Tác động của áp lực khách hàng đến xuất khẩu đối với doanh nghiệp tại Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 08:19 | 24/09/2026
Mối quan hệ giữa áp lực khách hàng và hiệu quả xuất khẩu đã được giới học thuật quan tâm, nhưng các nghiên cứu hiện tại vẫn tồn tại luồng quan điểm khác biệt giữa việc buộc phải tuân thủ và việc chủ động tận dụng tri thức của khách hàng để cải thiện tính bền vững.

Bùi Thành Tâm (Tác giả liên hệ)

NCS. Trường Đại học Lạc Hồng

ThS. Trường Kinh tế Tài chính, Trường Đại học Thủ Dầu Một; Email: [email protected]

Huỳnh Anh Tuyên

Đại diện Văn phòng Bộ Công Thương tại Khu vực Miền Trung - Miền Nam

Nguyễn Ngọc Minh

Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh

Nguyễn Thanh Tâm

Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu kinh tế Đồng Nai

Tóm tắt

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, xuất khẩu đóng vai trò là động lực tăng trưởng cốt lõi của nền kinh tế Việt Nam. Xu hướng tiêu dùng toàn cầu đang dịch chuyển mạnh mẽ sang ưu tiên các giá trị xanh, bền vững và an toàn, tạo ra áp lực lớn từ phía khách hàng quốc tế đối với các doanh nghiệp xuất khẩu. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm làm rõ tác động của áp lực khách hàng đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp tại Việt Nam. Áp dụng quy trình đánh giá PRISMA kết hợp phương pháp thư mục lượng (bibliographic coupling) để phân tích 123 ấn phẩm khoa học trên cơ sở dữ liệu Scopus (tính đến tháng 12/2025) cùng dữ liệu thứ cấp từ các tổ chức quốc tế, nghiên cứu chỉ ra rằng áp lực từ khách hàng vừa là thách thức tuân thủ, vừa đóng vai trò đòn bẩy thúc đẩy đổi mới công nghệ, quản lý chuỗi cung ứng xanh và nâng cao hiệu suất xuất khẩu. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất những giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy xuất khẩu bền vững cho doanh nghiệp Việt Nam.

Từ khóa: Áp lực khách hàng, xuất khẩu, doanh nghiệp Việt Nam

Abstract

In the context of international economic integration, exports serve as a core growth engine for Vietnam's economy. Global consumption trends are shifting sharply toward green, sustainable, and safe values, exerting substantial pressure from international customers on exporting enterprises. This study aims to clarify the impact of customer pressure on the export activities of Vietnamese firms. Utilizing the PRISMA review protocol combined with bibliographic coupling to analyze 123 scientific publications from the Scopus database (up to December 2025), alongside secondary data from international organizations, the findings indicate that customer pressure acts not only as a compliance challenge but also as a leverage driving technological innovation, green supply chain management, and export performance enhancement. On this basis, the study proposes key solutions to enhance competitiveness and foster sustainable exports for Vietnamese enterprises.

Keywords: Customer pressure, Export, Vietnamese enterprises

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, xuất khẩu là động lực tăng trưởng cốt lõi, giúp nâng cao hiệu suất sản xuất, tạo việc làm và tăng trưởng kinh tế quốc gia. Tại Việt Nam, các ngành xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường và tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhằm duy trì thế mạnh này, việc nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm xuất khẩu trên thị trường thế giới luôn là ưu tiên hàng đầu.

Tuy nhiên, nhiều thị trường nhập khẩu đang dịch chuyển rõ rệt sang xu hướng ưu tiên các giá trị xanh hóa, bền vững, an toàn và trách nhiệm xã hội. Thực tế này tạo ra áp lực mạnh mẽ từ phía khách hàng, bắt buộc doanh nghiệp xuất khẩu phải áp dụng công nghệ mới, chuyển đổi số và cải tiến quy trình để đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về môi trường. Tại Việt Nam, sức ép này hiện hữu qua các rào cản kỹ thuật phi thuế quan gia tăng và các quy định nghiêm ngặt. Doanh nghiệp đối mặt với nguy cơ bị cắt giảm đơn hàng hoặc thu hẹp thị phần.

