh vực vẫn còn ít, nhất là khi nhìn từ góc độ Việt Nam. Phân tích trắc lượng thư mục giúp nhận diện một cách khách quan và định lượng xu hướng công bố, mạng lưới hợp tác, các cụm chủ đề cũng như những công trình nền tảng (Donthu và cộng sự, 2021), nhờ đó, phương pháp này thích hợp để dựng lại bức tranh tổng quát về nghiên cứu kinh tế tuần hoàn trên thế giới và đúc kết hàm ý cho Việt Nam.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Việc nghiên cứu quá trình chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn dựa trên nền tảng của nhiều lý thuyết thuộc lĩnh vực kinh tế và quản trị. Phần này tổng hợp những lý thuyết nền tảng - gồm tăng trưởng kinh tế, đổi mới sáng tạo và kinh tế số, đặt trong bối cảnh chuyển đổi số và Cách mạng công nghiệp 4.0, nhằm thiết lập khung phân tích cho nghiên cứu trắc lượng thư mục.

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế

Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế cổ điển mà điển hình là mô hình tân cổ điển của Solow (1956), đề cao vai trò của tích lũy vốn, lao động và tiến bộ công nghệ; về sau, những mô hình tăng trưởng nội sinh (Romer, 1990) bổ sung tri thức và đổi mới công nghệ vào nhóm động lực tăng trưởng dài hạn. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên ngày càng cho thấy giới hạn về môi trường. Vì vậy, kinh tế tuần hoàn được nhìn nhận trong khuôn khổ tăng trưởng xanh, hướng tới tách rời tăng trưởng khỏi mức tiêu thụ tài nguyên và phát thải (OECD, 2011; Ghisellini và cộng sự, 2016).

Lý thuyết đổi mới sáng tạo

Lý thuyết đổi mới sáng tạo có nguồn gốc từ Schumpeter (1934) với khái niệm “phá hủy sáng tạo”, coi đổi mới về công nghệ và mô hình kinh doanh là động lực then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế. Trong kinh tế tuần hoàn, tinh thần đổi mới được cụ thể hóa qua đổi mới sinh thái và đổi mới mô hình kinh doanh tuần hoàn, hướng tới việc tái thiết kế sản phẩm, quy trình và phương thức tạo giá trị sao cho vòng đời vật liệu được khép kín (Geissdoerfer và cộng sự, 2017; Pieroni và cộng sự, 2019).

Lý thuyết kinh tế số

Lý thuyết kinh tế số (Tapscott, 1996) nói về sự dịch chuyển của các hoạt động kinh tế trên nền tảng công nghệ thông tin, dữ liệu và kết nối số. Đặt trong kinh tế tuần hoàn, các nền tảng số, dữ liệu lớn và công nghệ truy xuất nguồn gốc giúp giám sát dòng vật liệu, gia tăng hiệu quả tái sử dụng và tái chế, đồng thời mở đường cho những mô hình kinh doanh mới như kinh tế chia sẻ, mô hình cho thuê và mô hình sản phẩm - dịch vụ (Jabbour và cộng sự, 2019).

Chuyển đổi số và công nghiệp 4.0

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Schwab, 2016) - với Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big data) và tự động hóa - tạo ra hạ tầng kỹ thuật cho việc áp dụng kinh tế tuần hoàn trên quy mô rộng. Không ít nghiên cứu chỉ ra rằng các công nghệ 4.0 góp phần quản lý chất thải một cách thông minh, cải thiện hiệu quả của chuỗi cung ứng ngược và đo lường mức độ tuần hoàn (Fatimah và cộng sự, 2020; Dev và cộng sự, 2020). Điều này biến sự giao thoa giữa chuyển đổi số và kinh tế tuần hoàn thành một hướng nghiên cứu trọng tâm.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để đo lường và phác họa cấu trúc tri thức của lĩnh vực kinh tế tuần hoàn theo hướng hệ thống và khách quan, nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích trắc lượng thư mục (Donthu và cộng sự, 2021). Nguồn dữ liệu được trích xuất từ cơ sở dữ liệu Scopus bằng cách truy vấn những từ khóa gắn với “circular economy” xuất hiện ở tiêu đề, tóm tắt và từ khóa với phạm vi thời gian giới hạn từ năm 2017-4/2026. Qua các bước lọc theo loại tài liệu, ngôn ngữ và mức độ phù hợp, tập dữ liệu sau cùng còn lại 289 bài báo. Các trường thông tin thư mục - gồm tác giả, quốc gia, năm công bố, nguồn công bố, từ khóa và danh mục tài liệu tham khảo - được đưa vào phần mềm VOSviewer nhằm dựng và trực quan hóa bản đồ khoa học theo cấu trúc mạng lưới.

