Ảnh hưởng của chất lượng tương tác doanh nghiệp đến kiến thức nghề nghiệp và niềm tin năng lực bản thân của sinh viên: Nghiên cứu tại Trường Cao đẳng Dược Hà Nội
Nguyễn Thế Lực
NCS Trường Đại học Thương mại; Trường Cao đẳng Dược Hà Nội
Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu có mục đích đánh giá mối quan hệ giữa chất lượng tương tác doanh nghiệp, kiến thức nghề nghiệp và niềm tin năng lực bản thân của sinh viên đang theo học tại Trường Cao đẳng Dược Hà Nội. Thông qua dữ liệu từ 245 sinh viên năm 2 và năm 3, kết quả phân tích mô hình cấu trúc theo phương pháp PLS SEM nhấn mạnh chất lượng tương tác doanh nghiệp có tác động tích cực đến kiến thức nghề nghiệp và niềm tin năng lực bản thân. Kiến thức nghề nghiệp bên cạnh mối quan hệ tích cực cũng được chỉ ra có thể là yếu tố trung gian cho mối quan hệ chất lượng tương tác doanh nghiệp và niềm tin năng lực bản thân. Các kết quả đạt được hỗ trợ đề xuất một số hàm ý cả về lý thuyết và thực tiễn trong việc cải thiện các yếu tố nội tại của người học thông qua hợp tác nhà trường và doanh nghiệp tại cấp bậc đào tạo cao đẳng.
Từ khoá: Chất lượng tương tác doanh nghiệp, kiến thức nghề nghiệp, niềm tin năng lực bản thân, lý thuyết nhận thức xã hội, lý thuyết vốn con người giáo dục đào tạo cao đẳng
Abstract
This study aims to assess the relationships among the quality of business engagement, vocational knowledge, and self-efficacy beliefs among students at Ha Noi College of Pharmacy. Based on data from 245 second- and third-year students, the results of partial least squares structural equation modeling (PLS-SEM) indicate that the quality of business engagement positively affects both vocational knowledge and self-efficacy beliefs. In addition to its positive relationship with self-efficacy beliefs, vocational knowledge is also found to mediate the relationship between the quality of business engagement and self-efficacy beliefs. These findings support several theoretical and practical implications for strengthening learners’ internal capabilities through school–enterprise collaboration at the college level.
Keywords: Quality of business engagement, vocational knowledge, self-efficacy beliefs, Social Cognitive Theory, Human Capital Theory, college education
GIỚI THIỆU
Trong bối cảnh giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng ứng dụng và đáp ứng nhu cầu thị trường lao động, chất lượng tương tác giữa nhà trường và doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là một hoạt động bổ trợ mà đã trở thành một nhân tố chiến lược, quyết định sự thành công của quá trình đào tạo. Sự hợp tác này đóng vai trò như một cầu nối sống động, giúp kiến thức hàn lâm được “kiểm chứng” và chuyển hóa thành năng lực thực tiễn, đồng thời là kênh quan trọng để người học tiếp cận với văn hóa, quy trình và những đòi hỏi thực tế của môi trường chuyên nghiệp (Khan và Anwar, 2013). Đặc biệt, ở các nước đang phát triển như Việt Nam, nơi mà nguồn lực dành cho đào tạo thực hành còn hạn chế, mối quan hệ với doanh nghiệp càng trở nên cấp thiết như một giải pháp tối ưu để nâng cao chất lượng đào tạo và tăng cường khả năng sẵn sàng nghề nghiệp cho người học.
Mặc dù tầm quan trọng của tương tác doanh nghiệp đã được khẳng định trong nhiều nghiên cứu, phần lớn các công trình hiện có lại tập trung vào bậc đại học (Jackson, 2015; Nguyen và cộng sự, 2024), bỏ ngỏ bối cảnh đào tạo cao đẳng - nơi có đặc thù đào tạo gắn liền với thực hành và kỹ năng nghề nghiệp hơn là nghiên cứu lý thuyết. Điều này càng có ý nghĩa hơn đối với các trường đào tạo khối ngành sức khỏe như Điều dưỡng, Y học cổ truyền, Dược…, nơi mà yêu cầu về kỹ năng thực hành, sự chính xác và tuân thủ quy trình nghiêm ngặt được đặt lên hàng đầu, đòi hỏi người học phải được trải nghiệm và rèn luyện trong môi trường thực tế từ sớm. Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm về cơ chế tác động của chất lượng tương tác doanh nghiệp đến sự phát triển nội tại của sinh viên tại các cơ sở đào tạo cao đẳng khối sức khỏe vẫn còn rất hiếm hoi.
