Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ trên địa bàn TP. Hà Nội và giải pháp tăng cường hỗ trợ

Nghiên cứu - Trao đổi 17:11 | 25/09/2026
Hà Nội là địa phương có số lượng doanh nghiệp đứng thứ hai cả nước, đồng thời là một trong ba địa phương có mật độ doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ cao nhất cả nước

ThS. NCS. Nguyễn Như Nguyệt (Tác giả chính)

Trường Đại học Đông Đô; Email: [email protected]

TS. Lê Văn Chiến (Tác giả liên hệ)

Trường Đại học Đông Đô; Email: [email protected]

TS. Nguyễn Xuân Hoản

Trường Đại học Đông Đô; Email: [email protected]

TS. Từ Thị Xuyến

Trường Đại học Đông Đô; Email: [email protected]

Tóm tắt

Doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ có vai trò quan trọng trong tạo việc làm, giảm nghèo và tăng trưởng bao trùm tại Hà Nội, song vẫn đối mặt nhiều rào cản về vốn, quản trị, công nghệ và kết nối thị trường, trong khi chính sách hỗ trợ chưa tương xứng tiềm năng. Bài viết dùng phương pháp định tính kết hợp phân tích số liệu thứ cấp để đánh giá thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ tại Hà Nội. Kết quả cho thấy số doanh nghiệp nữ và hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp tăng trưởng tích cực qua các năm, song tiếp cận tín dụng chính thức và chuyển đổi số vẫn hạn chế. Bài viết đề xuất giải pháp về tín dụng, đào tạo, chuyển đổi số, cơ sở dữ liệu và hoàn thiện chính sách nhằm tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nữ tại Hà Nội.

Từ khoá: Chuyển đổi số, doanh nghiệp nhỏ và vừa, Hà Nội, hỗ trợ doanh nghiệp, phụ nữ làm chủ doanh nghiệp

Abstract

Women-owned small and medium enterprises (SMEs) play a key role in job creation, poverty reduction and inclusive growth in Hanoi, yet still face barriers in capital, management, technology and market access, while support policies remain below potential. This paper applies a qualitative approach combined with secondary-data analysis to assess factors influencing support for women-owned SMEs in Hanoi. Findings show a positive growth trend in women-owned enterprises and start-up support activities over the years, though access to formal credit and digital transformation remain limited. The paper proposes solutions on credit, training, digital transformation, data systems and policy refinement to strengthen support for women-owned SMEs in Hanoi.

Keywords: Business support, Digital transformation, Hanoi, Small and medium enterprises, Women-owned enterprises.

GIỚI THIỆU

Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) hiện chiếm gần 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam và đóng góp trên 60% GDP (Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Tổng cục Thống kê, 2024). Trong đó, DNNVV do phụ nữ làm chủ chiếm khoảng 20-24% tổng số doanh nghiệp cả nước, tăng bình quân không dưới 2%/năm trong giai đoạn 2012-2022, cao hơn tốc độ tăng chung của khu vực doanh nghiệp (ADB & Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2023). Đây là lực lượng có vai trò quan trọng cả về kinh tế (tạo việc làm, giảm nghèo) lẫn xã hội, khi gắn liền với đầu tư nhiều hơn cho y tế, giáo dục trẻ em, qua đó thúc đẩy bình đẳng giới (ADB & Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2023).

Hà Nội là địa phương có số lượng doanh nghiệp đứng thứ hai cả nước, với hơn 215 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động tính đến quý I năm 2025 (Sở Tài chính Hà Nội, 2025), đồng thời là một trong ba địa phương có mật độ DNNVV do phụ nữ làm chủ cao nhất cả nước (VCCI & USAID, 2015). Từ năm 2017, Thành phố đã triển khai Đề án Hỗ trợ phụ nữ Thủ đô khởi nghiệp giai đoạn 2018-2025 nhằm cụ thể hoá Đề án 939/QĐ-TTg, qua đó Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) Hà Nội đã triển khai nhiều chương trình đào tạo, tín chấp vốn vay và kết nối thị trường cho phụ nữ khởi nghiệp.

