Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của du lịch nông nghiệp tại TP. Đồng Nai

Nghiên cứu - Trao đổi 11:19 | 20/09/2026
Trong bối cảnh du lịch nông nghiệp, năng lực cạnh tranh còn phụ thuộc vào các cơ chế mềm nhưng có tính quyết định.

ThS. Lưu Thị Ngọc Diệp

Trường Đại học Đồng Nai

TS. Phan Văn Phùng (Tác giả liên hệ)

Khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Cửu Long; Email: [email protected]

PGS, TS. Mai Văn Nam

Đại học Cần Thơ

Tóm tắt

Bài viết đề xuất mô hình lý thuyết giải thích năng lực cạnh tranh của du lịch nông nghiệp tại TP. Đồng Nai. Trên cơ sở Lý thuyết năng lực cạnh tranh điểm đến, Lý thuyết các bên liên quan, quản lý tri thức, hình ảnh điểm đến và chuyển đổi số trong du lịch, bài viết xây dựng mô hình gồm 7 cấu trúc; trong đó, Quản lý sự tham gia và Quản lý tri thức tác động đến Năng lực cạnh tranh của du lịch nông nghiệp thông qua 2 biến trung gian là Niềm tin và Thu thập tri thức, đồng thời Hình ảnh điểm đến và Chuyển đổi số có tác động trực tiếp. Bài viết phát triển 8 giả thuyết nghiên cứu và định hướng kiểm định bằng PLS-SEM nhằm cung cấp cơ sở cho nghiên cứu thực nghiệm và đề xuất hàm ý quản trị tại Đồng Nai.

Từ khóa: Du lịch nông nghiệp, năng lực cạnh tranh, quản lý sự tham gia, quản lý tri thức, hình ảnh điểm đến, chuyển đổi số

Abstract

This article proposes a theoretical model explaining the competitiveness of agricultural tourism in Dong Nai City. Drawing on Destination Competitiveness Theory, Stakeholder Theory, knowledge management, destination image, and digital transformation in tourism, the article develops a model comprising seven constructs. Participation management and knowledge management affect agricultural tourism competitiveness through two mediating variables, namely trust and knowledge acquisition, while destination image and digital transformation have direct effects. The article develops eight research hypotheses and proposes testing them using PLS-SEM to provide a basis for empirical research and managerial implications in Dong Nai.

Keywords: Agricultural tourism, competitiveness, participation management, knowledge management, destination image, digital transformation

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong quá trình chuyển từ sản xuất nông nghiệp đơn giá trị sang kinh tế nông nghiệp đa giá trị, du lịch nông nghiệp ngày càng được xem là một phương thức quan trọng để khai thác đồng thời giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường của khu vực nông thôn. Thông qua việc kết hợp sản xuất nông nghiệp với tham quan, trải nghiệm, giáo dục, nghỉ dưỡng, ẩm thực và mua sắm, loại hình này giúp nông hộ đa dạng hóa thu nhập, mở rộng thị trường cho nông sản và tăng cường liên kết giữa nông nghiệp với khu vực dịch vụ. Tew và Barbieri (2012) cho rằng, lợi ích của du lịch nông nghiệp không chỉ nằm ở doanh thu bổ sung mà còn ở khả năng tiếp cận khách hàng mới, quảng bá giá trị nông nghiệp và cải thiện chất lượng cuộc sống của hộ sản xuất. Phillip và cộng sự (2010) nhấn mạnh rằng, đặc trưng cốt lõi của du lịch nông nghiệp là mối liên hệ thực chất với cơ sở nông nghiệp đang hoạt động và mức độ tương tác của du khách với quá trình sản xuất.

