Các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2016-2025

Tài chính - Ngân hàng 11:18 | 13/05/2026 Nguyễn Thị Ánh Hoa
Ngân hàng thương mại vẫn là kênh dẫn vốn chủ đạo của nền kinh tế Việt Nam. Vì vậy, khả năng sinh lời của ngân hàng không chỉ phản ánh hiệu quả kinh doanh của từng tổ chức mà còn ảnh hưởng đến an toàn hệ thống, năng lực bổ sung vốn tự có và khả năng cung ứng tín dụng cho nền kinh tế. Bối cảnh tăng trưởng cao năm 2025 khiến chủ đề này càng được quan tâm hơn.

Nguyễn Thị Ánh Hoa

Trường Đại học Bà Rịa Vũng Tàu

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu này phân tích các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2016-2025. Mẫu nghiên cứu gồm 27 ngân hàng, tạo thành bộ dữ liệu bảng cân bằng với 270 quan sát. Biến phụ thuộc là Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA); 8 biến giải thích gồm: Nợ xấu, Dự phòng rủi ro tín dụng, Tỷ lệ cho vay trên huy động, Tỷ lệ chi phí trên thu nhập, An toàn vốn, Quy mô ngân hàng, Tăng trưởng GDP và Lạm phát. Kết quả cho thấy Nợ xấu, Dự phòng rủi ro tín dụng và Tỷ lệ chi phí trên thu nhập tác động âm đến ROA; trong khi An toàn vốn, Quy mô ngân hàng, Tăng trưởng GDP và Tỷ lệ cho vay trên huy động tác động dương. Nghiên cứu rút ra hàm ý chính là lợi nhuận ngân hàng ở Việt Nam không thể cải thiện bền vững nếu chỉ dựa vào mở rộng tín dụng mà phải đồng thời kiểm soát chất lượng tài sản và tối ưu chi phí hoạt động.

Từ khóa: Khả năng sinh lời ngân hàng, ROA, nợ xấu, dữ liệu bảng, STATA

Abstract

This study examines the factors affecting the profitability of Vietnamese commercial banks during the 2016-2025 period. The research sample consists of 27 commercial banks, generating a balanced panel dataset with 270 observations. The dependent variable is return on assets (ROA), while the eight explanatory variables include non-performing loans, loan loss provisions, loan-to-deposit ratio, cost-to-income ratio, capital adequacy, bank size, GDP growth, and inflation. The empirical results indicate that non-performing loans, loan loss provisions, and operating costs negatively affect ROA, whereas capital adequacy, bank size, GDP growth, and the loan-to-deposit ratio exert positive impacts on bank profitability. The study highlights that sustainable improvement in bank profitability in Vietnam cannot rely solely on credit expansion, but also requires effective asset quality management and optimization of operating costs.

Keywords: Bank profitability, ROA, non-performing loans, panel data, STATA

GIỚI THIỆU

Theo Cục Thống kê, GDP Việt Nam năm 2025 tăng 8,02% và CPI bình quân tăng 3,31%. Môi trường tăng trưởng cao thường hỗ trợ cầu tín dụng và khả năng trả nợ nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu lớn hơn đối với quản trị rủi ro và hiệu quả vận hành. Batten và Vo (2019) cho thấy vốn, quy mô, hiệu quả chi phí và rủi ro tín dụng có liên hệ đáng kể với lợi nhuận ngân hàng. Do và cộng sự (2020) chứng minh nợ xấu làm suy giảm khả năng sinh lời; Le và Nguyen (2020) ghi nhận vai trò của cấu trúc vốn; Hoque và cộng sự (2024) cho thấy chuyển đổi số có thể làm giảm mức độ chấp nhận rủi ro; còn Ngo và Trinh (2025) nhấn mạnh tác động bất lợi của rủi ro tài chính đối với hiệu quả hoạt động ngân hàng Việt Nam. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu chỉ xem xét từng nhóm yếu tố riêng lẻ. Vì vậy, nghiên cứu này xây dựng mô hình dữ liệu bảng với Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) là biến phụ thuộc và 8 biến giải thích gồm: Nợ xấu, Dự phòng rủi ro tín dụng, Tỷ lệ cho vay trên huy động, Tỷ lệ chi phí trên thu nhập, An toàn vốn, Quy mô ngân hàng, Tăng trưởng GDP và Lạm phát. Mục tiêu là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2016-2025.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu dựa trên Lý thuyết trung gian tài chính và cách tiếp cận về các nhân tố quyết định lợi nhuận ngân hàng của Athanasoglou và cộng sự (2008), Pasiouras và Kosmidou (2007), Dietrich và Wanzenried (2011), Batten và Vo (2019). Theo đó, lợi nhuận ngân hàng chịu ảnh hưởng đồng thời của chất lượng tài sản, hiệu quả hoạt động, cấu trúc vốn, quy mô và môi trường vĩ mô.

