Xuất nhập khẩu Việt Nam sau 40 năm đổi mới
Bùi Thị Ngọc Anh
Trường Đại học Thành Đông
Email: [email protected]
Tóm tắt
Sau 40 năm Đổi mới, xuất nhập khẩu Việt Nam đã mở rộng mạnh về quy mô, cơ cấu hàng hóa, thị trường và mức độ hội nhập quốc tế. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt khoảng 930,1 tỷ USD, trong đó xuất khẩu khoảng 430 tỷ USD và duy trì xuất siêu. Cơ cấu xuất khẩu ngày càng tập trung vào nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo, trong khi nhập khẩu chủ yếu phục vụ sản xuất và đầu tư. Tuy nhiên, khu vực FDI vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu, mức độ tạo giá trị gia tăng trong nước còn hạn chế, cùng với yêu cầu ngày càng cao về xuất xứ, môi trường, phát thải carbon và truy xuất nguồn gốc. Bài viết khái quát những chuyển biến chủ yếu của xuất nhập khẩu Việt Nam sau 40 năm Đổi mới, đồng thời nhận diện các vấn đề cần giải quyết nhằm nâng cao giá trị gia tăng, khả năng thích ứng và tính bền vững của hoạt động thương mại quốc tế.
Từ khóa: Xuất nhập khẩu, thương mại quốc tế, hội nhập kinh tế, xuất khẩu, chuỗi giá trị toàn cầu, Việt Nam
Abstract
After 40 years of Doi Moi, Viet Nam’s imports and exports have expanded significantly in terms of scale, commodity structure, market diversification, and the depth of international economic integration. In 2025, total import and export turnover reached approximately USD 930.1 billion, including around USD 430 billion in exports, with Viet Nam maintaining a trade surplus. The export structure has become increasingly concentrated in processed and manufactured goods, while imports have primarily served domestic production and investment activities. However, the FDI sector continues to account for a large share of Viet Nam’s exports, while domestic value added remains limited. At the same time, Vietnamese trade is subject to increasingly stringent requirements regarding rules of origin, environmental standards, carbon emissions, and traceability. This paper provides an overview of the major transformations in Viet Nam’s imports and exports after 40 years of Doi Moi and identifies key issues that need to be addressed to enhance domestic value added, adaptive capacity, and the sustainability of international trade.
Keywords: International trade, imports and exports, economic integration, exports, global value chains, Viet Nam
ĐẶT VẤN ĐỀ
Xuất nhập khẩu giữ vai trò quan trọng đối với quá trình tăng trưởng, hội nhập và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam. Sau 40 năm Đổi mới, môi trường thương mại quốc tế đã có những thay đổi sâu sắc, trong khi Việt Nam ngày càng tham gia rộng hơn vào các chuỗi giá trị và mạng lưới thương mại toàn cầu. Quy mô và mức độ liên kết của nền kinh tế với thị trường quốc tế vì vậy cũng ngày càng lớn.
Bên cạnh những cơ hội từ hội nhập, thương mại quốc tế đang đứng trước nhiều thay đổi về tiêu chuẩn thị trường, chuyển đổi xanh, yêu cầu về xuất xứ, truy xuất nguồn gốc và khả năng thích ứng trước các biến động kinh tế, địa chính trị và chuỗi cung ứng. Những thay đổi này đặt ra yêu cầu không chỉ duy trì tốc độ tăng trưởng thương mại mà còn nâng cao chất lượng và tính bền vững của hoạt động xuất nhập khẩu.
Trong bối cảnh đó, việc nhìn lại chặng đường 40 năm phát triển xuất nhập khẩu có ý nghĩa cần thiết để nhận diện quá trình chuyển biến, những kết quả đạt được và các vấn đề còn đặt ra cho giai đoạn mới.
THỰC TRẠNG XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM SAU 40 NĂM ĐỔI MỚI
Những kết quả đạt được
Sau 40 năm Đổi mới, hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam đã có sự thay đổi rõ rệt về quy mô, cơ cấu hàng hóa, thị trường và phương thức quản lý. Theo số liệu từ Cục Thống kê, nếu năm 1986, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu chỉ đạt gần 3 tỷ USD, trong đó xuất khẩu khoảng 789 triệu USD và nhập khẩu khoảng 2,16 tỷ USD, thì đến năm 2025 tổng kim ngạch đã đạt khoảng 930,1 tỷ USD. Quy mô xuất khẩu cũng tăng từ 789 triệu USD năm 1986 lên khoảng 430 tỷ USD năm 2025. Đây là bước phát triển rất lớn về quy mô thương mại của Việt Nam trong bốn thập niên.
