Các nhân tố ảnh hưởng đến khởi nghiệp xanh của sinh viên khối ngành kinh tế trên địa bàn TP. Hà Nội

Nghiên cứu - Trao đổi 08:28 | 24/09/2026
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu phức tạp và áp lực chuyển đổi mô hình tăng trưởng toàn cầu, kinh tế xanh trở thành xu hướng phát triển tất yếu của thế kỷ XXI.

ThS. Trương Văn Thanh

Email: [email protected]

ThS. Nguyễn Thị Quỳnh Hương

Đại học Kinh tế Quốc dân

Lê Khánh Linh

SV Trường Đại học Kinh doanh Budapest - Hungary

Vũ Minh Tiến

SV Trường Đại học Ngoại thương

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định và hành vi khởi nghiệp xanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại Hà Nội. Dữ liệu khảo sát 1.013 người được phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính. Kết quả cho thấy, Sự tự tin về năng lực khởi nghiệp xanh, Kiến thức khởi nghiệp, Cam kết với môi trường và Hỗ trợ từ trường đại học có ảnh hưởng tích cực đến Ý định khởi nghiệp xanh, trong khi Chuẩn chủ quan không có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê. Ý định khởi nghiệp xanh ảnh hưởng tích cực đến Hành vi khởi nghiệp xanh và đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa các yếu tố trên với hành vi. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực nghiệm cho việc xây dựng các chính sách và chương trình hỗ trợ khởi nghiệp xanh trong các cơ sở giáo dục đại học.

Từ khóa: Khởi nghiệp xanh, ý định khởi nghiệp xanh, hành vi khởi nghiệp xanh, sinh viên khối ngành kinh tế, mô hình cấu trúc tuyến tính

Abstract

This study analyzes the factors influencing green entrepreneurial intention and behavior among economics students in Ha Noi. Survey data from 1,013 respondents were analyzed using structural equation modeling. The results show that green entrepreneurial self-efficacy, entrepreneurial knowledge, environmental commitment, and university support positively affect green entrepreneurial intention, whereas subjective norms do not have a statistically significant effect. Green entrepreneurial intention positively affects green entrepreneurial behavior and mediates the relationships between the above factors and behavior. The findings provide an empirical basis for developing policies and support programs for green entrepreneurship in higher education institutions.

Keywords: Green entrepreneurship, green entrepreneurial intention, green entrepreneurial behavior, economics students, structural equation modeling

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu phức tạp và áp lực chuyển đổi mô hình tăng trưởng toàn cầu, kinh tế xanh trở thành xu hướng phát triển tất yếu của thế kỷ XXI. Tại Việt Nam, định hướng này được cụ thể hóa qua Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050 (Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 1/10/2021), trong đó doanh nhân trẻ, đặc biệt là sinh viên, là nguồn lực chiến lược. Là một đầu tàu kinh tế và trung tâm giáo dục của cả nước, Hà Nội tập trung phần lớn các trường đại học hàng đầu; sinh viên khối ngành kinh tế - với nền tảng tài chính, quản trị, thương mại - được kỳ vọng tiên phong trong khởi nghiệp kinh doanh xanh.

Tuy nhiên, bức tranh khởi nghiệp xanh tại Việt Nam còn khá mờ nhạt. Trong hơn 4.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, chỉ khoảng 200-300 tập trung vào chuyển đổi xanh, chưa đến 5-7% tổng số startup (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Tỷ lệ sinh viên tham gia các chương trình khởi nghiệp hằng năm cũng rất thấp, phản ánh khoảng cách lớn giữa tiềm năng và mức độ tham gia thực tế. Đồng thời, tại Việt Nam, hầu như chưa có nghiên cứu nào tập trung riêng vào sinh viên khối ngành kinh tế tại Hà Nội - nhóm có lợi thế ứng dụng tri thức tài chính, quản trị để hiện thực hóa các mô hình kinh doanh xanh. Từ nhu cầu về thực tiễn và lý luận trên, đặt ra yêu cầu làm rõ những nhân tố nào đang tác động đến ý định và hành vi khởi nghiệp xanh của sinh viên, đặc biệt là nhóm khối ngành kinh tế tại Hà Nội.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Các khái niệm liên quan