Đồng Nai có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch nông nghiệp nhờ sự đa dạng của cảnh quan sinh thái, hệ thống sông hồ, vùng cây ăn trái, trang trại, làng nghề, văn hóa cộng đồng và sản phẩm OCOP. Một số mô hình trải nghiệm đã hình thành tại Xuân Lộc, Xuân Bắc, Trị An, Bình Lộc, Hàng Gòn, Định Quán, Tà Lài và Gia Canh. Các hoạt động như: tham quan vườn cây, trải nghiệm sản xuất và chế biến ca cao, tìm hiểu nghề truyền thống, thưởng thức ẩm thực và du lịch cộng đồng cho thấy khả năng kết hợp giữa nông nghiệp, văn hóa và dịch vụ. Lợi thế kết nối với TP. Hồ Chí Minh và các trung tâm kinh tế vùng Đông Nam Bộ cũng tạo điều kiện để Đồng Nai tiếp cận thị trường khách lớn, nhất là nhóm khách tham quan ngắn ngày và nghỉ dưỡng cuối tuần.

Tuy nhiên, tài nguyên phong phú không tự động tạo ra năng lực cạnh tranh. Theo Ritchie và Crouch (2003), tài nguyên tự nhiên và văn hóa chủ yếu tạo ra lợi thế so sánh; lợi thế cạnh tranh chỉ hình thành khi tài nguyên được quản lý, tổ chức và khai thác hiệu quả. Dwyer và Kim (2003) cũng cho rằng, năng lực cạnh tranh điểm đến là kết quả của sự kết hợp giữa tài nguyên cốt lõi, nguồn lực hỗ trợ, cơ sở hạ tầng, quản trị, điều kiện cầu và khả năng đáp ứng thị trường. Đối với du lịch nông nghiệp, yêu cầu này càng phức tạp do sản phẩm phụ thuộc vào mùa vụ, hoạt động sản xuất của nông hộ, chất lượng môi trường và sự phối hợp giữa nhiều chủ thể.

Thực tiễn cho thấy, sản phẩm du lịch nông nghiệp thường nhỏ lẻ, thiếu khác biệt, nội dung trải nghiệm đơn giản và chưa được chuẩn hóa. Nông hộ và hợp tác xã có lợi thế về tài nguyên và tri thức bản địa nhưng thường hạn chế về kỹ năng phục vụ, thiết kế trải nghiệm, tiếp thị và quản trị. Doanh nghiệp lữ hành lại gặp khó khăn trong tìm kiếm nguồn cung ổn định và kiểm soát chất lượng. Bên cạnh đó, cơ chế phối hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp, hợp tác xã, nông hộ, chủ thể OCOP và cộng đồng chưa thực sự chặt chẽ. Những hạn chế này làm giảm khả năng hình thành chuỗi giá trị, xây dựng thương hiệu và duy trì trải nghiệm nhất quán cho du khách.

Từ góc độ lý thuyết, các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh điểm đến thường nhấn mạnh tài nguyên, hạ tầng, chất lượng sản phẩm và quản trị. Tuy nhiên, trong bối cảnh du lịch nông nghiệp, năng lực cạnh tranh còn phụ thuộc vào các cơ chế mềm nhưng có tính quyết định. Thứ nhất, quá trình quản lý sự tham gia cần tạo ra niềm tin giữa các bên liên quan để thúc đẩy hợp tác và chia sẻ nguồn lực. Thứ hai, quản lý tri thức cần chuyển hóa thành hoạt động thu thập tri thức từ du khách, thị trường và cộng đồng để hỗ trợ đổi mới. Thứ ba, hình ảnh điểm đến cần đủ rõ ràng và khác biệt để giúp du khách nhận biết giá trị của điểm đến. Thứ tư, chuyển đổi số cần được sử dụng để mở rộng tiếp cận thị trường, nâng cao trải nghiệm và cải thiện hiệu quả quản trị.