Xuất phát từ khoảng trống nhận thức này, nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích đánh giá mối quan hệ giữa chất lượng tương tác doanh nghiệp, kiến thức nghề nghiệp và niềm tin năng lực bản thân của sinh viên Trường Cao đẳng Dược Hà Nội. Trên nền tảng lý thuyết nhận thức xã hội (Bandura, 1997) và lý thuyết vốn con người (Becker, 1964), nghiên cứu đề xuất và kiểm định mô hình trong đó chất lượng tương tác doanh nghiệp vừa có tác động trực tiếp, vừa tác động gián tiếp thông qua kiến thức nghề nghiệp đến niềm tin năng lực bản thân. Qua đó, bài báo góp phần làm rõ cơ chế mà qua đó tương tác doanh nghiệp không chỉ trang bị kiến thức mà còn củng cố sự tự tin nghề nghiệp cho sinh viên, từ đó đề xuất các gợi ý chính sách cho nhà trường và các cơ sở đào tạo tương tự.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Lý thuyết nhận thức xã hội và lý thuyết vốn con người
Nghiên cứu này dựa trên lý thuyết nhận thức xã hội (Bandura, 1997) và lý thuyết vốn con người (Becker, 1964; Schultz, 1961). Lý thuyết nhận thức xã hội cho rằng niềm tin năng lực bản thân chịu ảnh hưởng bởi môi trường xã hội và nhận thức cá nhân. Tương tác doanh nghiệp là môi trường xã hội cung cấp kinh nghiệm thành công, quan sát gián tiếp và phản hồi xã hội, qua đó trực tiếp củng cố niềm tin năng lực bản thân (Bandura, 1997). Theo Lý thuyết vốn con người, tương tác doanh nghiệp là hình thức đầu tư giúp sinh viên tích lũy kiến thức nghề nghiệp (Becker, 1964). Khi kiến thức nghề nghiệp tăng, sinh viên có thêm nguồn lực nhận thức để đánh giá cao năng lực bản thân, từ đó niềm tin năng lực bản thân được nâng cao. Sự kết hợp hai lý thuyết này giải thích cả tác động trực tiếp của tương tác doanh nghiệp đến niềm tin năng lực bản thân và tác động gián tiếp thông qua kiến thức nghề nghiệp.
Giả thuyết nghiên cứu
Kiến thức nghề nghiệp và niềm tin năng lực bản thân
Niềm tin năng lực bản thân là niềm tin của một cá nhân vào khả năng tổ chức và thực hiện các hành động cần thiết để đạt được kết quả cụ thể (Bandura, 1997). Một môi trường đào tạo chất lượng cao xây dựng self-efficacy thông qua: Trải nghiệm thành công (thông qua các bài tập, dự án được thiết kế tốt); Học tập quan sát (nhìn thấy giảng viên và bạn bè thành công); Sự thuyết phục bằng lời nói (từ sự động viên, phản hồi tích cực của giảng viên); Trạng thái cảm xúc tích cực (từ một môi trường học tập hỗ trợ) (Usher và Pajares, 2008; Zimmerman, 2000). Khi sinh viên có niềm tin năng lực bản thân cao trong lĩnh vực chuyên môn, họ tự tin hơn khi đối mặt với những thách thức, công việc mới hoặc sự thay đổi. Trong khi đó, kiến thức nghề nghiệp được hiểu là tổng hòa các hiểu biết chuyên môn, kỹ năng thực hành và nhận thức về bối cảnh nghề nghiệp mà sinh viên tích lũy qua học tập và trải nghiệm (Becker, 1964; Eraut, 2002).
Theo lý thuyết vốn con người, kiến thức nghề nghiệp là một dạng vốn con người, phản ánh năng lực và giá trị của cá nhân trên thị trường lao động. Dựa trên Lý thuyết nhận thức xã hội, kiến thức nghề nghiệp là yếu tố nhận thức cá nhân có ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin năng lực bản thân (Bandura, 1997). Khi sinh viên sở hữu kiến thức nghề nghiệp vững chắc, họ có cơ sở nhận thức để tổ chức và thực hiện hành động hiệu quả, từ đó củng cố niềm tin vào khả năng của bản thân (Lent và cộng sự, 1994; Zimmerman, 2000). Đồng thời, kiến thức chuyên môn giúp giảm sự không chắc chắn và lo âu khi đối mặt với tình huống nghề nghiệp mới, góp phần tạo trạng thái cảm xúc tích cực (Bandura, 1997; Zimmerman, 2000). Các nghiên cứu thực nghiệm trong giáo dục đại học cũng cho thấy sinh viên có nền tảng kiến thức chuyên môn sâu thường thể hiện niềm tin năng lực bản thân cao hơn (Lent và cộng sự, 1994; Multon và cộng sự, 1991). Do đó, giả thuyết H1 được đề xuất:
H1: Kiến thức nghề nghiệp có quan hệ tích cực đến niềm tin năng lực bản thân.