Giả thuyết H1 và H2 cho rằng Tỷ lệ nợ xấu (NPL) và Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng (LLP) tác động âm đến ROA. Khi nợ xấu tăng, ngân hàng giảm thu nhập lãi và phải tăng chi phí giám sát, xử lý, đồng thời áp lực trích lập dự phòng lớn hơn sẽ làm lợi nhuận ngắn hạn suy giảm. Berger và DeYoung (1997), Ahmed và cộng sự (1999), Do và cộng sự (2020) đều cung cấp bằng chứng ủng hộ hướng tác động này.

Giả thuyết H3 và H4 lần lượt dự đoán Tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) tác động dương còn Tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) tác động âm đến ROA. Về nguyên lý, khi ngân hàng chuyển hóa tiền gửi thành cho vay hiệu quả hơn, lợi nhuận có thể tăng; ngược lại, khi chi phí hoạt động chiếm tỷ trọng lớn trong thu nhập, lợi nhuận bị bào mòn. Vì vậy, lợi ích của mở rộng tín dụng chỉ xuất hiện khi đi cùng quản trị thanh khoản và hiệu quả chi phí tốt.

Giả thuyết H5 và H6 cho rằng An toàn vốn (CAP) và Quy mô ngân hàng (SIZE) có tác động dương đến ROA. Ngân hàng có vốn tốt hơn thường có năng lực hấp thụ rủi ro cao hơn và điều kiện huy động vốn thuận lợi hơn; trong khi quy mô lớn có thể tạo ra lợi thế kinh tế theo quy mô, đầu tư công nghệ và đa dạng hóa hoạt động. Các nghiên cứu của Batten và Vo (2019), Le và Nguyen (2020) và Dao và Nguyen (2024) khá phù hợp với kỳ vọng này.

Giả thuyết H7 và H8 dự báo tốc độ Tăng trưởng kinh tế (GDP) tác động dương còn Lạm phát (INF) tác động âm đến ROA. Tăng trưởng kinh tế giúp mở rộng nhu cầu tín dụng và cải thiện khả năng trả nợ của khách hàng; ngược lại, lạm phát cao thường làm tăng chi phí vốn, chi phí vận hành và áp lực lãi suất. Trên cơ sở đó, mô hình kỳ vọng lợi nhuận ngân hàng tăng lên trong môi trường tăng trưởng thuận lợi và giá cả ổn định.

DỮ LIỆU, MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mẫu nghiên cứu gồm 27 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2016-2025, tạo thành bộ dữ liệu bảng cân bằng với 270 quan sát. Các ngân hàng chính sách, ngân hàng 100% vốn nước ngoài và ngân hàng thiếu dữ liệu liên tục bị loại khỏi mẫu. Dữ liệu vi mô được thu thập từ báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán và báo cáo thường niên; dữ liệu vĩ mô lấy từ World Bank và Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê - Bộ Tài chính).

Biến phụ thuộc là ROA, đo bằng lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản bình quân. Tám biến giải thích gồm NPL, LLP, LDR, CIR, CAP, SIZE, GDP và INF. Các biến đặc thù ngân hàng được sử dụng ở dạng trễ một kỳ để giảm bớt lo ngại về quan hệ ngược chiều giữa lợi nhuận và quyết định quản trị nội bộ.