Mối quan hệ giữa áp lực khách hàng và hiệu quả xuất khẩu đã được giới học thuật quan tâm, nhưng các nghiên cứu hiện tại vẫn tồn tại luồng quan điểm khác biệt giữa việc buộc phải tuân thủ và việc chủ động tận dụng tri thức của khách hàng để cải thiện tính bền vững. Đồng thời, tài liệu vẫn chưa phân biệt rõ áp lực từ các phân khúc khách hàng khác nhau sẽ ảnh hưởng thế nào đến mức độ đầu tư vào hệ thống quản lý môi trường của doanh nghiệp. Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm làm rõ tác động của áp lực khách hàng đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp tại Việt Nam thông qua phương pháp lược khảo tài liệu kết hợp phân tích bối cảnh thực tiễn. Từ đó, đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ giúp doanh nghiệp Việt Nam chuyển dịch mô hình cạnh tranh, thích ứng linh hoạt và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị thương mại quốc tế.

KHÁI NIỆM ÁP LỰC KHÁCH HÀNG VÀ XUẤT KHẨU

Khái niệm áp lực khách hàng

Áp lực từ khách hàng là mức độ mà khách hàng đòi hỏi và yêu cầu doanh nghiệp phải tuân thủ hoặc áp dụng các tiêu chuẩn nhất định. Áp lực này đóng vai trò như một lực đẩy mạnh mẽ và thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện các thay đổi hoặc cải tiến sản phẩm (Tran, 2024). Trên thực tế, phần lớn những đổi mới sản phẩm trong doanh nghiệp là kết quả từ áp lực này (Tomaszewski, 2015). Về bản chất, áp lực khách hàng xuất phát từ những yêu cầu đa dạng như nhu cầu đổi mới, mong muốn cải thiện chất lượng dịch vụ, các tiêu chuẩn môi trường và áp lực giảm chi phí sản xuất (Tomaszewski, 2015).

Áp lực từ khách hàng còn tác động đến quá trình chuyển đổi số và xu hướng phát triển bền vững của tổ chức. Áp lực này ảnh hưởng trực tiếp đến việc áp dụng những công nghệ mới. Trong những năm gần đây, thị hiếu thị trường đã có sự dịch chuyển rõ rệt khi khách hàng ưu tiên các giá trị xanh hóa và bền vững. Sự thay đổi này xuất phát từ một thị trường ngày càng quan tâm đến sinh thái, khách hàng sẵn sàng ủng hộ các công ty minh bạch và có trách nhiệm xã hội (Sulemana và cộng sự, 2025). Do đó, áp lực từ khách hàng đóng vai trò quyết định trong việc thúc đẩy tư duy, sáng tạo xanh, định hình các chiến lược bền vững (Tran, 2024), bắt buộc doanh nghiệp phải thực thi các chính sách thân thiện với môi trường và tăng cường công khai thông tin về tính bền vững (Sulemana và cộng sự, 2025).

Khái niệm xuất khẩu

Xét trên phương diện lịch sử, xuất khẩu là một trong những hoạt động kinh doanh quốc tế lâu đời; trong đó nhiều thương nhân đưa sản phẩm địa phương đến những thị trường xa xôi, nơi chúng được xem là khan hiếm và có nhu cầu cao (Samiee và cộng sự, 2014). Đứng từ góc độ kinh tế vĩ mô và thương mại quốc tế, xuất khẩu là hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ở một quốc gia và được bán cho người mua ở một quốc gia khác. Tại Việt Nam, Luật Quản lý ngoại thương quy định rõ: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật” (Quốc hội, 2017).

Trên thực tế, xuất khẩu là bước đầu tiên để các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế. Quá trình này cho phép doanh nghiệp tiếp cận thị trường mới và đa dạng hóa khách hàng thông qua việc áp dụng các mô hình kinh doanh khác nhau và phù hợp với năng lực của công ty (Samiee và cộng sự, 2014). Hoạt động này giúp mở rộng thị trường tiêu thụ và tăng doanh thu của doanh nghiệp và là một phần của thu nhập quốc gia và là một trong những yếu tố chính quyết định mức độ phát triển của các quốc gia (Bayar, 2018).