Khởi nghiệp xanh là sự tích hợp giữa lợi ích kinh doanh và lợi ích môi trường nhằm đạt khả năng cạnh tranh vượt trội, giúp doanh nhân vừa giải quyết thách thức môi trường vừa tạo cơ hội kinh tế cho bản thân và cộng đồng (Ali và cộng sự, 2023). Ý định khởi nghiệp xanh (Green Entrepreneurial Intention - GEI) là cấu trúc tâm lý phản ánh sự sẵn lòng, mức độ nỗ lực và xu hướng của cá nhân theo đuổi các hoạt động khởi nghiệp nhằm giải quyết nhu cầu sinh thái và thúc đẩy phát triển bền vững (Gibbs và O'Neill, 2014). Hành vi khởi nghiệp xanh (Green Entrepreneurial Behavior - GEB) là giai đoạn hiện thực hóa nỗ lực nhận thức, chuyển từ ý định sang thiết lập và vận hành các thực thể kinh doanh bền vững (Fayolle và Gailly, 2015).

Lý thuyết nền tảng

Nghiên cứu dựa trên 2 khung lý thuyết. Lý thuyết Hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) cho rằng, ý định hành vi hình thành từ 3 thành phần (thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi) và là tiền đề gần nhất, dự báo mạnh nhất của hành vi. Lý thuyết Nhận thức xã hội (SCT) của Bandura (1986) nhấn mạnh tương tác qua lại giữa cá nhân - hành vi - môi trường, trong đó hiệu quả bản thân (self-efficacy) và các yếu tố môi trường học tập đóng vai trò then chốt trong hình thành năng lực và ý định khởi nghiệp.

Cụ thể, trong mô hình TPB mở rộng: cam kết với môi trường phản ánh định hướng giá trị gắn với đánh giá tích cực về khởi nghiệp xanh; niềm tin vào năng lực hành động vì môi trường (green self-efficacy) phản ánh năng lực tự cảm nhận, gần với nhận thức kiểm soát hành vi; chuẩn chủ quan thể hiện ảnh hưởng xã hội; hỗ trợ đại học và kiến thức khởi nghiệp đại diện cho nguồn lực môi trường và nhận thức trong SCT.

Tổng quan nghiên cứu và giả thuyết

Các nghiên cứu quốc tế cung cấp bằng chứng nhất quán về vai trò của 3 nhóm nhân tố trong hình thành ý định khởi nghiệp xanh: (i) cá nhân - nhận thức (thái độ, sự tự tin về năng lực); (ii) xã hội - thể chế (chuẩn chủ quan, hỗ trợ của trường đại học); và (iii) giáo dục - trải nghiệm (kiến thức và giáo dục khởi nghiệp) (Roy, 2023; Al-Mamary, 2025).

Một số nghiên cứu gần đây khẳng định vai trò trung gian của ý định trong chuyển hóa nhận thức và động cơ xanh thành hành vi (Hameed và cộng sự, 2021; Wahyono và cộng sự, 2024). Tại Việt Nam, Trúc và cộng sự (2025), Nghĩa (2024) và Châu và cộng sự (2025) đều ghi nhận tác động tích cực của sự tự tin, hỗ trợ của trường đại học và các yếu tố cá nhân đến ý định, song việc đo lường trực tiếp quan hệ trung gian giữa ý định và hành vi vẫn còn hạn chế. Trên cơ sở tổng quan, nghiên cứu lựa chọn 5 tiền tố và xây dựng 6 giả thuyết sau:

H1: Cam kết với môi trường có mối quan hệ tích cực với Ý định khởi nghiệp xanh.

H2: Sự tự tin về năng lực khởi nghiệp xanh có mối quan hệ tích cực với Ý định khởi nghiệp xanh.

H3: Chuẩn chủ quan có mối quan hệ tích cực với Ý định khởi nghiệp xanh.