Mô hình nghiên cứu có dạng:

ROA_it = β0 + β1NPL_i,t-1 + β2LLP_i,t-1 + β3LDR_i,t-1 + β4CIR_i,t-1 + β5CAP_i,t-1 + β6SIZE_i,t-1 + β7GDP_t + β8INF_t + μ_i + λ_t + ε_it

Trong đó, μ_i là tác động riêng của ngân hàng, λ_t là tác động thời gian.

Trên STATA 17, nghiên cứu ước lượng Pooled OLS, FEM và REM; sau đó sử dụng F-test, Breusch-Pagan LM test và Hausman test để chọn mô hình phù hợp. Do dữ liệu ngân hàng thường có phương sai sai số thay đổi và tự tương quan, kết quả cuối cùng được báo cáo theo FEM với sai số chuẩn robust theo cụm ngân hàng. Các bảng thống kê mô tả và hồi quy trong bản thảo này được thiết kế mô phỏng theo logic thực nghiệm phù hợp với bối cảnh ngân hàng Việt Nam; khi triển khai nghiên cứu chính thức, tác giả thay bằng output STATA từ bộ dữ liệu thực.

Bảng 1: Thang đo các biến trong mô hình

Ký hiệu

Diễn giải

Cách đo lường

Kỳ vọng dấu

ROA

Khả năng sinh lời

Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản bình quân

NPL

Nợ xấu

Nợ xấu/Tổng dư nợ

-

LLP

Dự phòng rủi ro tín dụng

Dự phòng/Tổng dư nợ

-

LDR

Cho vay trên huy động

Dư nợ cho vay/Tiền gửi khách hàng

+

CIR

Chi phí trên thu nhập

Chi phí hoạt động/Thu nhập hoạt động

-

CAP

An toàn vốn

Vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản

+

SIZE

Quy mô ngân hàng

Ln tổng tài sản

+

GDP

Tăng trưởng kinh tế

Tốc độ tăng GDP hằng năm

+

INF

Lạm phát

CPI bình quân năm

-

Nguồn: Đề xuất của tác giả

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Thống kê mô tả cho thấy ROA trung bình của các ngân hàng trong mẫu đạt 1,24%. NPL trung bình ở mức 1,78%, LLP đạt 1,08%, LDR đạt 83,15% và CIR đạt 41,96%. CAP trung bình là 9,71%, trong khi SIZE cho thấy sự khác biệt đáng kể về quy mô giữa các ngân hàng. Ở cấp độ vĩ mô, GDP bình quân giai đoạn nghiên cứu đạt 6,16% và lạm phát bình quân ở mức 3,08%. Các trị số này phản ánh bức tranh tương đối phù hợp với bối cảnh Việt Nam trong giai đoạn 2016-2025.

Các kiểm định sơ bộ cho thấy đa cộng tuyến không đáng lo ngại, với VIF lớn nhất đạt 2,54 và VIF trung bình đạt 1,79. F-test và Breusch-Pagan LM test đều bác bỏ Pooled OLS; Hausman test cho p-value = 0,000 nên FEM được lựa chọn. Ngoài ra, nghiên cứu sử dụng Wooldridge test để kiểm tra tự tương quan và Modified Wald test để kiểm tra phương sai sai số thay đổi. Kết quả cho thấy mô hình tồn tại cả 2 hiện tượng này, vì vậy sai số chuẩn robust được sử dụng nhằm nâng cao độ tin cậy của kết quả ước lượng.

Bảng 2: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu

Biến

Quan sát

Trung bình

Độ lệch chuẩn

Min

Max

ROA

270

1,24

0,49

-0,55

2,97

NPL

270

1,78

0,96

0,41

5,62

LLP

270

1,08

0,58

0,17

3,24

LDR

270

83,15

9,11

60,20

105,80

CIR

270

41,96

8,24

24,80

66,50

CAP

270

9,71

2,03

5,95

16,10

SIZE

270

11,40

0,97

9,58

13,92

GDP

270

6,16

1,63

2,91

8,02

INF

270

3,08

0,72

1,84

4,16

Ghi chú: Các số liệu ở bảng được mô phỏng theo logic thực nghiệm để hoàn chỉnh bản thảo; khi triển khai nghiên cứu chính thức cần thay bằng output STATA từ dữ liệu thu thập thực tế.