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong xu thế tiêu dùng bền vững, áp lực từ thị trường đang dịch chuyển sang các tiêu chuẩn sinh thái. Do đó, nghiên cứu này tập trung giải quyết câu hỏi: Áp lực từ khách hàng quốc tế thúc đẩy các doanh nghiệp xuất khẩu tại thị trường mới nổi như Việt Nam thực hiện các sáng kiến đổi mới xanh và nâng cao cường độ xuất khẩu như thế nào? Để trả lời câu hỏi này, nghiên cứu áp dụng phương pháp lược khảo tài liệu phân tích bối cảnh thực tiễn. Dựa trên quá trình đánh giá PRISMA, nghiên cứu ứng dụng phương pháp bibliometrics coupling để khảo lược 123 ấn phẩm (công bố khoa học trên scopus với từ khóa [“Customer Pressure”], tính đến tháng 12/2025) trong lĩnh vực kinh doanh, quản lý và kế toán và kinh tế, kinh tế lượng và tài chính để nghiên cứu về mối quan hệ giữa áp lực khách hàng và xuất khẩu. Đồng thời, phân tích bối cảnh thực tiễn bằng cách sử dụng các dữ liệu và báo cáo thứ cấp từ các tổ chức quốc tế uy tín. Từ đó, đối chiếu lý thuyết vào thực trạng của các doanh nghiệp tại Việt Nam trong các ngành xuất khẩu.

TÁC ĐỘNG CỦA ÁP LỰC KHÁCH HÀNG ĐẾN DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU TẠI VIỆT NAM

Tổng quan nghiên cứu về áp lực khách hàng đến doanh nghiệp xuất khẩu tại Việt Nam

Trong bối cảnh kinh doanh quốc tế hiện đại, áp lực từ khách hàng về môi trường và uy tín xanh đã trở thành một nhân tố cốt lõi tác động mạnh mẽ đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp. Khi các doanh nghiệp tăng cường xuất khẩu, những yêu cầu khắt khe về sinh thái từ phía thị trường nhập khẩu ngày càng gia tăng. Điều này bắt buộc hệ thống quản lý môi trường phải được vận hành chặt chẽ hơn để nâng cao hiệu quả bền vững (Hung và cộng sự, 2023). Nghiên cứu của Shu và cộng sự (2024) chỉ ra rằng, đổi mới xanh và quản lý chuỗi cung ứng xanh là những điều kiện tiên quyết quyết định đến hiệu quả xuất khẩu; trong đó, mối tương quan tích cực này đạt trạng thái bền vững nhất khi có sự kết hợp giữa mức độ rủi ro chính trị thấp tại nước nhập khẩu và những yêu cầu rõ ràng từ khách hàng về sản phẩm xanh. Nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe này, doanh nghiệp xuất khẩu bắt buộc phải triển khai những biện pháp bền vững mang tính thực tiễn cao thay vì chỉ dừng lại ở ý thức, từ đó đảm bảo hài hòa giữa mục tiêu môi trường và tối ưu hóa hiệu quả kinh tế (Hung và cộng sự, 2023).

Song song đó, áp lực từ khách hàng tác động đến cấu trúc vận hành nội bộ và chuỗi cung ứng khi đóng vai trò là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ triển khai xanh hóa tại nhiều doanh nghiệp xuất khẩu (Lai và cộng sự, 2012). Để giải quyết vấn đề này, việc cải tiến và đổi mới quy trình là cách thức hiệu quả giúp doanh nghiệp vừa thỏa mãn yếu cầu của khách hàng vừa nâng cao hiệu quả kinh doanh (Hung và cộng sự, 2023).

Bên cạnh việc tạo ra áp lực buộc thay đổi, khách hàng quốc tế còn đóng vai trò tích cực như một nguồn cung cấp thông tin, giúp doanh nghiệp thúc đẩy hiệu quả bền vững môi trường thông qua chính nguồn tri thức của họ (Li và cộng sự, 2017).

Mặc dù đạt được sự đồng thuận cao về việc áp lực từ khách hàng quốc tế và các bên liên quan là động lực hình thành chiến lược xuất khẩu xanh và marketing thân thiện với môi trường (Bıçakcıoğlu, 2018), các nghiên cứu hiện tại vẫn tồn tại những luồng quan điểm khác biệt. Trong khi một số học giả nhấn mạnh vào khía cạnh áp lực buộc phải tuân thủ (Bıçakcıoğlu, 2018), số khác lại tập trung vào việc chủ động tận dụng tri thức của khách hàng để cải thiện tính bền vững (Li và cộng sự, 2017).