Khoảng trống nghiên cứu vì vậy không chỉ nằm ở việc thiếu một nghiên cứu định lượng tại Đồng Nai mà còn ở việc chưa có mô hình tích hợp giải thích đồng thời các cơ chế quản trị, tri thức, thị trường và công nghệ trong quá trình hình thành năng lực cạnh tranh của du lịch nông nghiệp. Trên cơ sở đó, bài viết hướng đến 3 mục tiêu: hệ thống hóa cơ sở lý thuyết; phát triển các giả thuyết nghiên cứu;đề xuất mô hình làm nền tảng cho kiểm định thực nghiệm bằng PLS-SEM. Mô hình tập trung vào các quan hệ quản lý sự tham gia - niềm tin - năng lực cạnh tranh; quản lý tri thức - thu thập tri thức - năng lực cạnh tranh; cùng với tác động trực tiếp của hình ảnh điểm đến và chuyển đổi số.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Du lịch nông nghiệp là hoạt động du lịch được tổ chức trên nền tảng khai thác các giá trị của sản xuất nông nghiệp, cảnh quan nông thôn, văn hóa bản địa và đời sống cộng đồng. Theo Barbieri và cộng sự (2013), du lịch nông nghiệp thường diễn ra tại trang trại hoặc cơ sở sản xuất nông nghiệp đang hoạt động, nơi du khách có thể tham quan, trải nghiệm hoặc tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất. Phillip và cộng sự (2010) cho rằng, việc xác định du lịch nông nghiệp cần dựa trên mối liên hệ với cơ sở nông nghiệp, mức độ tiếp xúc với hoạt động sản xuất và tính chủ động của du khách trong trải nghiệm.

Năng lực cạnh tranh của du lịch nông nghiệp được hiểu là khả năng của một điểm đến huy động, tổ chức và khai thác hiệu quả các nguồn lực nông nghiệp - du lịch để tạo ra trải nghiệm khác biệt, thu hút và làm hài lòng du khách, gia tăng giá trị kinh tế cho các chủ thể tham gia, đồng thời bảo tồn tài nguyên và duy trì phát triển bền vững. Khái niệm này kế thừa Lý thuyết năng lực cạnh tranh điểm đến nhưng nhấn mạnh vai trò của nông hộ, cộng đồng, tri thức bản địa, tính xác thực và sự phối hợp giữa các chủ thể.

Mô hình nghiên cứu được xây dựng trên 5 nền tảng chính: Lý thuyết năng lực cạnh tranh điểm đến giải thích vai trò của tài nguyên, quản trị và khả năng tạo giá trị (Ritchie và Crouch, 2003; Dwyer và Kim, 2003). Lý thuyết các bên liên quan nhấn mạnh sự tham gia, niềm tin và hợp tác giữa các chủ thể (Freeman, 1984). Tiếp cận quản lý tri thức cho rằng tri thức chỉ tạo giá trị khi được thu thập, chia sẻ và sử dụng trong đổi mới. Lý thuyết hình ảnh điểm đến giải thích vai trò của nhận thức và ấn tượng trong lựa chọn điểm đến (Baloglu và McCleary, 1999). Cuối cùng, tiếp cận chuyển đổi số trong du lịch làm rõ cách công nghệ cải thiện kết nối, trải nghiệm và hiệu quả quản trị (Buhalis, 2020).

GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Giả thuyết nghiên cứu

Quản lý sự tham gia và niềm tin

Quản lý sự tham gia tạo điều kiện để chính quyền, doanh nghiệp, hợp tác xã, nông hộ và cộng đồng cùng đóng góp ý kiến, chia sẻ thông tin và xác định trách nhiệm trong phát triển du lịch nông nghiệp. Khi quá trình tham gia được tổ chức minh bạch và lợi ích được phân chia hợp lý, các bên có xu hướng tin tưởng hơn vào cơ chế điều phối và cam kết hợp tác. Vì vậy, giả thuyết được đề xuất như sau:

H1: Quản lý sự tham gia có tác động tích cực đến Niềm tin giữa các bên liên quan.