H4: Sự hỗ trợ từ trường đại học có mối quan hệ tích cực với Ý định khởi nghiệp xanh.

H5: Kiến thức khởi nghiệp có mối quan hệ tích cực với Ý định khởi nghiệp xanh.

H6: Ý định khởi nghiệp xanh có mối quan hệ tích cực với Hành vi khởi nghiệp xanh.

Từ các giả thuyết, mô hình nghiên cứu được trình bày như Hình 1.

Hình 1: Mô hình nghiên cứu

Các nhân tố ảnh hưởng đến khởi nghiệp xanh của sinh viên khối ngành kinh tế trên địa bàn TP. Hà Nội

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất, tích hợp TPB (Ajzen, 1991) và SCT (Bandura, 1986).

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng làm chủ đạo, kết hợp định tính (phỏng vấn chuyên gia) ở giai đoạn hiệu chỉnh thang đo. Các khái niệm được đo bằng thang đo Likert 5 mức độ (1 - Rất không đồng ý đến 5 - Hoàn toàn đồng ý), kế thừa từ các thang đo đã kiểm định: Cam kết với môi trường của Mabkhot và cộng sự (2024); Sự tự tin về năng lực của Roy (2023); Chuẩn chủ quan của Al-Mamary (2025); Hỗ trợ từ trường đại học của Hameed và cộng sự (2021); Kiến thức khởi nghiệp của Roxas (2014); Ý định của Amankwah và Sesen (2021); và Hành vi khởi nghiệp xanh của Kautonen và cộng sự (2015). Bộ thang đo chính thức gồm 36 biến quan sát thuộc 7 khái niệm (1 biến loại sau bước kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, còn lại 35 biến quan sát chính thức được đưa vào phân tích tiếp theo).

Mẫu được chọn theo phương pháp phi ngẫu nhiên thuận tiện, đối tượng là sinh viên và cựu sinh viên mới tốt nghiệp khối ngành kinh tế (18-25 tuổi) tại Hà Nội. Dữ liệu thu thập từ tháng 2-5/2026 qua hình thức trực tuyến (Google Form) và trực tiếp tại 4 trường: Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Ngoại thương, Đại học Thương mại và trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN). Sau khi loại phiếu không hợp lệ, 1.013 phiếu (tỷ lệ 89%) được đưa vào phân tích, vượt mức tối thiểu theo nguyên tắc 5 quan sát/biến của Gorsuch (2013).

Dữ liệu được xử lý bằng IBM SPSS Statistics và AMOS theo trình tự: (i) kiểm định độ tin cậy bằng Cronbach's Alpha; (ii) phân tích nhân tố khám phá (EFA) với phép trích Principal Axis Factoring và phép xoay Promax; (iii) phân tích nhân tố khẳng định (CFA) đánh giá độ phù hợp mô hình đo lường, độ tin cậy tổng hợp, giá trị hội tụ và phân biệt; (iv) mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM); và (v) kiểm định Bootstrap cho tác động gián tiếp.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Mẫu tương đối cân bằng về giới tính: 523 nam (51,6%) và 490 nữ (48,4%). Về độ tuổi, nhóm 20-22 tuổi chiếm tỷ trọng lớn nhất (58,4%), tiếp đến 23-25 tuổi (24,4%) và 18-19 tuổi (17,2%). Về trường, mẫu tập trung ở 4 trường kinh tế hàng đầu Hà Nội: Kinh tế Quốc dân 30,6%, Ngoại thương 27,4%, Thương mại 19,1% và Kinh tế - ĐHQGHN 14,6%, 8,3% còn lại thuộc các cơ sở đào tạo khối ngành kinh tế khác trên địa bàn TP. Hà Nội (bao gồm nhóm cựu sinh viên mới tốt nghiệp). Thang đo Cam kết với môi trường có trung bình cao nhất (3,56-4,00), còn Hành vi khởi nghiệp xanh thấp nhất (2,99-3,12) - phù hợp với thực tế đối tượng chủ yếu là sinh viên đang học.