Chất lượng tương tác doanh nghiệp
Trong bối cảnh giáo dục đại học ngày càng hướng đến tính ứng dụng và đáp ứng nhu cầu xã hội, tương tác doanh nghiệp đã trở thành một thành phần chất lượng không thể tách rời. Nó phản ánh mức độ liên kết hữu cơ và chiều sâu hợp tác giữa nhà trường - nơi tạo ra tri thức, và thị trường lao động – nơi tiêu thụ và ứng dụng tri thức đó. Mối liên kết này đóng vai trò như một cầu nối sống động, giúp kiến thức lý thuyết được “kiểm chứng”, “trưởng thành” và chuyển hóa thành năng lực thực tế (Khan và Anwar, 2013). Chất lượng của tương tác doanh nghiệp không chỉ dừng ở các buổi hội thảo hay thăm quan mà được đánh giá qua: mức độ tham gia của doanh nghiệp vào quá trình đào tạo (tham gia xây dựng chương trình, giảng dạy các chuyên đề thực tế, hướng dẫn đồ án); chất lượng và quy mô hỗ trợ thực tập, kiến tập; và cam kết đầu ra thông qua các chương trình tuyển dụng trực tiếp, học bổng do doanh nghiệp tài trợ, hoặc các vườn ươm khởi nghiệp (Jain và cộng sự, 2013).
Một mối quan hệ doanh nghiệp bền chặt mang lại lợi ích kép: đối với sinh viên, nó cung cấp kinh nghiệm thực tế quý giá, mở rộng mạng lưới nghề nghiệp và tăng cường cơ hội việc làm; đối với nhà trường, nó giúp cập nhật chương trình đào tạo, nâng cao vị thế và khẳng định chất lượng đào tạo thông qua sự chấp nhận của thị trường (Nguyen và cộng sự, 2024). Tầm quan trọng của yếu tố này đã được ghi nhận trong các mô hình chất lượng ở cả châu Á lẫn châu Âu, cho thấy đây là một xu thế toàn cầu (Đàm Trí Cường, 2016).
Dựa trên quan điểm từ lý thuyết vốn con người, tương tác với doanh nghiệp có thể được xem xét một hình thức đầu tư vào vốn con người; khi chất lượng tương tác càng cao (ví dụ: nội dung thực tiễn, sự hướng dẫn chuyên môn, cơ hội tham gia dự án thực tế), sinh viên càng có điều kiện tích lũy kiến thức nghề nghiệp sâu rộng (Becker, 1964; Kolb, 1984). Các nghiên cứu về học tập gắn với doanh nghiệp cũng cho thấy trải nghiệm thực tế chất lượng cao giúp sinh viên chuyển hóa lý thuyết thành tri thức nghề nghiệp bền vững (Jackson, 2015). Do đó, giả thuyết H2 được đề xuất:
H2: Chất lượng tương tác doanh nghiệp có quan hệ tích cực đến kiến thức nghề nghiệp của sinh viên.
Theo lý thuyết nhận thức xã hội, niềm tin năng lực bản thân được hình thành từ bốn nguồn thông tin: kinh nghiệm thành công, kinh nghiệm gián tiếp, thuyết phục xã hội và trạng thái cảm xúc (Bandura, 1997). Tương tác doanh nghiệp chất lượng cao cung cấp đầy đủ và rõ ràng hơn các nguồn thông tin này: sinh viên có nhiều cơ hội thành công trong nhiệm vụ thực tế, quan sát chuyên gia, nhận phản hồi tích cực và giảm lo lắng nhờ môi trường chuyên nghiệp (Billett, 2009; D'abate và cộng sự, 2009). Nhờ đó, niềm tin vào năng lực bản thân được củng cố mạnh mẽ hơn so với tương tác chất lượng thấp. Giả thuyết H3 được đề xuất:
H3: Chất lượng tương tác doanh nghiệp có quan hệ tích cực đến niềm tin năng lực bản thân của sinh viên.