Tuy vậy, thực tiễn triển khai vẫn còn khoảng trống: DNNVV do phụ nữ làm chủ tại Hà Nội phần lớn quy mô siêu nhỏ và nhỏ; khả năng tiếp cận tín dụng, công nghệ và chuỗi cung ứng còn hạn chế; thiếu cơ sở dữ liệu tách biệt theo giới ở cấp địa phương để hoạch định chính sách sát thực tế (Cục Phát triển doanh nghiệp & ADB, 2023). Trong khi phần lớn nghiên cứu hiện có tập trung ở cấp quốc gia, bài viết thu hẹp phạm vi phân tích về Hà Nội, sử dụng số liệu thứ cấp cập nhật đến năm 2025 để đánh giá đồng thời kết quả hỗ trợ và các yếu tố thể chế, nguồn lực, năng lực nội tại, văn hoá xã hội chi phối hiệu quả hỗ trợ.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Lý thuyết nguồn lực doanh nghiệp (Resource-Based View - RBV) do Barney (1991) đề xuất là nền tảng lý luận phổ biến nhất khi phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Theo Barney (1991), lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp bắt nguồn từ việc sở hữu và khai thác hiệu quả các nguồn lực có giá trị, hiếm, khó bị sao chép và khó thay thế, bao gồm cả nguồn lực hữu hình (vốn tài chính, công nghệ) và vô hình (tri thức quản trị, mạng lưới quan hệ, thương hiệu). Vận dụng vào bối cảnh doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, những hạn chế trong việc tiếp cận vốn, công nghệ và mạng lưới kinh doanh chính là những điểm nghẽn về nguồn lực khiến năng lực cạnh tranh của nhóm doanh nghiệp này thường thấp hơn so với mặt bằng chung.

Bên cạnh RBV, khung phân tích 5M của Brush và cộng sự (2009) - mở rộng từ mô hình 3M truyền thống (Market - thị trường, Money - vốn, Management - quản trị) bằng cách bổ sung hai yếu tố Motherhood (vai trò làm mẹ, gia đình) và Macro/meso environment (môi trường thể chế vĩ mô và hệ sinh thái hỗ trợ) - cung cấp một cách tiếp cận đặc thù giới (gender-aware) để lý giải vì sao doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ đối mặt với những rào cản khác biệt so với doanh nghiệp do nam giới làm chủ. Theo Brush và cộng sự (2009), hiệu quả kinh doanh của phụ nữ không chỉ phụ thuộc vào ba yếu tố thị trường - vốn - quản trị như lý thuyết truyền thống, mà còn chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi vai trò kép trong gia đình và bởi mức độ thân thiện của thể chế, chính sách đối với doanh nhân nữ.

Ở cấp độ thể chế, lý thuyết thể chế của North (1990) nhấn mạnh rằng hoạt động kinh tế của cá nhân và doanh nghiệp chịu sự chi phối của cả thể chế chính thức (luật pháp, chính sách, quy định hành chính) lẫn thể chế phi chính thức (chuẩn mực xã hội, tập quán, định kiến giới). Vận dụng lý thuyết này, các chính sách hỗ trợ chính thức như Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 hay Đề án 939/QĐ-TTg (2017) chỉ có thể phát huy hiệu quả tối đa khi đi kèm với sự thay đổi trong nhận thức xã hội về vai trò kinh tế của phụ nữ.

Cuối cùng, khung lý thuyết trao quyền kinh tế của Kabeer (1999) mô tả quá trình trao quyền như một chuỗi tương tác giữa nguồn lực (resources), năng lực hành động (agency) và thành quả đạt được (achievements). Theo đó, việc hỗ trợ vốn, tri thức và mạng lưới (nguồn lực) chỉ chuyển hoá thành kết quả kinh doanh thực chất (thành quả) khi phụ nữ có đủ năng lực hành động, tức là quyền tự chủ ra quyết định trong gia đình và xã hội. Khung lý thuyết này giúp lý giải vì sao hai doanh nghiệp nhận được cùng một gói hỗ trợ tài chính có thể đạt hiệu quả khác nhau, tuỳ thuộc vào mức độ tự chủ của chủ doanh nghiệp nữ.