Niềm tin và năng lực cạnh tranh

Niềm tin giúp giảm xung đột, hạn chế hành vi cơ hội, tăng chia sẻ nguồn lực và duy trì cam kết hợp tác dài hạn. Trong du lịch nông nghiệp, sự tin cậy giữa doanh nghiệp, hợp tác xã, nông hộ và cộng đồng góp phần ổn định chất lượng cung ứng và tạo trải nghiệm nhất quán cho du khách. Do đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

H2: Niềm tin có tác động tích cực đến Năng lực cạnh tranh của du lịch nông nghiệp TP. Đồng Nai.

Quản lý tri thức và thu thập tri thức

Quản lý tri thức tạo ra cơ chế để nhận diện, lưu giữ, chia sẻ và khai thác thông tin từ du khách, thị trường, cộng đồng và các mô hình du lịch thành công. Khi hoạt động quản lý tri thức được tổ chức tốt, các chủ thể có khả năng chủ động thu nhận thông tin và kinh nghiệm mới phục vụ phát triển sản phẩm. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

H3: Quản lý tri thức có tác động tích cực đến Thu thập tri thức.

Thu thập tri thức và năng lực cạnh tranh

Việc thu thập phản hồi của du khách, xu hướng thị trường, tri thức bản địa và kinh nghiệm từ các mô hình thành công giúp các chủ thể cải tiến sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ và thích ứng nhanh với nhu cầu mới. Tri thức thu thập được là đầu vào quan trọng của đổi mới trong du lịch (Hjalager, 2010). Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:

H4: Thu thập tri thức có tác động tích cực đến Năng lực cạnh tranh của du lịch nông nghiệp TP. Đồng Nai.

Hình ảnh điểm đến và năng lực cạnh tranh

Hình ảnh điểm đến phản ánh nhận thức, cảm xúc và ấn tượng của du khách về điểm đến. Một hình ảnh tích cực, rõ ràng và khác biệt giúp giảm sự bất định, tăng khả năng lựa chọn, quay lại và giới thiệu điểm đến. Đối với Đồng Nai, hình ảnh gắn với sinh thái, vườn cây, trang trại, OCOP và văn hóa cộng đồng có thể tạo cơ sở cho khác biệt hóa. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

H5: Hình ảnh điểm đến có tác động tích cực đến Năng lực cạnh tranh của du lịch nông nghiệp TP. Đồng Nai.

Chuyển đổi số và năng lực cạnh tranh

Chuyển đổi số giúp các chủ thể quảng bá sản phẩm, kết nối thị trường, cung cấp thông tin, đặt dịch vụ, thanh toán, quản lý dữ liệu và tiếp nhận phản hồi. Việc ứng dụng website, mạng xã hội, bản đồ số, mã QR và nền tảng đặt dịch vụ có thể nâng cao khả năng tiếp cận thị trường và chất lượng trải nghiệm của du khách (Buhalis, 2020). Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết như sau:

H6: Chuyển đổi số có tác động tích cực đến Năng lực cạnh tranh của du lịch nông nghiệp TP. Đồng Nai.

Vai trò trung gian của niềm tin

Quản lý sự tham gia chỉ có thể chuyển thành kết quả cạnh tranh khi quá trình tham gia tạo ra niềm tin và thúc đẩy hợp tác thực chất. Niềm tin vì vậy là cơ chế chuyển hóa hoạt động tham gia thành chia sẻ nguồn lực, phối hợp cung ứng và cải thiện chất lượng trải nghiệm. Do đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

H7: Niềm tin đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa Quản lý sự tham gia và Năng lực cạnh tranh của du lịch nông nghiệp TP. Đồng Nai.

Vai trò trung gian của thu thập tri thức

Quản lý tri thức tạo điều kiện tổ chức cho hoạt động học hỏi, nhưng tác động đến năng lực cạnh tranh chỉ hình thành rõ khi các chủ thể thực sự thu thập được tri thức có giá trị và sử dụng tri thức đó để đổi mới sản phẩm, quy trình và marketing. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

H8: Thu thập tri thức đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa Quản lý tri thức và Năng lực cạnh tranh của du lịch nông nghiệp TP. Đồng Nai.