Bốn nhóm phân tích chính được triển khai gồm: (i) diễn biến công bố theo thời gian; (ii) mạng lưới hợp tác giữa các quốc gia; (iii) liên kết thư mục để xác định nền tảng tri thức; và (iv) mạng lưới đồng xuất hiện từ khóa nhằm khoanh vùng các cụm chủ đề. Toàn bộ kết quả được thể hiện dưới dạng bản đồ khoa học, làm căn cứ cho phần diễn giải tiếp theo.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Xu hướng công bố theo thời gian

Với tập dữ liệu gồm 289 công trình từ Scopus, có thể thấy nghiên cứu về kinh tế tuần hoàn manh nha từ năm 2017 và tăng trưởng mạnh trong vài năm trở lại đây.

Hình 1: Số lượng bài báo công bố theo năm trong bộ dữ liệu Scopus

​​​​​​​Phân tích trắc lượng thư mục xu hướng nghiên cứu về kinh tế tuần hoàn và hàm ý cho Việt Nam

Nguồn: Dữ liệu Scopus được tổng hợp từ tác giả

Hình 1 cho thấy ở giai đoạn đầu (trước năm 2021), số công bố còn khiêm tốn, chỉ dao động trong khoảng 1-17 bài mỗi năm, sau đó bứt lên nhanh và đạt mức cao nhất vào năm 2025 với 58 bài. Riêng năm 2026 có 38 công bố, song chưa phản ánh trọn vẹn cả năm vì dữ liệu được thu thập khi năm vẫn chưa khép lại. Nhìn chung, kinh tế tuần hoàn đang ngày càng thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu.

Phân bố không gian và mạng lưới hợp tác nghiên cứu

Hình 2: Mạng lưới hợp tác nghiên cứu theo quốc gia trong lĩnh vực chuyển dịch sang kinh tế tuần hoàn

​​​​​​​Phân tích trắc lượng thư mục xu hướng nghiên cứu về kinh tế tuần hoàn và hàm ý cho Việt Nam

Nguồn: Kết quả trực quan hóa từ phần mềm VOSviewer

Mạng lưới hợp tác nghiên cứu theo quốc gia được mô tả (Hình 2), trong đó kích cỡ mỗi nút biểu thị mức độ đóng góp còn độ đậm của đường nối phản ánh cường độ đồng tác giả. Giữ vị trí trung tâm là Vương quốc Anh, cùng với Hoa Kỳ, Ấn Độ, Trung Quốc, Đức, Ý và Tây Ban Nha. Có thể nhận ra 3 nhóm trong mạng lưới: nhóm châu Á - Thái Bình Dương đi cùng Anh và Hoa Kỳ (trong đó có Việt Nam), nhóm châu Âu và một nhóm nhỏ gồm Pháp và Brazil. Điểm đáng lưu ý là Việt Nam tuy đã góp mặt trong mạng lưới quốc tế nhưng mức độ kết nối còn hạn chế, hé lộ nhiều dư địa để mở rộng hợp tác nghiên cứu xuyên quốc gia.