Thứ nhất, hoạt động xuất nhập khẩu đã được mở rộng về chủ thể và trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế. Quá trình đổi mới thể chế đã từng bước mở rộng quyền tham gia hoạt động ngoại thương. Từ khoảng 30 đơn vị được phép kinh doanh xuất nhập khẩu trước năm 1986, đến năm 2005 đã có hơn 35.700 doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp. Sự thay đổi này cho thấy hoạt động ngoại thương đã chuyển từ phạm vi tương đối khép kín sang sự tham gia rộng hơn của các thành phần kinh tế, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động tìm kiếm thị trường, đối tác và tham gia các hoạt động kinh doanh xuyên biên giới.
Thứ hai, cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu có sự chuyển dịch đáng kể. Xuất khẩu từng bước chuyển từ các nhóm nông sản, khoáng sản và sản phẩm chế biến thấp trong những năm đầu Đổi mới sang cơ cấu trong đó hàng công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò chủ lực. Đến năm 2025, nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 421,47 tỷ USD, chiếm 88,7% tổng kim ngạch xuất khẩu. Ở chiều nhập khẩu, cơ cấu cũng chuyển theo hướng phục vụ ngày càng rõ hơn cho sản xuất và đầu tư; năm 2025, nhóm tư liệu sản xuất đạt 426,11 tỷ USD, chiếm 93,6% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm 52,7% và nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 40,9%. Những thay đổi này phản ánh quá trình chuyển dịch từ mô hình xuất khẩu dựa nhiều vào tài nguyên và sản phẩm sơ chế sang nền ngoại thương gắn chặt hơn với công nghiệp chế biến, chế tạo và các chuỗi cung ứng quốc tế.
Thứ ba, thị trường xuất nhập khẩu được mở rộng mạnh mẽ cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Việc gia nhập ASEAN năm 1995, APEC năm 1998 và WTO năm 2007 đánh dấu những bước phát triển quan trọng trong tiến trình hội nhập. Đến nay, Việt Nam đã tham gia 17 FTA với trên 60 quốc gia và vùng lãnh thổ; hàng hóa Việt Nam có mặt tại hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ. Các FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, UKVFTA và RCEP tiếp tục mở rộng không gian thương mại và tạo khuôn khổ để Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.
Thứ tư, việc thực hiện các FTA ngày càng chú trọng hơn đến khai thác ưu đãi thuế quan và quy tắc xuất xứ. Theo nội dung bản thảo, tỷ lệ tận dụng C/O ưu đãi bình quân đạt khoảng 33–35% tổng kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường có FTA; tại một số thị trường như Hàn Quốc và Nhật Bản, tỷ lệ này đạt trên 50–70% (Trần Thanh Hải, 2026). Điều này cho thấy việc quản lý và cấp C/O đã trở thành một nội dung quan trọng trong quá trình thực thi các cam kết thương mại. Đồng thời, các FTA thế hệ mới cũng đặt ra những yêu cầu cao hơn về xuất xứ, môi trường, lao động, phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững.
Thứ năm, cán cân thương mại đã chuyển biến theo hướng tích cực (Hình). Năm 1986, Việt Nam nhập siêu khoảng 1,37 tỷ USD, khi kim ngạch nhập khẩu cao gần 2,7 lần xuất khẩu. Từ năm 2016, Việt Nam duy trì xuất siêu liên tục. Mức xuất siêu đạt khoảng 28,1 tỷ USD năm 2023, 24,94 tỷ USD năm 2024 và 20,03 tỷ USD năm 2025. Việc duy trì xuất siêu trong 10 năm liên tiếp là một kết quả đáng chú ý của hoạt động ngoại thương trong giai đoạn gần đây, góp phần tạo nguồn ngoại tệ và hỗ trợ cân đối kinh tế vĩ mô.
Hình: Cán cân thương mại hàng hóa Việt Nam giai đoạn 1986-2025
![]() |
Nguồn: Tổng hợp từ Cục Thống kê
Những vấn đề đặt ra
Bên cạnh những kết quả đạt được, thực trạng xuất nhập khẩu cũng cho thấy một số vấn đề cần tiếp tục giải quyết trong giai đoạn tới.
Một là, năng lực tạo giá trị gia tăng và mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế. Mặc dù hàng công nghiệp chế biến, chế tạo đã chiếm 88,7% kim ngạch xuất khẩu năm 2025, khu vực FDI vẫn đóng góp tới 77,3% kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực trong nước chỉ chiếm 22,7%. Cơ cấu này cho thấy quy mô xuất khẩu đã được nâng lên đáng kể nhưng năng lực của doanh nghiệp Việt Nam trong các khâu có giá trị gia tăng cao và khả năng liên kết với khu vực FDI vẫn là điểm cần cải thiện. Đây là thách thức quan trọng đối với mục tiêu chuyển từ tăng trưởng dựa vào mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng và giá trị nội địa của xuất khẩu.