Mô hình nghiên cứu

Từ cơ sở lý thuyết và 8 giả thuyết nghiên cứu, mô hình đề xuất gồm 7 cấu trúc. Quản lý sự tham gia và Quản lý tri thức là 2 biến tiền đề quản trị. Niềm tin và thu thập tri thức vừa là biến kết quả của các hoạt động quản lý, vừa đóng vai trò trung gian. Hình ảnh điểm đến và Chuyển đổi số là 2 nhân tố tác động trực tiếp đến Năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của du lịch nông nghiệp TP. Đồng Nai là biến phụ thuộc.

Cấu trúc thứ nhất phản ánh cơ chế quản trị các bên liên quan: Quản lý sự tham gia làm gia tăng Niềm tin, sau đó Niềm tin thúc đẩy Năng lực cạnh tranh. Cấu trúc thứ 2 phản ánh cơ chế quản lý tri thức: Quản lý tri thức thúc đẩy Thu thập tri thức, sau đó Tri thức thu thập được hỗ trợ đổi mới và nâng cao Năng lực cạnh tranh. Cấu trúc thứ 3 phản ánh cơ chế thị trường và công nghệ: Hình ảnh điểm đến và Chuyển đổi số tác động trực tiếp đến Năng lực cạnh tranh.

Mô hình có tính logic theo chuỗi nguyên nhân - cơ chế - kết quả. Quản lý sự tham gia và Quản lý tri thức không được giả định tác động trực tiếp đến Năng lực cạnh tranh mà được chuyển hóa thông qua Niềm tin và Thu thập tri thức. Cách thiết kế này giúp làm rõ vì sao hoạt động quản lý chỉ tạo ra kết quả khi hình thành được quan hệ hợp tác và nguồn tri thức có thể sử dụng. Trong khi đó, Hình ảnh điểm đến và Chuyển đổi số được xem là các năng lực thị trường và công nghệ có khả năng tác động trực tiếp đến khả năng thu hút khách, khác biệt hóa sản phẩm và nâng cao hiệu quả hoạt động.

Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của du lịch nông nghiệp tại TP. Đồng Nai

Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả

KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

Kết luận

Bài viết đã đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của du lịch nông nghiệp tại TP. Đồng Nai. Khác với cách tiếp cận liệt kê nhiều nhóm nguồn lực, mô hình tập trung vào 4 cơ chế cốt lõi: Quản trị sự tham gia, Quản lý tri thức, Hình ảnh điểm đến và Chuyển đổi số. Trong đó, Niềm tin là cơ chế chuyển hóa Quản lý sự tham gia thành Năng lực cạnh tranh; Thu thập tri thức là cơ chế chuyển hóa Quản lý tri thức thành Năng lực cạnh tranh; Hình ảnh điểm đến và Chuyển đổi số tác động trực tiếp đến Năng lực cạnh tranh.

Đóng góp lý thuyết của mô hình là kết nối góc nhìn các bên liên quan với góc nhìn tri thức, thị trường và công nghệ. Mô hình giải thích rằng, năng lực cạnh tranh không chỉ phụ thuộc vào tài nguyên hữu hình mà còn phụ thuộc vào mức độ tin cậy giữa các chủ thể, khả năng tiếp nhận tri thức mới, cách điểm đến được nhận biết và mức độ ứng dụng công nghệ số. Việc xác định rõ 2 biến trung gian giúp mô hình có logic nhân quả và tránh trùng lặp giữa các cấu trúc.