Các công trình được trích dẫn nhiều nhất

Bảng: 10 công trình được trích dẫn nhiều nhất trong bộ dữ liệu

STT

Tác giả, năm

Tên công trình

Nguồn công bố

Số lượt trích dẫn

1

Pieroni và cộng sự (2019)

Đổi mới mô hình kinh doanh hướng tới kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững: Tổng quan các cách tiếp cận

Journal of Cleaner Production

920

2

Corona và cộng sự (2019)

Hướng tới phát triển bền vững thông qua kinh tế tuần hoàn: Tổng quan và đánh giá phản biện các chỉ số đo lường tính tuần hoàn hiện nay

Resources, Conservation and Recycling

826

3

Urbinati và cộng sự (2017)

Hướng tới một hệ phân loại mới cho các mô hình kinh doanh kinh tế tuần hoàn

Journal of Cleaner Production

821

4

Fatimah và cộng sự (2020)

Cách tiếp cận kinh tế tuần hoàn bền vững dựa trên Công nghiệp 4.0 cho hệ thống quản lý chất thải thông minh nhằm đạt các mục tiêu phát triển bền vững

Journal of Cleaner Production

636

5

Centobelli và cộng sự (2020)

Thiết kế mô hình kinh doanh trong kinh tế tuần hoàn: Tổng quan tài liệu hệ thống và định hướng nghiên cứu

Business Strategy and the Environment

576

6

Witjes và Lozano (2016)

Hướng tới một nền kinh tế tuần hoàn hơn: Đề xuất khung kết nối mua sắm công bền vững và mô hình kinh doanh bền vững

Resources, Conservation and Recycling

568

7

Ferasso và cộng sự (2020)

Các mô hình kinh doanh kinh tế tuần hoàn: Hiện trạng nghiên cứu và các hướng đi tương lai

Business Strategy and the Environment

477

8

Jabbour và cộng sự (2019)

Khai mở kinh tế tuần hoàn thông qua các mô hình kinh doanh mới dựa trên dữ liệu quy mô lớn

Technological Forecasting and Social Change

467

9

Dev và cộng sự (2020)

Công nghiệp 4.0 và kinh tế tuần hoàn: Tối ưu vận hành cho hiệu quả chuỗi cung ứng ngược bền vững

Resources, Conservation and Recycling

437

10

Ranta và cộng sự (2021)

Công nghệ số thúc đẩy đổi mới mô hình kinh doanh cho kinh tế tuần hoàn: Nghiên cứu đa trường hợp

Resources, Conservation and Recycling

435

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ cơ sở dữ liệu Scopus.

Nhóm công trình được trích dẫn nhiều nhất phản ánh nền tảng học thuật của lĩnh vực, vốn xoay quanh mô hình kinh doanh tuần hoàn, đo lường tính tuần hoàn, phát triển bền vững, công nghiệp 4.0 và chuỗi cung ứng bền vững. Dẫn đầu về số lượt trích dẫn là Pieroni và cộng sự (2019) bàn về đổi mới mô hình kinh doanh (920 lượt), kế đến là Corona và cộng sự (2019) về chỉ số đo lường tính tuần hoàn (826 lượt), Urbinati và cộng sự (2017) về cách phân loại mô hình kinh doanh tuần hoàn (821 lượt).

Xét tổng thể, những công trình có sức ảnh hưởng lớn cho thấy nghiên cứu kinh tế tuần hoàn đã đi xa hơn cách tiếp cận môi trường truyền thống để hướng tới các chủ đề kinh tế và quản trị như đổi mới mô hình kinh doanh, mua sắm công bền vững, chuỗi cung ứng ngược, dữ liệu lớn và công nghiệp 4.0 qua đó cho thấy sự dịch chuyển từ trọng tâm tái chế, quản lý chất thải sang việc coi kinh tế tuần hoàn như một mô hình tái cấu trúc sản xuất, tiêu dùng và tạo giá trị.

Mối liên kết học thuật giữa các công trình

Hình 3: Bản đồ liên kết thư mục giữa các công trình nghiên cứu về chuyển dịch sang kinh tế tuần hoàn

​​​​​​​Phân tích trắc lượng thư mục xu hướng nghiên cứu về kinh tế tuần hoàn và hàm ý cho Việt Nam

Nguồn: Kết quả trực quan hóa từ phần mềm VOSviewer

Bản đồ liên kết thư mục được thể hiện (Hình 3) - mức độ liên kết giữa 2 công trình càng cao khi chúng cùng trích dẫn các tài liệu giống nhau. Trên bản đồ nổi lên 3 cụm chính: cụm đổi mới mô hình kinh doanh tuần hoàn (Pieroni và cộng sự, 2019; Urbinati và cộng sự, 2017; Centobelli và cộng sự, 2020); cụm phát triển bền vững và quản trị chuỗi cung ứng (Corona và cộng sự, 2019; Jabbour và cộng sự, 2019) và cụm công nghiệp 4.0, công nghệ số (Fatimah và cộng sự, 2020; Dev và cộng sự, 2020). Như vậy, nền tảng tri thức của lĩnh vực được kiến tạo từ nhiều hướng tiếp cận bổ trợ lẫn nhau.