Kế thừa 4 nền tảng lý thuyết trên, bài viết xây dựng khung phân tích gồm 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động hỗ trợ DNNVV do phụ nữ làm chủ tại Hà Nội: (1) nhóm yếu tố thể chế - chính sách (mức độ hoàn thiện, độ phủ và khả năng tiếp cận chính sách hỗ trợ chính thức); (2) nhóm yếu tố nguồn lực (vốn, công nghệ, mặt bằng sản xuất kinh doanh); (3) nhóm yếu tố năng lực nội tại doanh nghiệp (trình độ quản trị, kỹ năng số, khả năng kết nối thị trường); và (4) nhóm yếu tố văn hoá - xã hội - gia đình (vai trò kép, định kiến giới, mức độ tự chủ của phụ nữ trong ra quyết định kinh doanh).

Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, kết hợp thống kê mô tả và phân tích chuỗi thời gian trên cơ sở số liệu thứ cấp. Phạm vi không gian giới hạn ở Thành phố Hà Nội; phạm vi thời gian là giai đoạn 2020-2025 (số liệu năm 2025 cập nhật đến 5 tháng đầu năm đối với số liệu đăng ký doanh nghiệp).

Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ bốn nhóm nguồn chính thức: (i) số liệu đăng ký doanh nghiệp do Sở Tài chính Hà Nội và Cục Thống kê Hà Nội công bố; (ii) Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam các năm 2022, 2024 và Sách trắng về DNNVV do phụ nữ làm chủ ở Việt Nam (Bộ Kế hoạch và Đầu tư & ADB, 2023); (iii) báo cáo hoạt động của Hội LHPN Hà Nội về Đề án Hỗ trợ phụ nữ Thủ đô khởi nghiệp giai đoạn 2018-2025; và (iv) các nghiên cứu, báo cáo chính sách liên quan.

Trên cơ sở đó, bài viết áp dụng thống kê mô tả để hệ thống hoá số liệu theo chuỗi thời gian 2020-2025, so sánh xu hướng Hà Nội với cả nước, và phân tích định tính để luận giải phát hiện dựa trên bốn nhóm yếu tố trong khung lý thuyết đã trình bày ở phần cơ sở lý thuyết.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Kết quả nghiên cứu

Số liệu đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2020-2025 cho thấy xu hướng phục hồi và tăng trưởng khá rõ nét sau giai đoạn suy giảm do đại dịch COVID-19. Bảng 1 tổng hợp số doanh nghiệp thành lập mới và vốn đăng ký theo từng năm.

Bảng 1: Số doanh nghiệp thành lập mới trên địa bàn Hà Nội, giai đoạn 2020-2025

Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ trên địa bàn TP. Hà Nội và giải pháp tăng cường hỗ trợ

* Số liệu năm 2025 tính đến hết tháng 5/2025. ** Số liệu doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh năm 2023 theo Niên giám thống kê Hà Nội, khác với chỉ tiêu tổng số doanh nghiệp đăng ký còn hiệu lực.

Hình 1: Xu hướng số doanh nghiệp thành lập mới tại Hà Nội, 2020-2024

Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ trên địa bàn TP. Hà Nội và giải pháp tăng cường hỗ trợ

Nguồn: Tổng hợp từ Sở Tài chính Hà Nội/Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội (các báo cáo tình hình đăng ký doanh nghiệp năm 2020, 2021, 2022, 2023, 2024, 2025) và Cục Thống kê thành phố Hà Nội (Niên giám thống kê Hà Nội 2020-2024).