Mối quan hệ giữa áp lực khách hàng và xuất khẩu

Trong xu hướng phát triển của nền kinh tế toàn cầu, các biến số liên quan đến áp lực khách hàng đóng vai trò là những nhân tố tiền đề mang tính quyết định, kích hoạt sự thay đổi chiến lược và định hình kết quả kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp.

Cụ thể, biến số áp lực từ các bên liên quan (trong đó khách hàng là trọng tâm) tác động tích cực đến chiến lược kinh doanh xuất khẩu xanh, từ đó thúc đẩy hiệu suất xuất khẩu và các chỉ số tài chính. Nhiều yếu cầu khắt khe này gây khó khăn cho doanh nghiệp tại thị trường nội địa nhưng chúng đóng vai trò như đòn bẩy thúc đẩy doanh nghiệp tích lũy tài nguyên, nâng cao năng lực tổ chức xuất khẩu. Đồng quan điểm, Bıçakcıoğlu (2018) khẳng định áp lực từ khách hàng là một trong những động lực bên ngoài thúc đẩy việc áp dụng các hành động bảo vệ môi trường, mang lại lợi thế cạnh tranh xuất khẩu và tối ưu hóa hiệu suất xuất khẩu tổng thể.

Bên cạnh tác động đến chiến lược và sản phẩm, áp lực khách hàng còn là mắt xích trực tiếp can thiệp và làm thay đổi các biến số vận hành trong chuỗi cung ứng của các nhà xuất khẩu. Khi nghiên cứu hành vi của các nhà sản xuất xuất khẩu, Lai và cộng sự (2012) chứng minh rằng biến số áp lực từ khách hàng là động lực quan trọng và có tác động mạnh mẽ nhất đến mức độ triển khai quản lý logistics xanh, vượt trội hơn hẳn so với các áp lực từ quy định pháp lý hay động lực kinh tế thuần túy. Việc thực hiện logistics xanh dưới áp lực này sau đó sẽ tạo ra tác động lan tỏa tích cực đến cả hiệu suất môi trường lẫn hiệu suất tài chính của doanh nghiệp xuất khẩu. Đối với những doanh nghiệp đã tham gia vào chuỗi cung ứng xanh, biến số quản trị quan hệ khách hàng đóng vai trò là một biến điều tiết hoặc trung gian.

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã xác định một mối quan hệ tương tác 2 chiều và đồng biến giữa mức độ tham gia vào thị trường quốc tế của doanh nghiệp với các áp lực xanh. Theo Hung và các cộng sự (2023), nhiều công ty gia tăng tỷ lệ tham gia vào hoạt động xuất khẩu thì họ phải đối mặt với biến số áp lực môi trường từ khách hàng và áp lực uy tín xanh ở mức độ cao. Hệ quả của mối quan hệ này là doanh nghiệp phải thực hiện hệ thống quản lý môi trường, dẫn đến sự cải thiện rõ rệt trong hiệu suất bền vững (đặc biệt là hiệu suất môi trường). Để giải quyết bài toán này một cách tối ưu, Hung và các cộng sự (2023) lập luận rằng, định hướng xuất khẩu của doanh nghiệp sẽ thúc đẩy một cách tiếp cận chủ động đối với áp lực xanh từ khách hàng. Thông qua vai trò trung gian của đổi mới quy trình, các doanh nghiệp sản xuất hướng đến xuất khẩu có thể chuyển hóa hiệu quả các yêu cầu môi trường khắt khe từ khách hàng thành động lực nội tại nhằm phân bổ tài nguyên hợp lý, nâng cao hiệu suất bền vững và giảm thiểu tối đa nhiều rủi ro tài chính.

Mối quan hệ giữa áp lực khách hàng và xuất khẩu trên thực tế

Trong bối cảnh thương mại quốc tế hiện nay, khách hàng nước ngoài ngày càng đóng vai trò quyết định đối với hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp. Thực tế, nhiều nhà nhập khẩu lớn tại Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc… yêu cầu sản phẩm phải đáp ứng đồng thời các tiêu chuẩn về chất lượng, an toàn, truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững (OECD, 2023). Từ năm 2023, Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu yêu cầu nhiều mặt hàng như cà phê, cao su, gỗ và ca cao phải chứng minh không liên quan đến hoạt động phá rừng nếu muốn tiếp tục được nhập khẩu vào thị trường EU (European Commission, 2023). Điều này khiến nhiều doanh nghiệp xuất khẩu phải đầu tư vào hệ thống truy xuất nguồn gốc, quản lý vùng nguyên liệu và số hóa dữ liệu để đáp ứng yêu cầu của khách hàng quốc tế.