Mạng lưới đồng xuất hiện từ khóa và các cụm chủ đề

Hình 4: Mạng lưới đồng xuất hiện từ khóa trong nghiên cứu về chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn

​​​​​​​Phân tích trắc lượng thư mục xu hướng nghiên cứu về kinh tế tuần hoàn và hàm ý cho Việt Nam

Nguồn: Kết quả trực quan hóa từ phần mềm VOSviewer

Hình 4 mô tả mạng lưới đồng xuất hiện từ khóa, với “circular economy” đóng vai trò từ khóa trung tâm. Mạng lưới này tách thành 4 cụm chủ đề: quản trị chuỗi cung ứng và công nghiệp 4.0; phát triển bền vững và các mục tiêu phát triển bền vững; đổi mới và mô hình kinh doanh; cùng tái chế và quản lý chất thải. Cấu trúc đó một lần nữa khẳng định kinh tế tuần hoàn là một lĩnh vực liên ngành, gắn kết quản trị, công nghệ và phát triển bền vững.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP

Thông qua phương pháp phân tích trắc lượng thư mục đối với 289 bài báo trên Scopus từ năm 2017-4/2026, nghiên cứu đã nhận diện các xu hướng nổi bật trong nghiên cứu kinh tế tuần hoàn. Lượng công bố tăng lên rõ rệt, nhất là sau năm 2020 và lập đỉnh vào năm 2025; nền tảng học thuật quy tụ quanh đổi mới mô hình kinh doanh, đo lường tính tuần hoàn, phát triển bền vững, công nghiệp 4.0 và chuỗi cung ứng bền vững. Các kết quả phân tích cho thấy lĩnh vực đã vươn rộng từ tái chế, quản lý chất thải sang đổi mới, công nghệ số và tái cấu trúc mô hình kinh tế.

Từ những kết quả này, nghiên cứu gợi mở một số khuyến nghị cho Việt Nam: (i) thúc đẩy việc nghiên cứu và triển khai mô hình kinh doanh tuần hoàn gắn với công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số; (ii) mở rộng hợp tác nghiên cứu quốc tế để nâng cao năng lực và mức độ hội nhập; (iii) kiện toàn chính sách cùng bộ tiêu chí đo lường tính tuần hoàn nhằm thực thi hiệu quả Đề án Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam; (iv) khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho đổi mới sinh thái, thiết kế sản phẩm bền vững và chuỗi cung ứng ngược.

Nghiên cứu vẫn tồn tại một số hạn chế: dữ liệu chỉ lấy từ một nguồn duy nhất là Scopus và số liệu của năm 2026 chưa đầy đủ. Hướng nghiên cứu về sau có thể bổ sung thêm nguồn dữ liệu, lồng ghép phân tích định tính và khai thác sâu hơn bối cảnh Việt Nam để tạo cơ sở vững chắc hơn cho việc hoạch định chính sách.

Tài liệu tham khảo:

1. Centobelli, P., Cerchione, R., Chiaroni, D., Del Vecchio, P., & Urbinati, A. (2020). Designing business models in circular economy: A systematic literature review and research agenda. Business Strategy and the Environment, 29(4), 1734-1749. https://doi.org/10.1002/bse.2466

2. Corona, B., Shen, L., Reike, D., Rosales Carreón, J., & Worrell, E. (2019). Towards sustainable development through the circular economy-A review and critical assessment on current circularity metrics. Resources, Conservation and Recycling, 151, 104498. https://doi.org/10.1016/j.resconrec.2019.104498