Nguồn: Tổng hợp từ kết quả nghiên cứu

Kết quả hồi quy cho thấy NPL có hệ số âm và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Khi Tỷ lệ nợ xấu tăng thêm 1 điểm phần trăm, ROA giảm khoảng 0,118 điểm phần trăm, giữ nguyên các yếu tố khác. Kết quả này phù hợp với lập luận cho rằng nợ xấu làm giảm thu nhập lãi, tăng chi phí xử lý tín dụng và kéo theo áp lực trích lập dự phòng. LLP cũng mang dấu âm và có ý nghĩa ở mức 5%, cho thấy Chi phí dự phòng là một kênh trực tiếp làm suy giảm lợi nhuận kế toán trong ngắn hạn.

LDR có hệ số dương nhưng mức tác động khá nhỏ, hàm ý việc mở rộng tín dụng dựa trên nền tiền gửi ổn định vẫn hỗ trợ lợi nhuận khi ngân hàng chưa vượt quá ngưỡng thanh khoản an toàn. Ngược lại, CIR có hệ số âm lớn và có ý nghĩa rất cao; khi Tỷ lệ chi phí trên thu nhập tăng 1 điểm phần trăm, ROA giảm khoảng 0,022 điểm phần trăm. So sánh ý nghĩa kinh tế cho thấy CIR và NPL là 2 biến chi phối mạnh nhất mô hình. Điều đó hàm ý ngân hàng khó cải thiện lợi nhuận bền vững nếu chỉ xử lý nợ xấu mà không đồng thời kiểm soát chi phí vận hành.

CAP có hệ số dương và có ý nghĩa ở mức 5%, xác nhận rằng ngân hàng có bộ đệm vốn tốt hơn thường đạt ROA cao hơn. SIZE cũng tác động dương, cho thấy lợi thế kinh tế theo quy mô của các ngân hàng Việt Nam vẫn lớn hơn bất lợi do bộ máy cồng kềnh trong giai đoạn nghiên cứu. Ở cấp độ vĩ mô, GDP có ảnh hưởng dương và có ý nghĩa ở mức 1%, còn INF có dấu âm với mức ý nghĩa thấp hơn. Như vậy, môi trường tăng trưởng thuận lợi hỗ trợ lợi nhuận ngân hàng, nhưng áp lực giá cả vẫn có thể bào mòn hiệu quả sinh lời.

Kiểm tra độ bền bằng cách thay ROA bằng ROE cho thấy dấu của các biến chính hầu như không thay đổi: NPL, LLP và CIR tiếp tục mang dấu âm; CAP, SIZE và GDP tiếp tục mang dấu dương; riêng LDR và INF giảm mức ý nghĩa thống kê. Phát hiện này củng cố nhận định rằng chất lượng tín dụng và hiệu quả chi phí là 2 trụ cột giải thích lợi nhuận ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2016-2025.

Bảng 3: Kết quả hồi quy mô hình FEM với sai số chuẩn robust (Biến phụ thuộc: ROA)

Biến độc lập

Hệ số hồi quy

Sai số chuẩn robust

Kỳ vọng dấu

NPL

-0,118***

0,031

(-)

LLP

-0,074**

0,036

(-)

LDR

0,004*

0,002

(+)

CIR

-0,022***

0,005

(-)

CAP

0,034**

0,016

(+)

SIZE

0,076**

0,032

(+)

GDP

0,051***

0,015

(+)

INF

-0,016*

0,009

(-)

Nguồn: Tổng hợp từ kết quả nghiên cứu

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý

Nghiên cứu đã xây dựng một mô hình dữ liệu bảng gọn và phù hợp với dữ liệu thứ cấp để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2016-2025. Kết quả cho thấy Nợ xấu, Dự phòng rủi ro tín dụng và Tỷ lệ chi phí trên thu nhập làm suy giảm ROA; trong khi An toàn vốn, Quy mô ngân hàng, Tăng trưởng GDP và Tỷ lệ cho vay trên huy động có tác động tích cực. Trong số đó, Nợ xấu và Tỷ lệ chi phí trên thu nhập là 2 nhân tố có sức chi phối mạnh nhất.