Kiểm định độ tin cậy thang đo và phân tích nhân tố khám phá

Kết quả Cronbach's Alpha cho thấy, 7 thang đo đều đạt độ tin cậy chấp nhận được (0,776-0,864). Chuẩn chủ quan là thang đo duy nhất phải loại biến: SN4 có tương quan biến-tổng thấp nhất (0,366) và độ lệch chuẩn cao nhất (1,211). SN1-SN3 đo chuẩn mực mệnh lệnh (mức độ những người quan trọng kỳ vọng, khuyến khích, ủng hộ cá nhân khởi nghiệp xanh), còn SN4 đo mức độ cá nhân cho rằng sự ủng hộ đó chi phối quyết định của mình - nghiêng về động cơ tuân thủ; loại SN4 vừa cải thiện tính đồng nhất nội dung vừa nâng Cronbach's Alpha từ 0,707 lên 0,776. Sau khi loại SN4, 35 biến còn lại được đưa vào phân tích nhân tố khám phá EFA, đạt KMO = 0,870 và kiểm định Bartlett có ý nghĩa (Sig. = 0,000); 35 biến hội tụ về đúng 7 nhân tố với tổng phương sai trích 51,731% (> 50%), toàn bộ trọng số nhân tố > 0,5 và không có biến tải chéo, khẳng định tính hội tụ và phân biệt của các thang đo.

Phân tích nhân tố khẳng định (CFA)

Kết quả Bảng 1 cho thấy, mô hình đo lường đạt độ phù hợp tốt: CMIN/df = 2,328; GFI = 0,933; AGFI = 0,921; CFI = 0,950; TLI = 0,944; RMSEA = 0,036 và PCLOSE = 1,000. Toàn bộ 35 hệ số tải chuẩn hóa đều > 0,5 (0,607-0,830) và có ý nghĩa ở mức p < 0,001. Hệ số CR của 7 thang đo dao động 0,780-0,866 (≥ 0,7) và AVE 0,503-0,541 (≥ 0,5). Về giá trị phân biệt, căn bậc hai AVE của từng thang đo đều lớn hơn tương quan giữa thang đo đó với các thang đo còn lại; đồng thời MSV nhỏ hơn AVE tương ứng. Đáng chú ý, tương quan giữa Chuẩn chủ quan (SN) và các biến khác đều rất nhỏ, gần bằng 0 - dấu hiệu ban đầu về ảnh hưởng yếu của nhân tố này.

Bảng 1: Tổng hợp độ tin cậy tổng hợp (CR) và phương sai trích trung bình (AVE)

Thang đo

Số biến quan sát

CR

AVE

Kết luận

CE

6

0,866

0,519

Đạt

GS

6

0,857

0,503

Đạt

SN

3

0,780

0,541

Đạt

US

4

0,814

0,524

Đạt

EK

6

0,859

0,505

Đạt

GEI

5

0,838

0,508

Đạt

GEB

5

0,835

0,504

Đạt

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát của nhóm tác giả

Kiểm định mô hình cấu trúc và các giả thuyết

Mô hình SEM (Hình 2) có độ phù hợp tốt với dữ liệu: CMIN/df = 2,320; GFI = 0,932; AGFI = 0,922; CFI = 0,949; TLI = 0,945; RMSEA = 0,036 và PCLOSE = 1,000. Kết quả ước lượng các đường dẫn được trình bày ở Bảng 2. Năm trong 6 giả thuyết được chấp nhận ở mức p < 0,001, riêng H3 bị bác bỏ.

Hình 2: Kết quả mô hình cấu trúc tuyến tính SEM (đã chuẩn hóa)

Các nhân tố ảnh hưởng đến khởi nghiệp xanh của sinh viên khối ngành kinh tế trên địa bàn TP. Hà Nội

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát của nhóm tác giả

Bảng 2: Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết

Đường dẫn

Hệ số chuẩn hóa (β)

C.R.