Như thể hiện tại Bảng 1 và Hình 1, số doanh nghiệp thành lập mới tại Hà Nội giảm từ 26.578 doanh nghiệp (2020) xuống 24.100 doanh nghiệp (2021) do tác động của đại dịch COVID-19, sau đó phục hồi và tăng liên tục lên 29.600 doanh nghiệp (2022), 31.660 doanh nghiệp (2023) và 31.892 doanh nghiệp (2024). Riêng 5 tháng đầu năm 2025, Hà Nội đã có 11.600 doanh nghiệp thành lập mới, giảm nhẹ 7,2% so với cùng kỳ năm 2024, phản ánh môi trường kinh doanh còn nhiều thách thức trong ngắn hạn (Chi cục Thống kê Hà Nội, 2025).

Do chưa có bộ số liệu thống kê tách biệt theo giới tính chủ doanh nghiệp ở cấp độ Hà Nội được công bố định kỳ, bài viết sử dụng tỷ lệ tham chiếu khoảng 20% từ số liệu quốc gia (ADB & Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2023) kết hợp với nhận định Hà Nội là một trong ba địa phương có mạng lưới doanh nhân nữ hoạt động hiệu quả nhất cả nước (VCCI & USAID, 2015) để ước lượng rằng trong khoảng 31,9 nghìn doanh nghiệp thành lập mới tại Hà Nội năm 2024, có thể có tới 6.000-7.500 doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ hoặc có phụ nữ tham gia sở hữu, phù hợp với xu hướng 51% doanh nghiệp cả nước có phụ nữ trong cơ cấu chủ sở hữu công bố năm 2024 (Minh Châu, 2024). Bảng 2 trình bày kết quả hoạt động hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp do Hội LHPN Hà Nội triển khai.

Bảng 2: Kết quả hoạt động hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp của Hội LHPN Hà Nội

Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ trên địa bàn TP. Hà Nội và giải pháp tăng cường hỗ trợ

Hình 2: Số lượt phụ nữ được Hội LHPN Hà Nội hỗ trợ khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp

Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ trên địa bàn TP. Hà Nội và giải pháp tăng cường hỗ trợ

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của Hội LHPN Hà Nội và Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp và Hỗ trợ phát triển phụ nữ Hà Nội (2023, 2024, 2025).

Số liệu tại Bảng 2 cho thấy hoạt động hỗ trợ của Hội LHPN Hà Nội đã đạt được những kết quả cụ thể: năm 2022, các cấp Hội đã hỗ trợ 799 phụ nữ khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp, trong đó 112 phụ nữ thành lập doanh nghiệp mới, đạt trên 200% chỉ tiêu đề ra (Báo Hà Nội Mới, 2023); riêng 9 tháng đầu năm 2023 đã hỗ trợ 724 phụ nữ khởi sự kinh doanh, tín chấp trên 8.152 tỷ đồng vốn phát triển kinh tế và hướng dẫn thành lập mới 5 hợp tác xã do phụ nữ quản lý. Tính luỹ kế theo Đề án Hỗ trợ phụ nữ Thủ đô khởi nghiệp giai đoạn 2018-2025, đã có 5.250 phụ nữ được hỗ trợ khởi sự kinh doanh, 37 hợp tác xã và 42 tổ hợp tác, nhóm liên kết do phụ nữ quản lý được hỗ trợ thành lập, cùng hơn 14.300 lượt doanh nhân nữ được hỗ trợ xúc tiến thương mại (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025).

Về khía cạnh chuyển đổi số, hơn 10.000 nữ chủ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh tại Hà Nội đã được trang bị kiến thức về quản trị kinh doanh, xây dựng thương hiệu và thương mại điện tử; hơn 11.000 phụ nữ khởi nghiệp được kết nối, hỗ trợ ứng dụng công nghệ cao và chuyển đổi số (Hội LHPN Hà Nội, 2024). Tuy vậy, đối chiếu với số liệu quốc gia tại Bảng 3, có thể thấy khoảng cách còn khá lớn giữa số lượng doanh nghiệp nữ hiện có và tỷ lệ thực sự đã hoàn thành chuyển đổi số.

Bảng 3: Một số chỉ số về DNNVV do phụ nữ làm chủ tại Việt Nam (số liệu tham chiếu cấp quốc gia)

Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ trên địa bàn TP. Hà Nội và giải pháp tăng cường hỗ trợ

Nguồn: Tổng hợp từ ADB & Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2023); Thy Lê (2024); Minh Châu (2024); Trần Quang Vinh (2024); Việt Nam Hội nhập (2019).