Hai là, khả năng tận dụng các FTA và đáp ứng các tiêu chuẩn mới của thị trường còn chưa đồng đều. Các FTA mở rộng đáng kể cơ hội tiếp cận thị trường nhưng lợi ích thuế quan phụ thuộc vào khả năng đáp ứng quy tắc xuất xứ và các điều kiện liên quan. Bên cạnh đó, yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, môi trường, phát thải carbon, lao động và sản xuất bền vững ngày càng được đưa vào thương mại quốc tế. Vì vậy, thách thức không còn chỉ là mở rộng thị trường mà là nâng cao năng lực đáp ứng các điều kiện để duy trì và khai thác hiệu quả thị trường xuất khẩu.
Ba là, mức độ phụ thuộc vào chuỗi cung ứng và thị trường quốc tế làm gia tăng rủi ro từ bên ngoài. Độ mở thương mại lớn giúp Việt Nam tận dụng tốt hơn các cơ hội từ hội nhập nhưng đồng thời khiến hoạt động xuất nhập khẩu nhạy cảm với biến động kinh tế toàn cầu, thay đổi chính sách thương mại, cạnh tranh chiến lược, xung đột địa chính trị và gián đoạn chuỗi cung ứng. Thách thức đặt ra là duy trì tốc độ tăng trưởng thương mại đồng thời nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài.
Bốn là, yêu cầu chuyển từ tăng trưởng thương mại về lượng sang nâng cao chất lượng và tính bền vững. Năm 2025, Việt Nam xuất siêu 20,03 tỷ USD, trong khi 93,6% kim ngạch nhập khẩu là nhóm tư liệu sản xuất. Điều này cho thấy nhập khẩu tiếp tục giữ vai trò quan trọng đối với sản xuất và xuất khẩu. Do đó, thách thức trong giai đoạn tới không chỉ nằm ở việc duy trì xuất siêu mà còn ở khả năng biến hoạt động xuất nhập khẩu thành động lực nâng cao năng lực công nghệ, giá trị gia tăng trong nước và chất lượng tăng trưởng.
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XUẤT NHẬP KHẨU TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
Để chuyển từ tăng trưởng chủ yếu về quy mô sang phát triển xuất nhập khẩu có chất lượng và sức chống chịu cao hơn, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện môi trường thể chế, đồng thời tập trung nâng cao năng lực của doanh nghiệp và chất lượng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tác giả đưa ra một số đề xuất cụ thể sau:
Thứ nhất, nâng cao năng lực cạnh tranh và giá trị gia tăng của doanh nghiệp trong nước. Chính sách hỗ trợ xuất khẩu cần chuyển mạnh từ khuyến khích mở rộng sản lượng sang nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực đổi mới sáng tạo. Cần ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ, năng lực thiết kế, nghiên cứu và phát triển, xây dựng thương hiệu và các dịch vụ phục vụ xuất khẩu. Đồng thời, tăng khả năng tiếp cận vốn, công nghệ và thông tin thị trường cho doanh nghiệp nhỏ và vừa để tạo điều kiện tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia.
Thứ hai, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam. Khu vực FDI giữ vai trò quan trọng trong năng lực sản xuất và xuất khẩu, song hiệu ứng lan tỏa sang khu vực trong nước cần được thúc đẩy mạnh hơn. Theo đó, cần xây dựng các chương trình kết nối nhà cung ứng trong nước với doanh nghiệp FDI, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao tiêu chuẩn sản xuất, quản trị chất lượng và khả năng đáp ứng đơn hàng quốc tế. Mục tiêu không chỉ là tăng tỷ lệ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng mà còn từng bước đưa doanh nghiệp Việt Nam lên những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả tận dụng các FTA và đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn của thị trường quốc tế. Việc thực thi các FTA cần được gắn với hỗ trợ doanh nghiệp khai thác thực chất các ưu đãi thuế quan, đặc biệt thông qua nâng cao khả năng đáp ứng quy tắc xuất xứ. Cùng với đó, cần tăng cường cung cấp thông tin và hướng dẫn doanh nghiệp về các yêu cầu mới liên quan đến môi trường, phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc, chống phá rừng và lao động. Điều này giúp doanh nghiệp chuyển từ ứng phó với tiêu chuẩn thị trường sang chủ động xây dựng năng lực đáp ứng ngay từ khâu sản xuất.