3. Dev, N. K., Shankar, R., & Qaiser, F. H. (2020). Industry 4.0 and circular economy: Operational excellence for sustainable reverse supply chain performance. Resources, Conservation and Recycling, 153, 104583. https://doi.org/10.1016/j.resconrec.2019.104583

4. Donthu, N., Kumar, S., Mukherjee, D., Pandey, N., & Lim, W. M. (2021). How to conduct a bibliometric analysis: An overview and guidelines. Journal of Business Research, 133, 285-296. https://doi.org/10.1016/j.jbusres.2021.04.070

5. Ellen MacArthur Foundation. (2013). Towards the circular economy: Economic and business rationale for an accelerated transition. Ellen MacArthur Foundation

6. Fatimah, Y. A., Govindan, K., Murniningsih, R., & Setiawan, A. (2020). Industry 4.0 based sustainable circular economy approach for smart waste management system to achieve sustainable development goals. Journal of Cleaner Production, 269, 122263. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2020.122263

7. Ferasso, M., Beliaeva, T., Kraus, S., Clauss, T., & Ribeiro-Soriano, D. (2020). Circular economy business models: The state of research and avenues ahead. Business Strategy and the Environment, 29(8), 3006-3024. https://doi.org/10.1002/bse.2554

8. Geissdoerfer, M., Savaget, P., Bocken, N. M. P., & Hultink, E. J. (2017). The circular economy - A new sustainability paradigm? Journal of Cleaner Production, 143, 757-768. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2016.12.048

9. Ghisellini, P., Cialani, C., & Ulgiati, S. (2016). A review on circular economy: The expected transition to a balanced interplay of environmental and economic systems. Journal of Cleaner Production, 114, 11-32. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2015.09.007

10. Jabbour, C. J. C., de Sousa Jabbour, A. B. L., Sarkis, J., & Godinho Filho, M. (2019). Unlocking the circular economy through new business models based on large-scale data: An integrative framework and research agenda. Technological Forecasting and Social Change, 144, 546-552. https://doi.org/10.1016/j.techfore.2017.09.010

11. Kirchherr, J., Reike, D., & Hekkert, M. (2017). Conceptualizing the circular economy: An analysis of 114 definitions. Resources, Conservation and Recycling, 127, 221-232. https://doi.org/10.1016/j.resconrec.2017.09.005

12. OECD. (2011). Towards green growth. OECD Publishing

13. Pieroni, M. P. P., McAloone, T. C., & Pigosso, D. C. A. (2019). Business model innovation for circular economy and sustainability: A review of approaches. Journal of Cleaner Production, 215, 198-216. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2019.01.036

14. Quốc hội (2020). Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14.

15. Ranta, V., Aarikka-Stenroos, L., & Väisänen, J.-M. (2021). Digital technologies catalyzing business model innovation for circular economy: Multiple case study. Resources, Conservation and Recycling, 164, 105155. https://doi.org/10.1016/j.resconrec.2020.105155

16. Romer, P. M. (1990). Endogenous technological change. Journal of Political Economy, 98(5), S71-S102

17. Schumpeter, J. A. (1934). The theory of economic development. Harvard University Press

18. Schwab, K. (2016). The fourth industrial revolution. World Economic Forum.

19. Solow, R. M. (1956). A contribution to the theory of economic growth. The Quarterly Journal of Economics, 70(1), 65-94

20. Tapscott, D. (1996). The digital economy: Promise and peril in the age of networked intelligence. McGraw-Hill

21. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 687/QĐ-TTg ngày 7/6/2022 phê duyệt Đề án phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam.

22. Urbinati, A., Chiaroni, D., & Chiesa, V. (2017). Towards a new taxonomy of circular economy business models. Journal of Cleaner Production, 168, 487-498. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2017.09.047

23. Witjes, S., & Lozano, R. (2016). Towards a more circular economy: Proposing a framework linking sustainable public procurement and sustainable business models. Resources, Conservation and Recycling, 112, 37-44. https://doi.org/10.1016/j.resconrec.2016.04.015

Ngày nhận bài: 25/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 20/6/2026; Ngày duyệt đăng: 25/6/2026