P-value

Kết luận

H1

CE → GEI

0,357

10,694

***

Chấp nhận

H2

GS → GEI

0,439

12,998

***

Chấp nhận

H3

SN → GEI

0,003

0,090

0,928

Bác bỏ

H4

US → GEI

0,299

9,075

***

Chấp nhận

H5

EK → GEI

0,375

11,045

***

Chấp nhận

H6

GEI → GEB

0,611

14,945

***

Chấp nhận

Ghi chú: *** p < 0,001.

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát của nhóm tác giả.

Xét cường độ tác động lên Ý định khởi nghiệp xanh, thứ tự giảm dần là: Sự tự tin về năng lực (GS, β = 0,439) > Kiến thức khởi nghiệp (EK, β = 0,375) > Cam kết với môi trường (CE, β = 0,357) > Hỗ trợ từ trường đại học (US, β = 0,299) > Chuẩn chủ quan (SN, β = 0,003). Đường dẫn từ Ý định đến Hành vi (GEI → GEB, β = 0,611) mạnh nhất toàn mô hình. Năm biến độc lập giải thích 52,1% biến thiên của Ý định và Ý định giải thích 37,3% biến thiên của Hành vi khởi nghiệp xanh.

Phân tích tác động gián tiếp

Kiểm định Bootstrap (Bảng 3) cho thấy, 4 nhân tố CE, GS, US và EK đều có tác động gián tiếp có ý nghĩa thống kê đến Hành vi khởi nghiệp xanh qua Ý định (khoảng tin cậy 95% không chứa 0), trong đó GS mạnh nhất. Riêng Chuẩn chủ quan có tác động gián tiếp gần bằng 0 và không có ý nghĩa, nhất quán với việc bác bỏ H3.

Bảng 3: Kết quả tác động gián tiếp qua biến trung gian GEI

Đường dẫn gián tiếp

B (chưa chuẩn hóa)

Bootstrap 95% CI của B

β (chuẩn hóa)

P-value

Kết luận

CE → GEI → GEB

0,212

[0,179; 0,249]

0,218

0,001

Có ý nghĩa

GS → GEI → GEB

0,209

[0,180; 0,240]

0,268

0,001

Có ý nghĩa

SN → GEI → GEB

0,002

[−0,038; 0,045]

0,002

0,898

Không có ý nghĩa

US → GEI → GEB

0,180

[0,145; 0,213]

0,183

0,001

Có ý nghĩa

EK → GEI → GEB

0,198

[0,169; 0,232]

0,229

0,001

Có ý nghĩa

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát của nhóm tác giả

Thảo luận kết quả

Sự tự tin về năng lực khởi nghiệp xanh tác động mạnh nhất đến Yd định (β = 0,439), nhất quán với Roy (2023) và Trúc và cộng sự (2025): người tự tin cao thường chủ động tìm cơ hội, chấp nhận rủi ro và kiên trì hơn. Kiến thức khởi nghiệp (β = 0,375) mạnh thứ hai - khi được trang bị hiểu biết về nhận diện cơ hội, vận hành và huy động nguồn lực, sinh viên hình thành ý định rõ ràng hơn (Roxas, 2014). Cam kết với môi trường (β = 0,357) khẳng định khi giá trị môi trường trở thành giá trị cá nhân, sinh viên xem khởi nghiệp xanh vừa là cơ hội kinh doanh vừa là cách đóng góp xã hội (Amankwah và Sesen, 2021).

Sự hỗ trợ từ trường đại học tác động tích cực nhưng khiêm tốn (β = 0,299), có thể do các chương trình hỗ trợ còn chung chung, chưa chuyên biệt cho khởi nghiệp xanh. Chuẩn chủ quan không có tác động có ý nghĩa (β = 0,003; p = 0,928) - trái kỳ vọng của TPB nhưng tương đồng với Al-Mamary (2025) - có thể do: (i) nhận thức về khởi nghiệp xanh trong gia đình và bạn bè sinh viên còn hạn chế nên chưa tạo áp lực xã hội đủ mạnh; và (ii) thang đo sau khi loại SN4 chỉ còn phản ánh chuẩn mực mệnh lệnh, tương quan rất thấp với các cấu trúc khác nên chưa nắm bắt đầy đủ các nguồn ảnh hưởng xã hội chi phối quyết định của sinh viên Việt Nam. Tác động rất mạnh của ý định đến hành vi (β = 0,611) xác nhận ý định là cầu nối chuyển hóa nhận thức và động lực môi trường thành hành động, phù hợp với TPB và Wahyono và cộng sự (2024).