Thứ tư, phát triển xuất khẩu theo hướng xanh và bền vững. Các yêu cầu về giảm phát thải và sản xuất xanh ngày càng tác động trực tiếp đến khả năng tiếp cận thị trường. Vì vậy, doanh nghiệp cần từng bước đầu tư vào công nghệ tiết kiệm năng lượng, sử dụng nguyên liệu bền vững, kiểm soát phát thải và hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc. Về phía Nhà nước, cần hoàn thiện cơ chế hỗ trợ chuyển đổi xanh, chuẩn hóa hệ thống dữ liệu và nâng cao năng lực đo lường, báo cáo các chỉ tiêu môi trường liên quan đến hàng hóa xuất khẩu.
Thứ năm, tiếp tục hiện đại hóa quản lý nhà nước và giảm chi phí thương mại. Chuyển đổi số cần được đẩy mạnh trong quản lý xuất nhập khẩu, quản lý xuất xứ, cấp C/O, thông quan và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan. Trọng tâm là tăng khả năng sử dụng dữ liệu để dự báo thị trường, nhận diện rủi ro và cảnh báo sớm các nguy cơ gian lận xuất xứ, phòng vệ thương mại hoặc gián đoạn chuỗi cung ứng. Đồng thời, tiếp tục rà soát và đơn giản hóa thủ tục để giảm chi phí tuân thủ, nâng cao tính minh bạch và khả năng dự báo cho doanh nghiệp.
Thứ sáu, đa dạng hóa thị trường, sản phẩm và chuỗi cung ứng. Quy mô thương mại lớn đồng nghĩa với mức độ nhạy cảm cao hơn trước biến động bên ngoài. Do đó, bên cạnh việc duy trì các thị trường truyền thống, cần khai thác hiệu quả hơn các thị trường mới và các phân khúc có nhu cầu cao đối với sản phẩm công nghệ, sản phẩm xanh và hàng hóa có giá trị gia tăng lớn. Đa dạng hóa thị trường cần đi cùng đa dạng hóa nguồn nguyên liệu, đối tác cung ứng và phương thức logistics nhằm giảm mức độ phụ thuộc vào một số thị trường hoặc chuỗi cung ứng nhất định.
Thứ bảy, nâng cao năng lực dự báo và phòng vệ thương mại. Khi xuất khẩu ngày càng mở rộng, nguy cơ điều tra và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại cũng gia tăng. Vì vậy, cần củng cố hệ thống cảnh báo sớm, nâng cao năng lực thu thập và phân tích thông tin thị trường, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp chủ động phòng ngừa rủi ro pháp lý và thương mại. Đây cũng là cơ sở để bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp Việt Nam và duy trì ổn định các thị trường xuất khẩu.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Công Thương (2026). Báo cáo tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2025 và định hướng phát triển xuất khẩu năm 2026.
2. Bộ Công Thương (2026). Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu năm 2026.
3. Cục Thống kê (2026). Kết quả hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2025: Bứt phá kỷ lục và chuyển dịch mạnh mẽ sang công nghệ cao.
4. Cục Thống kê (2026). Một số nét chính tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2025.
5. Cục Xuất nhập khẩu – Bộ Công Thương (2026). Tổng kết công tác phát triển thị trường nước ngoài năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026.
6. Trần Thanh Hải (2026). 40 năm chuyển mình của xuất nhập khẩu Việt Nam. https://baochinhphu.vn/40-nam-chuyen-minh-cua-xuat-nhap-khau-viet-nam-102260828072039429.htm
| Ngày nhận bài: 17/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 7/9/2026; Ngày duyệt đăng: 23/9/2026 |
Các tin khác
Chính sách quản lý về phát triển chính quyền số tại Hà Tĩnh: Thực trạng và giải pháp
Nhận thức môi trường, chuẩn mực chủ quan và sẵn sàng trả giá cao cho bao bì thân thiện môi trường tại Việt Nam: Kiểm định mô hình Lý thuyết TPB mở rộng
Phát triển logistics thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam
Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên trong bối cảnh chuyển đổi số: Trường hợp doanh nghiệp sản xuất tại Hà Nội
Mô hình nghiên cứu tác động của thương hiệu nhà tuyển dụng số đến ý định ứng tuyển của thế hệ Z tại Việt Nam
Các nhân tố ảnh hưởng đến khởi nghiệp xanh của sinh viên khối ngành kinh tế trên địa bàn TP. Hà Nội
Tuân thủ thuế của hộ kinh doanh trong bối cảnh số hóa quản lý thuế: Bằng chứng từ Đồng Nai
Xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến quản trị nguồn nhân lực và hiệu quả của doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Đông Nam Bộ
Tác động của áp lực khách hàng đến xuất khẩu đối với doanh nghiệp tại Việt Nam