Tại Việt Nam, áp lực từ khách hàng quốc tế được thể hiện trong nhiều ngành xuất khẩu như dệt may, da giày, thủy sản, đồ gỗ… Nhiều doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, bao gồm cả doanh nghiệp Việt Nam, đang đứng trước áp lực lớn từ các thương hiệu quốc tế trong việc thực thi các quy chuẩn nghiêm ngặt về giảm phát thải carbon và đảm bảo các điều kiện lao động công bằng (World Bank, 2022). Nếu không đáp ứng các yêu cầu này thì đơn hàng có thể bị cắt giảm hoặc chuyển sang các doanh nghiệp khác có năng lực đáp ứng tốt hơn. Ngược lại, những doanh nghiệp đầu tư cải thiện công nghệ, đạt được các chứng nhận quốc tế và xây dựng hệ thống quản lý chất lượng thường có khả năng duy trì khách hàng lâu dài, nhận được nhiều đơn hàng hơn và mở rộng thị trường xuất khẩu (World Bank, 2023).

Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các biện pháp phi thuế quan, đặc biệt là các tiêu chuẩn kỹ thuật và các biện pháp kiểm dịch động thực vật đang gia tăng nhanh chóng trên toàn cầu và trở thành một trong những yêu cầu quan trọng mà doanh nghiệp xuất khẩu phải đáp ứng để tiếp cận thị trường quốc tế (World Trade Organization, 2012). Việc đáp ứng các tiêu chuẩn này giúp doanh nghiệp duy trì thị trường xuất khẩu và nâng cao giá trị sản phẩm. Doanh nghiệp không đáp ứng được sẽ gặp khó khăn trong việc tiếp cận khách hàng hoặc phải chịu chi phí tuân thủ cao hơn.

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy áp lực từ khách hàng có thể trở thành động lực thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh. Nghiên cứu của Garcia-Castro và cộng sự (2023) chỉ ra rằng, các doanh nghiệp chịu áp lực lớn từ khách hàng về các yêu cầu môi trường thường đầu tư mạnh hơn vào các sáng kiến xanh. Từ đó, doanh nghiệp cải thiện khả năng cạnh tranh và gia tăng cường độ xuất khẩu. Điều này phản ánh thực tế rằng, nhiều khách hàng quốc tế hiện ưu tiên hợp tác với các nhà cung cấp có khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững. Trên thực tế, áp lực từ khách hàng là sức ép buộc doanh nghiệp phải thay đổi và là động lực thúc đẩy doanh nghiệp nâng cấp công nghệ, cải thiện chất lượng sản phẩm, minh bạch hóa chuỗi cung ứng và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, khách hàng trên thị trường xuất khẩu đặt ra những yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm, thời gian giao hàng, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn môi trường và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Điều này tạo ra áp lực lớn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam, buộc họ phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh và thích ứng với những yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế. Để nâng cao hiệu quả xuất khẩu trước áp lực từ khách hàng, doanh nghiệp Việt Nam cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp.

Trước hết, nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Đây là yếu tố quan trọng quyết định khả năng duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu trong bối cảnh các quốc gia nhập khẩu ngày càng tăng cường áp dụng các hàng rào kỹ thuật và tiêu chuẩn về chất lượng. Doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, hiện đại hóa dây chuyền sản xuất và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng như ISO 9001, HACCP, GlobalGAP, BRC, FSC... Đồng thời, việc xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng giúp doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu về tính minh bạch, an toàn và phát triển bền vững của khách hàng quốc tế. Theo OECD (2025), năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn toàn cầu và yêu cầu về phát triển bền vững đang trở thành nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu.