Về thực tiễn, mô hình gợi ý rằng Đồng Nai cần đồng thời cải thiện cơ chế tham gia, xây dựng niềm tin, tổ chức thu thập và chia sẻ tri thức, định vị hình ảnh du lịch nông nghiệp và nâng cao năng lực số của các chủ thể. Các giải pháp phát triển sản phẩm chỉ phát huy hiệu quả khi doanh nghiệp, hợp tác xã, nông hộ và cộng đồng có khả năng phối hợp và học hỏi. Đồng thời, hình ảnh điểm đến cần được xây dựng nhất quán dựa trên thế mạnh về sinh thái, nông nghiệp, OCOP và văn hóa bản địa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Bài viết mới dừng ở mức đề xuất mô hình. Nghiên cứu tiếp theo cần hoàn thiện và hiệu chỉnh thang đo thông qua phỏng vấn chuyên gia, khảo sát thử, sau đó thu thập dữ liệu từ cán bộ quản lý, doanh nghiệp, hợp tác xã, nông hộ và chủ thể OCOP để kiểm định 8 giả thuyết bằng PLS-SEM. Bên cạnh đó, có thể phân tích sự khác biệt giữa các nhóm chủ thể, loại hình điểm đến và bổ sung các yếu tố đặc thù như: chất lượng trải nghiệm, tính xác thực, sự tham gia của cộng đồng và liên kết chuỗi giá trị nhằm nâng cao khả năng giải thích và tính ứng dụng của mô hình.

Tài liệu tham khảo:

1. Baloglu, S., & McCleary, K. W. (1999). A model of destination image formation. Annals of Tourism Research, 26(4), 868-897. https://doi.org/10.1016/S0160-7383(99)00030-4

2. Barbieri, C., Mahoney, E., & Butler, L. (2013). Understanding the nature and extent of farm and ranch diversification in North America. Rural Sociology, 78(2), 205-229.

3. Buhalis, D. (2020). Technology in tourism: From information communication technologies to eTourism and smart tourism towards ambient intelligence tourism. Tourism Review, 75(1), 267-272.

4. Dwyer, L., & Kim, C. (2003). Destination competitiveness: Determinants and indicators. Current Issues in Tourism, 6(5), 369-414. https://doi.org/10.1080/13683500308667962

5. Freeman, R. E. (1984). Strategic management: A stakeholder approach. Pitman.

6. Hjalager, A. M. (2010). A review of innovation research in tourism. Tourism Management, 31(1), 1-12. https://doi.org/10.1016/j.tourman.2009.08.012

7. Phillip, S., Hunter, C., & Blackstock, K. (2010). A typology for defining agritourism. Tourism Management, 31(6), 754-758. https://doi.org/10.1016/j.tourman.2009.08.001

8. Ritchie, J. R. B., & Crouch, G. I. (2003). The competitive destination: A sustainable tourism perspective. CABI.

9. Tew, C., & Barbieri, C. (2012). The perceived benefits of agritourism: The provider's perspective. Tourism Management, 33(1), 215-224. https://doi.org/10.1016/j.tourman.2011.02.005

Ngày nhận bài: 25/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 30/8/2026; Ngày duyệt đăng: 17/9/2026

Các tin khác

Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý trong phát triển chính quyền số: Thực tiễn nghiên cứu tại Hà Tĩnh và hàm ý chính sách

Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý trong phát triển chính quyền số: Thực tiễn nghiên cứu tại Hà Tĩnh và hàm ý chính sách

Nếu chính phủ điện tử chủ yếu nhấn mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào các quy trình hành chính hiện hữu, thì chính quyền số đòi hỏi sự thay đổi sâu hơn về quy trình, dữ liệu, văn hóa tổ chức và quan hệ giữa cơ quan công quyền với công dân.
Hiểu biết tài chính và kiểm soát rủi ro dịch vụ mua trước trả sau của Gen Z Việt Nam

Hiểu biết tài chính và kiểm soát rủi ro dịch vụ mua trước trả sau của Gen Z Việt Nam

Mua trước trả sau cho phép người tiêu dùng nhận hàng trước rồi thanh toán sau hoặc chia thành nhiều kỳ. Sự thuận tiện này cải thiện thanh khoản ngắn hạn nhưng cũng có thể làm mờ cảm nhận về tổng nghĩa vụ.
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vùng Đông Nam Bộ trong kỷ nguyên mới