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Dựa trên khảo sát 1.013 sinh viên và cựu sinh viên mới tốt nghiệp khối ngành kinh tế tại Hà Nội, nghiên cứu cho thấy Sự tự tin về năng lực khởi nghiệp xanh, Kiến thức khởi nghiệp, Cam kết với môi trường và Hỗ trợ từ trường đại học có quan hệ tích cực với Ý định khởi nghiệp xanh, trong khi Chuẩn chủ quan không có ý nghĩa; ý định có quan hệ mạnh với hành vi và tạo con đường tác động gián tiếp từ bốn tiền tố được ủng hộ đến hành vi. Kết quả mở rộng TPB bằng các cấu trúc năng lực cá nhân và môi trường học tập từ SCT; đồng thời cho thấy giá trị môi trường chỉ dễ chuyển thành hành động khi đi kèm kiến thức, cảm nhận năng lực và điều kiện hỗ trợ.

Từ kết quả, nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị theo 3 nhóm chủ thể. Với cơ sở giáo dục đại học: tích hợp sâu kiến thức khởi nghiệp xanh vào các môn cốt lõi; xây dựng học tập trải nghiệm (dự án, cuộc thi, thực tập, cố vấn) để củng cố sự tự tin về năng lực - nhân tố mạnh nhất; và chuyển hỗ trợ từ chung chung sang chuyên biệt qua các trung tâm ươm tạo khởi nghiệp xanh. Với cơ quan quản lý và tổ chức hỗ trợ: hoàn thiện khung pháp lý và hệ thống phân loại xanh quốc gia, thiết kế chương trình tài chính đặc thù giai đoạn đầu cho startup xanh trẻ, mở rộng ươm tạo chuyên biệt và kiến tạo chuẩn mực xã hội ủng hộ khởi nghiệp xanh qua truyền thông. Với sinh viên: xây dựng nền tảng kiến thức liên ngành, phát triển sự tự tin theo lộ trình tích lũy và hình thành cộng đồng khởi nghiệp xanh như hệ sinh thái học tập đồng đẳng.

Tài liệu tham khảo:

1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211. https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T

2. Ali, M., Mohammed Abdullah Ammer, & Elshaer, I. A. (2023). Born to be green: Antecedents of Green entrepreneurship intentions among higher education students. Sustainability, 15(8), 6668-6668. https://doi.org/10.3390/su15086668

3. Al-Mamary, Y. H. (2025). Factors shaping green entrepreneurial intentions towards green innovation: An integrated model. Future Business Journal, 11(1), 21. https://doi.org/10.1186/s43093-025-00443-8

4. Amankwah, J., & Sesen, H. (2021). On the Relation between Green Entrepreneurship Intention and Behavior. Sustainability, 13(13), 7474. https://doi.org/10.3390/su13137474

5. Bandura, A. (1986). Social foundations of thought and action: A social cognitive theory. Prentice-Hall.

6. Bộ Khoa học và Công nghệ. (2025, April 16). Thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. https://mst.gov.vn/thuc-day-khoi-nghiep-sang-tao-trong-linh-vuc-chuyen-doi-xanh-va-phat-trien-ben-vung-197250416153519453.htm

7. Chau, T. L. D., Phan, V. D., & Nguyen Pham, T. A. (2025). Multiple pathways to green entrepreneurial behaviour: A configurational study in Vietnam. Journal of Open Innovation: Technology, Market, and Complexity, 11(1).