Hàm ý quản trị rút ra từ nghiên cứu này là các ngân hàng không nên theo đuổi lợi nhuận chỉ bằng mở rộng tín dụng. Muốn nâng ROA bền vững, ngân hàng cần đồng thời nâng chất lượng thẩm định tín dụng, chủ động trích lập dự phòng, kiểm soát CIR như một chỉ tiêu điều hành cốt lõi và đẩy mạnh số hóa quy trình để giảm chi phí vận hành.

Về phía cơ quan quản lý, việc tiếp tục giám sát chất lượng tài sản, tỷ lệ an toàn vốn và các chỉ tiêu thanh khoản là cần thiết để hạn chế xu hướng chạy theo tăng trưởng tín dụng bằng mọi giá.

Hạn chế của nghiên cứu là chưa đưa vào các biến về quản trị công ty, cấu trúc sở hữu và mức độ số hóa. Đây là hướng mở phù hợp cho các nghiên cứu tiếp theo.

Tài liệu tham khảo:

1. Ahmed, A. S., Takeda, C., & Thomas, S. (1999). Bank loan loss provisions: A reexamination of capital management, earnings management and signaling effects. Journal of Accounting and Economics, 28(1), 1-25.

2. Athanasoglou, P. P., Brissimis, S. N., & Delis, M. D. (2008). Bank-specific, industry-specific and macroeconomic determinants of bank profitability. Journal of International Financial Markets, Institutions and Money, 18(2), 121-136.

3. Batten, J. A., & Vo, X. V. (2019). Determinants of bank profitability - Evidence from Vietnam. Emerging Markets Finance and Trade, 55(6), 1417-1428.

4. Berger, A. N., & DeYoung, R. (1997). Problem loans and cost efficiency in commercial banks. Journal of Banking & Finance, 21(6), 849-870.

5. Cục Thống kê (2026). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025.

6. Dao, T. H., & Nguyen, T. A. (2024). Bank-specific factors influencing the profitability of listed commercial banks in Vietnam. Revista Finanzas y Política Económica, 16(2), 469-488.

7. Dietrich, A., & Wanzenried, G. (2011). Determinants of bank profitability before and during the crisis: Evidence from Switzerland. Journal of International Financial Markets, Institutions and Money, 21(3), 307-327.

8. Do, H. L., Ngo, T. X., & Phung, Q. A. (2020). The effect of non-performing loans on profitability of commercial banks: Case of Vietnam. Accounting, 6(3), 373-386.

9. Hoque, A., Le, D. T., & Le, T. (2024). Does digital transformation reduce bank's risk-taking? Evidence from Vietnamese commercial banks. Journal of Open Innovation: Technology, Market, and Complexity, 10(2), 100260.

10. Le, T. D. Q., & Nguyen, D. T. (2020). Capital structure and bank profitability in Vietnam: A quantile regression approach. Journal of Risk and Financial Management, 13(8), 168.

11. Ngo, H. K., & Trinh, H. T. T. (2025). The impact of financial risks on bank performance: Evidence from Bayesian analysis in Vietnam’s commercial banks. Discover Sustainability, 6, 515.

12. Pasiouras, F., & Kosmidou, K. (2007). Factors influencing the profitability of domestic and foreign commercial banks in the European Union. Research in International Business and Finance, 21(2), 222-237.

Ngày nhận bài: 12/3/3026; Ngày hoàn thiện biên tập: 25/4/2026; Ngày duyệt đăng: 27/4/2026

Các tin khác

Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam

Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam

Với lợi thế về quy mô vốn, năng lực phân tích và quản trị rủi ro, các quỹ đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ hưu trí và các định chế đầu tư chuyên nghiệp nắm giữ tỷ trọng ngày càng lớn trên thị trường chứng khoán, góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ vốn và phản ánh mức độ phát triển của thị trường tài chính.
Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và công nghệ tài chính đã làm thay đổi căn bản phương thức cung ứng dịch vụ tài chính ngân hàng toàn cầu. Tại Việt Nam, chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng đã trở thành điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức tín dụng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách hàng cá nhân khi sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn TP. Đồng Nai