Bảng 3 cho thấy chỉ khoảng 28% DNNVV do phụ nữ làm chủ trên cả nước đang thực hiện chuyển đổi số, trong khi hình thức phổ biến nhất mới dừng ở mức ứng dụng phần mềm quản trị văn phòng cơ bản, chưa nhiều doanh nghiệp tiếp cận các nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới hay công nghệ sản xuất hiện đại (Nguyễn Thị Thanh Tâm, 2025). Mặc dù trình độ học vấn của chủ doanh nghiệp nữ khá cao (68,6% có trình độ đại học và thạc sĩ) (Trần Quang Vinh, 2024). Tuy nhiên, đa số doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ vẫn thuộc quy mô siêu nhỏ và nhỏ, số doanh nghiệp quy mô lớn có năng lực dẫn dắt chuỗi cung ứng còn rất ít (Báo Nhân Dân, 2024).

Thảo luận kết quả nghiên cứu

Đối chiếu kết quả nghiên cứu với khung lý thuyết 4 nhóm yếu tố đã xây dựng, có thể rút ra một số nhận định về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động hỗ trợ DNNVV do phụ nữ làm chủ tại Hà Nội.

Về thể chế - chính sách, Hà Nội là một trong số ít địa phương đã cụ thể hoá Đề án 939/QĐ-TTg thành đề án riêng cấp thành phố (Đề án Hỗ trợ phụ nữ Thủ đô khởi nghiệp giai đoạn 2018-2025) với hệ thống chỉ tiêu bài bản, thể hiện qua việc liên tục vượt chỉ tiêu (đạt trên 200% chỉ tiêu hỗ trợ thành lập doanh nghiệp năm 2022), phù hợp với lý thuyết thể chế của North (1990): thể chế chính thức càng cụ thể, hiệu quả thực thi càng cao. Tuy nhiên, chính sách hỗ trợ vẫn phân tán ở nhiều đầu mối, thiếu cơ chế điều phối liên ngành thống nhất và thiếu dữ liệu doanh nghiệp tách biệt theo giới, khiến việc đánh giá độ phủ chính sách trên tổng thể hơn 200 nghìn doanh nghiệp tại Hà Nội còn hạn chế.

Về nguồn lực, vốn tín chấp qua kênh Hội Phụ nữ (8.152 tỷ đồng trong 9 tháng năm 2023) chủ yếu là các khoản vay nhỏ, bình quân khoảng 21,5 triệu đồng/người, phù hợp nhu cầu vốn lưu động của hộ kinh doanh cá thể nhưng chưa đủ đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô của DNNVV. Điều này minh chứng luận điểm RBV (Barney, 1991): nguồn lực tài chính hạn chế khiến doanh nghiệp khó tích luỹ các nguồn lực bổ trợ khác để tạo lợi thế cạnh tranh bền vững.

Về năng lực nội tại doanh nghiệp, dù chủ doanh nghiệp nữ có trình độ học vấn khá cao (68,6% từ đại học trở lên), tỷ lệ chuyển đổi số toàn diện chỉ đạt 28%, cho thấy khoảng cách giữa năng lực học vấn và năng lực ứng dụng công nghệ thực tế. Điều này phù hợp khung 5M của Brush và cộng sự (2009): yếu tố Management không chỉ dừng ở học vấn mà còn phụ thuộc khả năng tiếp cận đào tạo chuyên sâu về công nghệ, vốn mới đáp ứng được một phần nhỏ trong tổng số doanh nghiệp, hộ kinh doanh do phụ nữ làm chủ.