8. Fayolle, A., & Gailly, B. (2015). The Impact of Entrepreneurship Education on Entrepreneurial Attitudes and Intention: Hysteresis and Persistence. Journal of Small Business Management, 53(1), 75-93. https://doi.org/10.1111/jsbm.12065

9. Gibbs, D., & O’Neill, K. (2014). Rethinking Sociotechnical Transitions and Green Entrepreneurship: The Potential for Transformative Change in the Green Building Sector. Environment and Planning A: Economy and Space, 46(5), 1088-1107. https://doi.org/10.1068/a46259

10. Gorsuch, R. L. (2013). Factor Analysis (0 ed.). Psychology Press. https://doi.org/10.4324/9780203781098

11. Hameed, I., Zaman, U., Waris, I., & Shafique, O. (2021). A Serial-Mediation Model to Link Entrepreneurship Education and Green Entrepreneurial Behavior: Application of Resource-Based View and Flow Theory. International Journal of Environmental Research and Public Health, 18(2), 550. https://doi.org/10.3390/ijerph18020550

12. Kautonen, T., Hatak, I., Kibler, E., & Wainwright, T. (2015). Emergence of entrepreneurial behaviour: The role of age-based self-image. Journal of Economic Psychology, 50, 41-51. https://doi.org/10.1016/j.joep.2015.07.004

13. Mabkhot, H., Semlali, Y., Gelaidan, H. M., Abdelwahed, N. A. A., & Shaari, H. (2024). Green entrepreneurial intentions in Saudi youth: Cultural insights and implications. Discover Sustainability, 5(1), 480. https://doi.org/10.1007/s43621-024-00750-0

14. Nghĩa, T. H. (2024). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xanh của sinh viên Khoa Quản trị Kinh doanh Trường Cao đẳng công Thương TP. Hồ Chí Minh. Tạp chí Công thương, 20, 236-241.

15. Roxas, B. (2014). Effects of entrepreneurial knowledge on entrepreneurial intentions: A longitudinal study of selected South-east Asian business students. Journal of Education and Work, 27(4), 432-453. https://doi.org/10.1080/13639080.2012.760191

16. Roy, S. K. (2023). Factors influencing undergraduate students’ green entrepreneurial intentions: Evidence from an emerging economy. Entrepreneurship Education, 6(4), 365-398. https://doi.org/10.1007/s41959-023-00105-2

17. Trúc, N. N. T., Thủy, T. T. P., & Duy, D. T. (2025). Phân tích các nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp xanh của sinh viên trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học Kinh tế, 12(01).

18. Wahyono, T., Satriyo, F. R., & Andriyani. (2024). The role of Green Entrepreneurial Intention in Shaping Green Entrepreneurial behavior: A literature review. Research Horizon, 04(04), 35-46.

Ngày nhận bài: 1/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/9/2026; Ngày duyệt đăng: 23/9/2026

Các tin khác

Chính sách quản lý về phát triển chính quyền số tại Hà Tĩnh: Thực trạng và giải pháp

Chính sách quản lý về phát triển chính quyền số tại Hà Tĩnh: Thực trạng và giải pháp

Chuyển đổi số trong khu vực công không còn được hiểu đơn giản là chuyển hồ sơ giấy thành hồ sơ điện tử hay đưa thủ tục hành chính lên môi trường mạng. Quá trình này ngày càng gắn với sự thay đổi sâu sắc về cấu trúc tổ chức, quy trình ra quyết định, phương thức cung cấp dịch vụ công và quan hệ giữa chính quyền với người dân, doanh nghiệp.
Nhận thức môi trường, chuẩn mực chủ quan và sẵn sàng trả giá cao cho bao bì thân thiện môi trường tại Việt Nam: Kiểm định mô hình Lý thuyết TPB mở rộng

Nhận thức môi trường, chuẩn mực chủ quan và sẵn sàng trả giá cao cho bao bì thân thiện môi trường tại Việt Nam: Kiểm định mô hình Lý thuyết TPB mở rộng

Tại Việt Nam, nơi thu nhập trung bình còn hạn chế nhưng nhận thức về môi trường đang tăng nhanh, việc hiểu cơ chế thúc đẩy việc sẵn sàng trả giá cao có ý nghĩa chiến lược quan trọng cho cả chính sách lẫn hoạt động kinh doanh.
Phát triển logistics thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam