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vùng Đông Nam Bộ trong kỷ nguyên mới

Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh theo Nghị quyết số 202/2025/QH15, vùng Đông Nam Bộ gồm 3 tỉnh/thành phố: TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và tỉnh Tây Ninh, đặt ra yêu cầu mới về tái cơ cấu nguồn nhân lực để đáp ứng quy mô và tốc độ phát triển.
Mô hình nghiên cứu các thành tố tiếp thị liên kết tác động đến hành vi mua nông sản vùng miền của người tiêu dùng đô thị Việt Nam

Mô hình nghiên cứu các thành tố tiếp thị liên kết tác động đến hành vi mua nông sản vùng miền của người tiêu dùng đô thị Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số, tiếp thị liên kết được xem là một công cụ marketing số có tiềm năng lớn trong việc hỗ trợ thúc đẩy tiêu thụ nông sản thông qua mạng lưới người giới thiệu, nền tảng số và cơ chế chia sẻ lợi ích dựa trên hiệu quả chuyển đổi.
Khả năng hỗ trợ của công nghệ thông tin và niềm tin đối với nền tảng thương mại xã hội trong ngành hàng thời trang: Phương pháp SEM Bayesian

Khả năng hỗ trợ của công nghệ thông tin và niềm tin đối với nền tảng thương mại xã hội trong ngành hàng thời trang: Phương pháp SEM Bayesian

Thương mại xã hội đã trở thành một kênh bán lẻ chiếm ưu thế trong ngành hàng thời trang, nơi các quyết định mua hàng phụ thuộc vào tương tác xã hội và các tính năng của nền tảng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của người lao động với doanh nghiệp tại Công ty TNHH Tata Coffee Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của người lao động với doanh nghiệp tại Công ty TNHH Tata Coffee Việt Nam

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt và dòng chuyển dịch lao động trở nên mạnh mẽ, nguồn nhân lực đã được xác định là tài sản chiến lược quan trọng nhất của bất kỳ tổ chức nào.
Năng lực chuyển đổi số, đổi mới mô hình kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp khởi nghiệp

Năng lực chuyển đổi số, đổi mới mô hình kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp khởi nghiệp

Đối với doanh nghiệp khởi nghiệp (startup), năng lực chuyển đổi số có ý nghĩa đặc biệt do hạn chế về nguồn lực nhưng phải thích ứng nhanh với thị trường.
Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng phi chính thức của hộ kinh doanh cá thể tại TP. Hà Nội

Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng phi chính thức của hộ kinh doanh cá thể tại TP. Hà Nội

Hộ kinh doanh cá thể là một bộ phận quan trọng của khu vực kinh tế ngoài nhà nước, có vai trò tạo việc làm, duy trì sinh kế và bổ sung nguồn cung hàng hóa, dịch vụ cho nền kinh tế đô thị. Tuy nhiên, hộ kinh doanh cá thể vẫn gặp nhiều hạn chế khi tiếp cận tín dụng chính thức.
Phát triển du lịch cộng đồng gắn với văn hóa địa phương tại khu du lịch sinh thái Cồn Sơn, TP. Cần Thơ

Phát triển du lịch cộng đồng gắn với văn hóa địa phương tại khu du lịch sinh thái Cồn Sơn, TP. Cần Thơ

Trong xu thế du lịch toàn cầu, du lịch cộng đồng khẳng định vai trò là công cụ chiến lược thúc đẩy kinh tế bền vững, bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường. Cồn Sơn (Cần Thơ) là một điển hình nghiên cứu tiêu biểu tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng doanh nghiệp tại Công ty Bao bì Minh Ngọc

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng doanh nghiệp tại Công ty Bao bì Minh Ngọc

Sự hài lòng của khách hàng doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng duy trì quan hệ hợp tác và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.