Thứ hai, chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả quản trị và cải thiện khả năng phục vụ khách hàng quốc tế. Trong bối cảnh khách hàng ngày càng yêu cầu thông tin minh bạch, phản hồi nhanh và khả năng theo dõi đơn hàng theo thời gian thực, doanh nghiệp cần đẩy mạnh ứng dụng các hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp, quản trị quan hệ khách hàng, quản lý chuỗi cung ứng, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và công nghệ blockchain trong truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Ngoài ra, việc khai thác các nền tảng thương mại điện tử B2B góp phần mở rộng thị trường và nâng cao khả năng tiếp cận khách hàng quốc tế. Theo World Bank (2024), chuyển đổi số giúp giảm chi phí giao dịch, nâng cao năng suất và tăng cường khả năng kết nối của doanh nghiệp Việt Nam với chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ ba, nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Hiện nay, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam vẫn tham gia vào các công đoạn có giá trị gia tăng thấp như gia công và lắp ráp, trong khi giá trị gia tăng cao chủ yếu thuộc về các doanh nghiệp FDI. Do đó, doanh nghiệp cần tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), thiết kế sản phẩm, đổi mới sáng tạo và xây dựng thương hiệu để doanh nghiệp từng bước tham gia vào các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi cung ứng quốc tế. Đồng thời, việc tăng cường liên kết với các doanh nghiệp FDI tạo điều kiện tiếp nhận công nghệ, kinh nghiệm quản trị và mở rộng mạng lưới khách hàng. OECD (2026) cho rằng việc thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh xuất khẩu của Việt Nam.

Thứ tư, đa dạng hóa thị trường và khách hàng xuất khẩu để giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống. Việc tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường sang các khu vực có nhiều tiềm năng như Trung Đông, Nam Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Đa dạng hóa thị trường hỗ trợ doanh nghiệp giảm thiểu tác động từ những biến động kinh tế hoặc chính sách thương mại của từng quốc gia mà còn nâng cao khả năng thích ứng trước các cú sốc trong thương mại toàn cầu (OECD, 2025).

Thứ năm, nâng cao năng lực logistics và quản trị chuỗi cung ứng. Khách hàng quốc tế ngày càng yêu cầu giao hàng đúng tiến độ với chi phí hợp lý và khả năng phản ứng nhanh trước các biến động của thị trường. Doanh nghiệp cần tối ưu hóa hoạt động tồn kho, ứng dụng các hệ thống quản lý kho (WMS), xây dựng kế hoạch dự phòng đối với các rủi ro về vận tải và tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp logistics chuyên nghiệp. Theo World Bank (2024), việc cải thiện hiệu quả logistics sẽ góp phần giảm chi phí giao dịch và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam.

Thứ sáu, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Doanh nghiệp chú trọng đào tạo đội ngũ nhân viên về ngoại ngữ, kỹ năng đàm phán quốc tế, quản trị hợp đồng, xử lý khiếu nại và các tiêu chuẩn thương mại quốc tế. Việc nâng cao kiến thức về phát triển bền vững và chuyển đổi số sẽ giúp doanh nghiệp thích ứng nhanh hơn với xu hướng mới của thị trường. OECD (2025) nhận định rằng, chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố cốt lõi giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, khả năng đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Thứ bảy, xây dựng thương hiệu và phát triển theo hướng bền vững nhằm gia tăng giá trị xuất khẩu. Thay vì chỉ gia công cho các thương hiệu nước ngoài, doanh nghiệp cần đầu tư xây dựng thương hiệu riêng, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại các thị trường mục tiêu và tăng cường hoạt động marketing quốc tế. Đồng thời, việc thực hiện các tiêu chuẩn về môi trường, trách nhiệm xã hội và quản trị doanh nghiệp, giảm phát thải carbon, sử dụng năng lượng tái tạo và công bố báo cáo phát triển bền vững sẽ giúp doanh nghiệp đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các nhà nhập khẩu lớn.

Tài liệu tham khảo:

1. Bayar, G. (2018). Estimating export equations: A survey of the literature. Empirical Economics, 54(2), 629-672.

2. Bıçakcıoğlu, N. (2018). Green business strategies of exporting manufacturing firms: Antecedents, practices, and outcomes. Journal of Global Marketing, 31(4), 246-269.

3. European Commission (2023). Regulation (EU) 2023/1115 of the European Parliament and of the Council of 31 May 2023 on the making available on the Union market and the export from the Union of certain commodities and products associated with deforestation and forest degradation. Official Journal of the European Union, 150, 206-254.