Vai trò trung gian của kiến thức nghề nghiệp
Theo Lý thuyết nhận thức xã hội, môi trường xã hội ảnh hưởng đến nhận thức cá nhân, và nhận thức cá nhân lại định hình niềm tin năng lực bản thân (Bandura, 1986). Trong bối cảnh này, chất lượng tương tác doanh nghiệp là yếu tố môi trường, còn kiến thức nghề nghiệp là yếu tố nhận thức được hình thành từ môi trường đó. Các nghiên cứu về học tập gắn với doanh nghiệp chỉ ra rằng tương tác chất lượng cao giúp sinh viên tiếp thu kiến thức nghề nghiệp thông qua trải nghiệm thực tế, quan sát chuyên gia và phản hồi có cấu trúc (Billett, 2009; Jackson, 2015). Đồng thời, kiến thức nghề nghiệp vững chắc là nền tảng nhận thức then chốt để cá nhân đánh giá khả năng thực hiện nhiệm vụ; sinh viên có kiến thức chuyên môn sâu thường báo cáo mức niềm tin năng lực bản thân cao hơn (Lent và cộng sự, 1994; Multon và cộng sự, 1991). Như vậy, con đường tác động từ chất lượng tương tác doanh nghiệp đến niềm tin năng lực bản thân có thể được lý giải qua cơ chế trung gian: chất lượng tương tác doanh nghiệp càng cao, sinh viên càng tích lũy được nhiều kiến thức nghề nghiệp, và chính kiến thức này củng cố niềm tin vào năng lực bản thân. Quan điểm này phù hợp với mô hình nhân quả ba chiều của Bandura (1986), trong đó môi trường tác động đến nhận thức và nhận thức tác động đến niềm tin cá nhân. Do đó, giả thuyết H4 được đề xuất:
H4: Kiến thức nghề nghiệp đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa chất lượng tương tác doanh nghiệp và niềm tin năng lực bản thân.
Từ các giả thuyết, mô hình nghiên cứu được thiết lập như Hình.
Hình: Mô hình nghiên cứu
![]() |
Nguồn: Tác giả đề xuất
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thiết kế định lượng cắt ngang, khảo sát sinh viên năm 2 và năm 3 tại Trường Cao đẳng Dược Hà Nội. Dữ liệu được phân tích bằng mô hình phương trình cấu trúc bình phương bé nhất bán phần (PLS-SEM). Phương pháp này phù hợp vì mô hình nghiên cứu bao gồm các khái niệm tiềm ẩn, có quan hệ trung gian và cỡ mẫu vừa phải; PLS-SEM ưu tiên mục tiêu dự báo, đồng thời không đòi hỏi dữ liệu phải tuân theo phân phối chuẩn đa biến chặt chẽ.
Thang đo
Nghiên cứu sử dụng ba thang đo chính với các phát biểu được thiết kế dưới dạng Likert. Thang đo chất lượng tương tác doanh nghiệp gồm 5 biến quan sát, được phát triển từ Jain và cộng sự (2013) với bổ sung thực tiễn, trong đó có các câu điển hình như “Chuyên gia tham gia đào tạo” và “Nhà trường và doanh nghiệp cùng hỗ trợ việc làm sau tốt nghiệp”. Thang đo niềm tin năng lực bản thân gồm 5 items từ Schwarzer và Jerusalem (1995), với ví dụ “Tôi luôn có thể giải quyết những vấn đề khó khăn nếu tôi cố gắng đủ mức” và “Tôi tự tin rằng mình có thể xử lý hiệu quả những sự kiện bất ngờ”. Thang đo kiến thức nghề nghiệp gồm 4 items tích hợp từ Liu và cộng sự (2025) cùng Flynn và Goldsmith (1999), tiêu biểu như “Tôi biết nhiều về lĩnh vực chuyên môn mà tôi đang làm việc” và “Tôi tự tin về khả năng giải quyết các vấn đề chuyên môn phát sinh trong công việc”. Toàn bộ thang đo đều được đo lường theo mức độ đồng ý, đảm bảo tính nhất quán cho bối cảnh khảo sát sinh viên và người lao động.