Về văn hoá - xã hội - gia đình, các nghiên cứu trước tại Hà Nội và một số địa phương khác cho thấy phụ nữ làm chủ doanh nghiệp thường đồng thời đảm nhiệm vai trò chăm sóc gia đình, khiến thời gian, nguồn lực dành cho kinh doanh bị chia sẻ, hạn chế khả năng tham gia đào tạo dài hạn hay xúc tiến thương mại xa nơi cư trú (VCCI & USAID, 2015). Điều này phù hợp yếu tố Motherhood trong khung 5M và khung trao quyền của Kabeer (1999): nguồn lực hỗ trợ chỉ chuyển hoá hiệu quả thành kết quả kinh doanh khi đi kèm giải pháp giảm gánh nặng vai trò kép cho phụ nữ.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP

Kết quả nghiên cứu cho thấy DNNVV do phụ nữ làm chủ tại Hà Nội đang phục hồi sau đại dịch COVID-19, được hỗ trợ bởi hệ thống chính sách khá đồng bộ từ trung ương (Luật Hỗ trợ DNNVV số 04/2017/QH14, Đề án 939/QĐ-TTg) đến cấp thành phố (Đề án Hỗ trợ phụ nữ Thủ đô khởi nghiệp giai đoạn 2018-2025). Tuy nhiên, đối chiếu khung lý thuyết 4 nhóm yếu tố (thể chế, nguồn lực, năng lực nội tại, văn hoá xã hội), hoạt động hỗ trợ vẫn còn hạn chế về quy mô vốn, mức độ chuyển đổi số và tính đồng bộ trong điều phối chính sách. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất 5 nhóm giải pháp.

Hoàn thiện chính sách tín dụng: thành lập hoặc mở rộng quỹ bảo lãnh tín dụng riêng cho DNNVV do phụ nữ làm chủ, nâng hạn mức vay tín chấp qua kênh Hội LHPN phù hợp nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh, khuyến khích tổ chức tín dụng xây dựng sản phẩm vay ưu đãi riêng, dựa trên kết quả tích cực của chương trình tín chấp giai đoạn 2022-2023.

Đẩy mạnh đào tạo quản trị và kỹ năng số theo mô hình kèm cặp (mentorship) giữa doanh nhân nữ thành công và mới khởi nghiệp, mở rộng quy mô các chương trình chuyển đổi số hiện có (mới tiếp cận khoảng 10.000-11.000 lượt phụ nữ) để bao phủ rộng hơn, ưu tiên thương mại điện tử xuyên biên giới và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị.

Xây dựng và cập nhật định kỳ cơ sở dữ liệu doanh nghiệp tách biệt theo giới ở cấp thành phố, làm căn cứ hoạch định chính sách sát thực tế, khắc phục hạn chế hiện phải dùng số liệu ước lượng gián tiếp từ cấp quốc gia.

Tăng cường kết nối thị trường chuyên sâu theo ngành hàng, ưu tiên đưa doanh nghiệp nữ tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp lớn, tập đoàn đa quốc gia tại Hà Nội, thay vì chỉ dừng ở hội chợ, triển lãm quy mô nhỏ.

Thiết kế giải pháp có tính đến vai trò kép của phụ nữ trong gia đình: đào tạo trực tuyến kết hợp trực tiếp, linh hoạt thời gian; nghiên cứu hỗ trợ chi phí chăm sóc trẻ em cho phụ nữ tham gia đào tạo dài ngày; đẩy mạnh truyền thông thay đổi nhận thức xã hội về vai trò kinh tế của phụ nữ, nhằm giảm rào cản phi chính thức như lý thuyết thể chế của North (1990) và khung trao quyền của Kabeer (1999) đã chỉ ra.

Tài liệu tham khảo:

1. ADB & Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2023). Sách trắng về doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ ở Việt Nam.

2. Báo Hà Nội Mới. (2023). Hà Nội: Hỗ trợ 930 phụ nữ mới khởi nghiệp vay vốn. Báo Phụ nữ Thủ đô. https://phunuthudo.com.vn

3. Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), 99-120.

4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Tổng cục Thống kê. (2024). Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam năm 2024. Nxb Thống kê.

5. Bộ Khoa học và Công nghệ. (2025). Hà Nội thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong phong trào phụ nữ khởi nghiệp. https://mst.gov.vn

6. Brush, C. G., de Bruin, A., & Welter, F. (2009). A gender-aware framework for women’s entrepreneurship. International Journal of Gender and Entrepreneurship, 1(1), 8-24.