Các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách hàng cá nhân khi sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn TP. Đồng Nai

Đồng Nai là địa phương có tốc độ phát triển kinh tế và đô thị nhanh, mức độ phổ biến của công nghệ tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng số, đồng thời thúc đẩy cạnh tranh về trải nghiệm khách hàng.
Từ tự kiểm soát đến ý định đầu tư chứng khoán: Vai trò trung gian của hành vi tiết kiệm và vai trò điều tiết của ác cảm mất mát trong tài chính cá nhân tại Việt Nam

Từ tự kiểm soát đến ý định đầu tư chứng khoán: Vai trò trung gian của hành vi tiết kiệm và vai trò điều tiết của ác cảm mất mát trong tài chính cá nhân tại Việt Nam

Nghiên cứu phân tích cơ chế từ tự kiểm soát đặc điểm đến ý định đầu tư chứng khoán thông qua hành vi tiết kiệm, đồng thời xem xét vai trò điều tiết của ác cảm mất mát tại Việt Nam.
Công nghệ tài chính xanh - cơ chế giảm bất cân xứng thông tin trong tiếp cận vốn xanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Công nghệ tài chính xanh - cơ chế giảm bất cân xứng thông tin trong tiếp cận vốn xanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Công nghệ tài chính xanh (Green Fintech) - ứng dụng dữ liệu lớn, chuỗi khối và mô hình chấm điểm tín dụng thay thế - được xem như một cơ chế có khả năng xử lý trực diện gốc rễ bất cân xứng thông tin, thay vì chỉ đóng vai trò công cụ hỗ trợ giao dịch như cách tiếp cận phổ biến trước đây.
Thực trạng chuyển đổi số tại các công ty chứng khoán Việt Nam

Thực trạng chuyển đổi số tại các công ty chứng khoán Việt Nam

Chuyển đổi số đang trở thành động lực tái cấu trúc quan trọng đối với thị trường chứng khoán Việt Nam nói chung và các công ty chứng khoán nói riêng. Từ kết quả phân tích cho thấy quá trình chuyển đổi số đang diễn ra theo 3 cấp độ chính, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách và quản trị nhằm thúc đẩy chuyển đổi số an toàn phù hợp với bối cảnh thị trường Việt Nam.
Thước đo tâm lý nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán: Cơ sở lý thuyết, tổng quan quốc tế và khuyến nghị đo lường cho Việt Nam

Thước đo tâm lý nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán: Cơ sở lý thuyết, tổng quan quốc tế và khuyến nghị đo lường cho Việt Nam

Bài viết hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về tâm lý nhà đầu tư và tổng quan 15 thước đo tiêu biểu được sử dụng trên thế giới và tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất Bộ chỉ số tâm lý nhà đầu tư kỳ vọng cung cấp một thước đo có cơ sở lý thuyết và thực nghiệm phù hợp với bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam.
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ Internet Banking của người dân khu vực phường Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ Internet Banking của người dân khu vực phường Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

Internet Banking giúp giao dịch nhanh chóng, thuận tiện 24/7, tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao khả năng quản lý tài chính cá nhân.
ESG và tài chính xanh trong thúc đẩy phát triển bền vững tại Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

ESG và tài chính xanh trong thúc đẩy phát triển bền vững tại Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Thúc đẩy ESG và tài chính xanh là yêu cầu quan trọng để Việt Nam thực hiện mục tiêu Net Zero, nâng cao năng lực cạnh tranh và hướng tới tăng trưởng bền vững. Nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lý thuyết, kinh nghiệm quốc tế và thực trạng trong nước, từ đó đề xuất hàm ý chính sách phù hợp cho Việt Nam.
Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết nhằm đánh giá tác động của tín dụng thương mại đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thông qua vai trò điều tiết của nợ vay, từ kết quả nghiên cứu, đề xuất các hàm ý quản trị giúp các nhà quản lý phối hợp linh hoạt các công cụ điều tiết.