Các tin khác

Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số

Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số

Thực tế đã chứng minh rằng phát triển chuỗi liên kết đã tạo ra các khu sản xuất tập trung, cánh đồng mẫu lớn, vùng nguyên liệu lớn, đồng thời là cơ sở quan trọng để đưa các tiến bộ khoa học vào sản xuất theo quy trình công nghệ, tiêu chuẩn hóa các tiêu chí về chất lượng sản phẩm, tạo ra khối lượng hàng hóa chủ lực đủ lớn đáp ứng yêu cầu của thị trường, khắc phục được những nhược điểm của mô hình kinh tế hộ nhỏ lẻ, manh mún
Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cá nhân trong hệ thống bán lẻ hiện đại: Tổng quan, khoảng trống và hướng phát triển

Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cá nhân trong hệ thống bán lẻ hiện đại: Tổng quan, khoảng trống và hướng phát triển

Bán lẻ đang chuyển từ cung ứng hàng hóa tại điểm bán sang quản trị toàn bộ hành trình khách hàng. Thương mại điện tử, thanh toán số, ứng dụng di động và bán hàng đa kênh làm thay đổi cách cung ứng và đánh giá dịch vụ. Khách hàng có thể tìm kiếm thông tin trực tuyến, kiểm tra sản phẩm tại cửa hàng, đặt hàng online và sử dụng quyền lợi thành viên trên nhiều kênh. Vì vậy, chất lượng dịch vụ ngày càng được hình thành từ nhiều điểm tiếp xúc.
Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Dịch vụ giao thức ăn trực tuyến cho phép khách hàng đặt món qua ứng dụng hoặc website và nhận món tại địa điểm yêu cầu.
Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là một trong những vấn đề trọng tâm của quản trị y tế, bởi chất lượng không chỉ được phản ánh qua kết quả chuyên môn, mà còn được hình thành từ toàn bộ trải nghiệm của người bệnh trong quá trình tiếp cận và sử dụng dịch vụ.
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Khi thị trường ứng dụng di động bước vào giai đoạn cạnh tranh cao hơn, vấn đề quản trị không chỉ là thu hút lượt tải hoặc giao dịch đầu tiên mà còn là duy trì người dùng sau trải nghiệm.
Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch

Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch

Ngành du lịch đang chịu tác động của toàn cầu hóa, chuyển đổi số và yêu cầu phát triển bền vững, khiến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả công việc trở thành yêu cầu quan trọng. Lãnh đạo chuyển đổi có thể thúc đẩy hiệu quả công việc thông qua truyền cảm hứng, hỗ trợ và khuyến khích đổi mới, song cơ chế tác động vẫn chưa được giải thích đầy đủ.
Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên

Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên

Trong bối cảnh kinh tế số, thương mại điện tử không còn là một xu hướng bổ trợ mà đã trở thành một phần cốt lõi của hệ sinh thái tiêu dùng hiện đại. Nhóm người tiêu dùng từ 18-24 tuổi, phần lớn là sinh viên, đang chiếm tỷ lệ giao dịch trực tuyến cao nhất.
Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)

Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)

Trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh, du lịch trải nghiệm và kinh tế tuần hoàn ngày càng phát triển, việc kết hợp sản xuất nông nghiệp với hoạt động du lịch đang trở thành hướng đi được nhiều địa phương lựa chọn nhằm gia tăng giá trị trên cùng một đơn vị diện tích đất canh tác.
Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Quy hoạch xác định cấu trúc không gian và các mục tiêu phát triển. Kế hoạch đầu tư xác định những công trình có thể thực hiện trong giới hạn ngân sách. Khoảng cách giữa 2 công cụ xuất hiện khi danh mục đề xuất vượt khả năng cân đối vốn hoặc dự án chưa đủ điều kiện triển khai.
Nhu cầu du khách và phát triển du lịch trải nghiệm bền vững tại làng nghề nước mắm Phú Quốc

Nhu cầu du khách và phát triển du lịch trải nghiệm bền vững tại làng nghề nước mắm Phú Quốc

Bên cạnh tài nguyên biển đảo và hệ thống dịch vụ nghỉ dưỡng, Phú Quốc còn sở hữu nghề làm nước mắm truyền thống có lịch sử lâu đời và gắn chặt với đời sống của cộng đồng cư dân biển đảo.