7. Cục Thống kê thành phố Hà Nội (2020-2024). Niên giám thống kê điện tử thành phố Hà Nội các năm 2020, 2021, 2022, 2023, 2024.

8. Chi cục Thống kê thành phố Hà Nội/Sở Tài chính Hà Nội (2020-2025). Tình hình đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội (các báo cáo tháng và năm 2020-2025). https://sotaichinh.hanoi.gov.vn và https://hapi.gov.vn

9. Hội Liên hiệp Phụ nữ Hà Nội (2023). Khơi dậy tiềm năng, thúc đẩy tinh thần đổi mới sáng tạo của phụ nữ Hà Nội. https://www.hoilhpn.org.vn

10. Hội Liên hiệp Phụ nữ Hà Nội (2024). Phụ nữ Thủ đô tham gia chuyển đổi số: Mở ra cơ hội lập nghiệp. https://hoilhpn.org.vn

11. Kabeer, N. (1999). Resources, agency, achievements: Reflections on the measurement of women’s empowerment. Development and Change, 30(3), 435-464.

12. Minh Châu (2024). https://diendandoanhnghiep.vn

13. North, D. C. (1990). Institutions, institutional change and economic performance. Cambridge University Press.

14. Nguyễn Thị Thanh Tâm (2025). Cơ hội, thách thức đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển bền vững tại Việt Nam. https://nghiencuu.tapchikinhtetaichinh.vn

15. Thy Lê (2024). Khoảng 20% doanh nghiệp nhỏ và vừa là do phụ nữ làm chủ. https://vnbusiness.vn

16. Trần Quang Vinh (2024). Sự tự tin của các nữ doanh nhân Việt Nam. https://baotintuc.vn/xa-hoi/su-tu-tin-cua-cac-nu-doanh-nhan-viet-nam-20240306075709662.htm

17. VCCI & USAID (2015). Doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ tại Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị chính sách. https://www.economica.vn

18. Việt Nam Hội nhập (2019). Công bố ‘bức tranh’ về doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ. https://vietnamhoinhap.vn.

Ngày nhận bài: 14/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 12/9/2026; Ngày duyệt đăng: 24/9/2026

Các tin khác

Ảnh hưởng của công bố thông tin ESG đến năng lực huy động vốn và hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp thủy sản xuất khẩu tại Việt Nam

Ảnh hưởng của công bố thông tin ESG đến năng lực huy động vốn và hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp thủy sản xuất khẩu tại Việt Nam

Trong bối cảnh phát triển bền vững ngày càng trở thành yêu cầu bắt buộc trên thị trường quốc tế, công bố thông tin về môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp (ESG) đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường minh bạch, giảm bất cân xứng thông tin và cải thiện niềm tin của nhà đầu tư
Ảnh hưởng của chất lượng tương tác doanh nghiệp đến kiến thức nghề nghiệp và niềm tin năng lực bản thân của sinh viên: Nghiên cứu tại Trường Cao đẳng Dược Hà Nội

Ảnh hưởng của chất lượng tương tác doanh nghiệp đến kiến thức nghề nghiệp và niềm tin năng lực bản thân của sinh viên: Nghiên cứu tại Trường Cao đẳng Dược Hà Nội

Trong bối cảnh giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng ứng dụng và đáp ứng nhu cầu thị trường lao động, chất lượng tương tác giữa nhà trường và doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là một hoạt động bổ trợ mà đã trở thành một nhân tố chiến lược, quyết định sự thành công của quá trình đào tạo
Nguồn lực công nghệ trong các ngành công nghiệp sáng tạo Việt Nam: Từ ứng dụng đến làm chủ công nghệ

Nguồn lực công nghệ trong các ngành công nghiệp sáng tạo Việt Nam: Từ ứng dụng đến làm chủ công nghệ