4. Garcia-Castro, F. L., Ruiz-Femenia, R., Salcedo-Diaz, R., & Caballero, J. A. (2023). Sustainable supply chain design under correlated uncertainty in energy and carbon prices. Journal of Cleaner Production, 414.

5. Lai, K. h., Wong, C. W. Y., & Cheng, T. C. E. (2012). Ecological modernisation of Chinese export manufacturing via green logistics management and its regional implications. Technological Forecasting and Social Change, 79(4), 766-770.

6. Li, E. L., Zhou, L., & Wu, A. (2017). The supply-side of environmental sustainability and export performance: The role of knowledge integration and international buyer involvement. International Business Review, 26(4), 724-735.

7. Hung, N, Onofrei, G., Wiengarten, F., Yang, Y., McClelland, R., & Akbari, M. (2023). The dual environmental customer and green reputation pressures on environmental management systems: The performance implications of manufacturing exports. Supply Chain Management: An International Journal, 28(4), 695-709.

8. OECD (2023). OECD Guidelines for Multinational Enterprises on Responsible Business Conduct. OECD Publishing.

9. OECD (2025). OECD Economic Surveys: Viet Nam 2025. OECD Publishing.

10. OECD (2026). FDI Qualities Review of Viet Nam: Powering the next growth phase. OECD Publishing.

11. Quốc hội (2017). Luật Quản lý Ngoại thương, số 05/2017/QH14, ngày 12/6/2017.

12. Samiee, S., Leonidou, L. C., & Aykol, B. (2014). Exploring the theoretical foundations of the exporter-importer relationship research. In L. C. Leonidou, S. Samiee, & B. Aykol (Eds.), Research Handbook on Export Marketing (pp. 405-430). Edward Elgar Publishing. https://doi.org/10.4337/9781781954393.00022

13. Shu, C., Zhao, J., Yao, Q., & Zhou, K. Z. (2024). Green innovation and export performance in emerging market firms: A legitimacy-based view. Management and Organization Review, 20(1), 85-110.

14. Sulemana, I., Cheng, L., Agyemang, A. O., Osei, A., & Nagriwum, T. M. (2025). Stakeholders and sustainability disclosure: Evidence from an emerging market. Sustainable Futures, 9.

15. Tomaszewski, M. (2015). Influence of customer pressure on the innovative activity of a company. Argumenta Oeconomica, 35(2), 227-246.

16. Tran, N. K. H. (2024). Customer pressure and creating green innovation: The role of green thinking and green creativity. Sustainable Futures, 7.

17. World Bank (2022). Trade and environmental sustainability: Competitiveness of Vietnam’s exporting sectors in the global value chains.

18. World Bank (2023). Vietnam country climate and development report.

19. World Bank (2024). Việt Nam 2045: Nâng cao vị thế thương mại trong một thế giới thay đổi.

20. World Trade Organization (2012). World trade report 2012: Trade and public policies: A closer look at non-tariff measures in the 21st century. World Trade Organization. https://www.wto.org/english/res_e/booksp_e/anrep_e/wtr12-2a_e.pdf.

Ngày nhận bài: 16/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 16/9/2026; Ngày duyệt đăng: 21/9/2026

Các tin khác

Chính sách quản lý về phát triển chính quyền số tại Hà Tĩnh: Thực trạng và giải pháp

Chính sách quản lý về phát triển chính quyền số tại Hà Tĩnh: Thực trạng và giải pháp

Chuyển đổi số trong khu vực công không còn được hiểu đơn giản là chuyển hồ sơ giấy thành hồ sơ điện tử hay đưa thủ tục hành chính lên môi trường mạng. Quá trình này ngày càng gắn với sự thay đổi sâu sắc về cấu trúc tổ chức, quy trình ra quyết định, phương thức cung cấp dịch vụ công và quan hệ giữa chính quyền với người dân, doanh nghiệp.
Nhận thức môi trường, chuẩn mực chủ quan và sẵn sàng trả giá cao cho bao bì thân thiện môi trường tại Việt Nam: Kiểm định mô hình Lý thuyết TPB mở rộng

Nhận thức môi trường, chuẩn mực chủ quan và sẵn sàng trả giá cao cho bao bì thân thiện môi trường tại Việt Nam: Kiểm định mô hình Lý thuyết TPB mở rộng