Phát triển logistics thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam

Theo Ngân hàng Thế giới, chi phí logistics của Việt Nam từng ở mức tương đương 20,8% GDP, gần gấp đôi mức trung bình thế giới là 10,7%. Chiến lược phát triển logistics quốc gia đến năm 2030 đặt mục tiêu đưa tỷ lệ này giảm xuống còn khoảng 16-18% GDP. Bên cạnh đó, thương mại điện tử Việt Nam đang tăng trưởng với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất khu vực Đông Nam Á.
Xuất nhập khẩu Việt Nam sau 40 năm đổi mới

Xuất nhập khẩu Việt Nam sau 40 năm đổi mới

Việc nhìn lại chặng đường 40 năm phát triển xuất nhập khẩu có ý nghĩa cần thiết để nhận diện quá trình chuyển biến, những kết quả đạt được và các vấn đề còn đặt ra cho giai đoạn mới.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên trong bối cảnh chuyển đổi số: Trường hợp doanh nghiệp sản xuất tại Hà Nội

Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên trong bối cảnh chuyển đổi số: Trường hợp doanh nghiệp sản xuất tại Hà Nội

Trong môi trường sản xuất, nơi các quy trình, công nghệ và công cụ sản xuất đang ngày càng hiện đại hóa và tích hợp các hệ thống số hóa, hành vi chia sẻ tri thức giữa các nhân viên càng trở nên phức tạp và đa chiều.
Mô hình nghiên cứu tác động của thương hiệu nhà tuyển dụng số đến ý định ứng tuyển của thế hệ Z tại Việt Nam

Mô hình nghiên cứu tác động của thương hiệu nhà tuyển dụng số đến ý định ứng tuyển của thế hệ Z tại Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng cạnh tranh và lực lượng lao động Gen Z từng bước trở thành một bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực, việc thu hút những ứng viên trẻ có năng lực đang trở thành một trong những thách thức đáng quan tâm đối với các tổ chức.
Tuân thủ thuế của hộ kinh doanh trong bối cảnh số hóa quản lý thuế: Bằng chứng từ Đồng Nai

Tuân thủ thuế của hộ kinh doanh trong bối cảnh số hóa quản lý thuế: Bằng chứng từ Đồng Nai

Tuân thủ thuế của hộ kinh doanh góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả quản lý và thúc đẩy số hóa quản lý thuế.
Xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến quản trị nguồn nhân lực và hiệu quả của doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Đông Nam Bộ

Xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến quản trị nguồn nhân lực và hiệu quả của doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Đông Nam Bộ

Hiệu quả kinh doanh hiện nay không chỉ phụ thuộc vào vốn mà ngày càng gắn với khả năng thu hút, phát triển, gắn kết và sử dụng nguồn nhân lực, đòi hỏi quản trị nguồn nhân lực cần được nhìn nhận như một năng lực chiến lược.
Tác động của áp lực khách hàng đến xuất khẩu đối với doanh nghiệp tại Việt Nam

Tác động của áp lực khách hàng đến xuất khẩu đối với doanh nghiệp tại Việt Nam

Mối quan hệ giữa áp lực khách hàng và hiệu quả xuất khẩu đã được giới học thuật quan tâm, nhưng các nghiên cứu hiện tại vẫn tồn tại luồng quan điểm khác biệt giữa việc buộc phải tuân thủ và việc chủ động tận dụng tri thức của khách hàng để cải thiện tính bền vững.
Tái định cư lấy người dân làm trung tâm trong tái thiết đô thị: Cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Tái định cư lấy người dân làm trung tâm trong tái thiết đô thị: Cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Trong khi xu hướng quốc tế đang chuyển mạnh sang mô hình tái định cư lấy người dân làm trung tâm, nhấn mạnh phục hồi sinh kế, nâng cao chất lượng sống và tăng cường sự tham gia của cộng đồng, Việt Nam vẫn thiếu một khung chính sách toàn diện bảo đảm các mục tiêu này.