Các ngành công nghiệp sáng tạo ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế dựa trên tri thức, vì giá trị được tạo ra từ sự kết hợp giữa sáng tạo, văn hóa, tri thức, công nghệ và tài sản trí tuệ
Yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng xe buýt điện của học sinh, sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh

Yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng xe buýt điện của học sinh, sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh

Sự mở rộng về hạ tầng xe buýt điện không đảm bảo việc người sử dụng sẽ chủ động thay đổi thói quen đi lại. Quá trình thay đổi từ phương tiện cá nhân sang phương tiện công cộng mới chịu tác động bởi các nguyên nhân: từ bỏ phương thức cũ, giá trị tiện ích của phương thức mới, thói quen và rủi ro cảm nhận.
Chính sách quản lý về phát triển chính quyền số tại Hà Tĩnh: Thực trạng và giải pháp

Chính sách quản lý về phát triển chính quyền số tại Hà Tĩnh: Thực trạng và giải pháp

Chuyển đổi số trong khu vực công không còn được hiểu đơn giản là chuyển hồ sơ giấy thành hồ sơ điện tử hay đưa thủ tục hành chính lên môi trường mạng. Quá trình này ngày càng gắn với sự thay đổi sâu sắc về cấu trúc tổ chức, quy trình ra quyết định, phương thức cung cấp dịch vụ công và quan hệ giữa chính quyền với người dân, doanh nghiệp.
Nhận thức môi trường, chuẩn mực chủ quan và sẵn sàng trả giá cao cho bao bì thân thiện môi trường tại Việt Nam: Kiểm định mô hình Lý thuyết TPB mở rộng

Nhận thức môi trường, chuẩn mực chủ quan và sẵn sàng trả giá cao cho bao bì thân thiện môi trường tại Việt Nam: Kiểm định mô hình Lý thuyết TPB mở rộng

Tại Việt Nam, nơi thu nhập trung bình còn hạn chế nhưng nhận thức về môi trường đang tăng nhanh, việc hiểu cơ chế thúc đẩy việc sẵn sàng trả giá cao có ý nghĩa chiến lược quan trọng cho cả chính sách lẫn hoạt động kinh doanh.
Phát triển logistics thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam

Phát triển logistics thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam

Theo Ngân hàng Thế giới, chi phí logistics của Việt Nam từng ở mức tương đương 20,8% GDP, gần gấp đôi mức trung bình thế giới là 10,7%. Chiến lược phát triển logistics quốc gia đến năm 2030 đặt mục tiêu đưa tỷ lệ này giảm xuống còn khoảng 16-18% GDP. Bên cạnh đó, thương mại điện tử Việt Nam đang tăng trưởng với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất khu vực Đông Nam Á.
Xuất nhập khẩu Việt Nam sau 40 năm đổi mới

Xuất nhập khẩu Việt Nam sau 40 năm đổi mới

Việc nhìn lại chặng đường 40 năm phát triển xuất nhập khẩu có ý nghĩa cần thiết để nhận diện quá trình chuyển biến, những kết quả đạt được và các vấn đề còn đặt ra cho giai đoạn mới.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên trong bối cảnh chuyển đổi số: Trường hợp doanh nghiệp sản xuất tại Hà Nội

Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên trong bối cảnh chuyển đổi số: Trường hợp doanh nghiệp sản xuất tại Hà Nội

Trong môi trường sản xuất, nơi các quy trình, công nghệ và công cụ sản xuất đang ngày càng hiện đại hóa và tích hợp các hệ thống số hóa, hành vi chia sẻ tri thức giữa các nhân viên càng trở nên phức tạp và đa chiều.
Mô hình nghiên cứu tác động của thương hiệu nhà tuyển dụng số đến ý định ứng tuyển của thế hệ Z tại Việt Nam

Mô hình nghiên cứu tác động của thương hiệu nhà tuyển dụng số đến ý định ứng tuyển của thế hệ Z tại Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng cạnh tranh và lực lượng lao động Gen Z từng bước trở thành một bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực, việc thu hút những ứng viên trẻ có năng lực đang trở thành một trong những thách thức đáng quan tâm đối với các tổ chức.