Tại Việt Nam, nơi thu nhập trung bình còn hạn chế nhưng nhận thức về môi trường đang tăng nhanh, việc hiểu cơ chế thúc đẩy việc sẵn sàng trả giá cao có ý nghĩa chiến lược quan trọng cho cả chính sách lẫn hoạt động kinh doanh.
Phát triển logistics thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam

Phát triển logistics thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam

Theo Ngân hàng Thế giới, chi phí logistics của Việt Nam từng ở mức tương đương 20,8% GDP, gần gấp đôi mức trung bình thế giới là 10,7%. Chiến lược phát triển logistics quốc gia đến năm 2030 đặt mục tiêu đưa tỷ lệ này giảm xuống còn khoảng 16-18% GDP. Bên cạnh đó, thương mại điện tử Việt Nam đang tăng trưởng với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất khu vực Đông Nam Á.
Xuất nhập khẩu Việt Nam sau 40 năm đổi mới

Xuất nhập khẩu Việt Nam sau 40 năm đổi mới

Việc nhìn lại chặng đường 40 năm phát triển xuất nhập khẩu có ý nghĩa cần thiết để nhận diện quá trình chuyển biến, những kết quả đạt được và các vấn đề còn đặt ra cho giai đoạn mới.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên trong bối cảnh chuyển đổi số: Trường hợp doanh nghiệp sản xuất tại Hà Nội

Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên trong bối cảnh chuyển đổi số: Trường hợp doanh nghiệp sản xuất tại Hà Nội

Trong môi trường sản xuất, nơi các quy trình, công nghệ và công cụ sản xuất đang ngày càng hiện đại hóa và tích hợp các hệ thống số hóa, hành vi chia sẻ tri thức giữa các nhân viên càng trở nên phức tạp và đa chiều.
Mô hình nghiên cứu tác động của thương hiệu nhà tuyển dụng số đến ý định ứng tuyển của thế hệ Z tại Việt Nam

Mô hình nghiên cứu tác động của thương hiệu nhà tuyển dụng số đến ý định ứng tuyển của thế hệ Z tại Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng cạnh tranh và lực lượng lao động Gen Z từng bước trở thành một bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực, việc thu hút những ứng viên trẻ có năng lực đang trở thành một trong những thách thức đáng quan tâm đối với các tổ chức.
Các nhân tố ảnh hưởng đến khởi nghiệp xanh của sinh viên khối ngành kinh tế trên địa bàn TP. Hà Nội

Các nhân tố ảnh hưởng đến khởi nghiệp xanh của sinh viên khối ngành kinh tế trên địa bàn TP. Hà Nội

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu phức tạp và áp lực chuyển đổi mô hình tăng trưởng toàn cầu, kinh tế xanh trở thành xu hướng phát triển tất yếu của thế kỷ XXI.
Tuân thủ thuế của hộ kinh doanh trong bối cảnh số hóa quản lý thuế: Bằng chứng từ Đồng Nai

Tuân thủ thuế của hộ kinh doanh trong bối cảnh số hóa quản lý thuế: Bằng chứng từ Đồng Nai

Tuân thủ thuế của hộ kinh doanh góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả quản lý và thúc đẩy số hóa quản lý thuế.
Xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến quản trị nguồn nhân lực và hiệu quả của doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Đông Nam Bộ

Xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến quản trị nguồn nhân lực và hiệu quả của doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Đông Nam Bộ

Hiệu quả kinh doanh hiện nay không chỉ phụ thuộc vào vốn mà ngày càng gắn với khả năng thu hút, phát triển, gắn kết và sử dụng nguồn nhân lực, đòi hỏi quản trị nguồn nhân lực cần được nhìn nhận như một năng lực chiến lược.
Tái định cư lấy người dân làm trung tâm trong tái thiết đô thị: Cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Tái định cư lấy người dân làm trung tâm trong tái thiết đô thị: Cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Trong khi xu hướng quốc tế đang chuyển mạnh sang mô hình tái định cư lấy người dân làm trung tâm, nhấn mạnh phục hồi sinh kế, nâng cao chất lượng sống và tăng cường sự tham gia của cộng đồng, Việt Nam vẫn thiếu một khung chính sách toàn diện bảo đảm các mục tiêu này.