Thu thập dữ liệu và mẫu nghiên cứu
Dữ liệu được thu thập bằng phiếu khảo sát trực tiếp từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2026 theo hình thức lấy mẫu thuận tiện tại Trường Cao đẳng Dược Hà Nội. Bảng hỏi gồm ba phần: phần giới thiệu mục tiêu nghiên cứu, hướng dẫn trả lời và cam kết đạo đức nghiên cứu; phần câu hỏi đo lường các khái niệm theo thang đo Likert 7 điểm; và phần thông tin cá nhân của người trả lời. Tổng số phiếu phát ra là 300, thu về 266 phiếu. Sau khi loại bỏ các phiếu thiếu thông tin hoặc trả lời thiếu tin cậy, mẫu phân tích cuối cùng gồm 245 quan sát, đạt tỷ lệ phản hồi hợp lệ khoảng 81,7%. Cỡ mẫu này đáp ứng yêu cầu tối thiểu cho phân tích PLS-SEM với số biến quan sát và số mối quan hệ trong mô hình. Đặc điểm mẫu nghiên cứu được mô tả tại Bảng 1.
Bảng 1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu
| Đặc điểm | Số lượng | Tỉ lệ % |
| Giới tính | ||
| Nam | 117 | 47,76 |
| Nữ | 128 | 52,24 |
| Tuổi | ||
| 18-20 | 104 | 42,45 |
| 21-23 | 118 | 48,16 |
| Trên 23 | 23 | 9,39 |
| Sinh viên năm thứ | ||
| Thứ 2 | 115 | 46,94 |
| Thứ 3 | 130 | 53,06 |
| Ngành theo học | ||
| Dược | 72 | 29,39 |
| Điều dưỡng | 54 | 22,04 |
| Hộ sinh | 12 | 4,90 |
| Y học cổ truyền | 42 | 17,14 |
| Kỹ thuật Vật lý trị liệu và Phục hồi chức năng | 25 | 10,20 |
| Ngành Chăm sóc sắc đẹp | 12 | 4,90 |
| Nhóm ngành ngôn ngữ Anh, Trung, Nhật và Hàn | 28 | 11,43 |
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kết quả chỉ ra rằng giá trị SRMR là 0,062, thấp hơn ngưỡng khuyến nghị 0,08, cho thấy mô hình phù hợp ở mức chấp nhận được. Độ tin cậy và giá trị của mô hình đo lường được khẳng định thông qua nhiều chỉ số thống kê. Như trình bày trong Bảng 2, hệ số Cronbach's alpha dao động từ 0,835 đến 0,914 và hệ số tin cậy tổng hợp (CR) dao động từ 0,883 đến 0,936, đều vượt ngưỡng 0,7. Hệ số tải ngoài (outer loadings) của các biến quan sát đều đạt trên 0,701 (Bảng 2), hỗ trợ cho độ tin cậy của chỉ báo. Giá trị hội tụ được thiết lập khi phương sai trích trung bình (AVE) dao động từ 0.603 đến 0,763 (Bảng 2), vượt ngưỡng 0,5. Giá trị phân biệt được đánh giá thông qua chỉ số Heterotrait-Monotrait (HTMT). Kết quả cho thấy các giá trị HTMT đều thấp hơn 0,85 (Bảng 3), đáp ứng các tiêu chuẩn khuyến nghị (Henseler và cộng sự, 2015; Hair và cộng sự, 2022).
Bảng 2: Thang đo, độ tin cậy và giá trị hội tụ
| Biến quan sát | Hệ số tải ngoài | VIF |
| Chất lượng tương tác doanh nghiệp: α = 0,835; rho_A = 0,853; CR = 0,883; AVE = 0,603 | ||
| CLTTDN1 | 0,725 | 1,569 |
| CLTTDN2 | 0,701 | 1,543 |
| CLTTDN3 | 0,817 | 2,823 |
| CLTTDN4 | 0,822 | 1,843 |
| CLTTDN5 | 0,808 | 2,849 |
| Kiến thức nghề nghiệp: α = 0,897; rho_A = 0,901; CR = 0,928; AVE = 0,763 | ||
| KTNN1 | 0,885 | 2,661 |
| KTNN2 | 0,832 | 2,08 |
| KTNN3 | 0,885 | 2,675 |
| KTNN4 | 0,892 | 3,048 |
| Niềm tin năng lực bản thân: α = 0,914; rho_A = 0,914; CR = 0,936; AVE = 0,745 | ||
| NTNLBT1 | 0,808 | 2,351 |
| NTNLBT2 | 0,862 | 2,661 |
| NTNLBT3 | 0,811 | 2,317 |
| NTNLBT4 | 0,917 | 3,976 |
| NTNLBT5 | 0,912 | 3,731 |
Nguồn: Phân tích của tác giả
Bảng 3: Kết quả HTMT về giá trị phân biệt và thống kê mô tả
| Biến | (1) | (2) | (3) | Trung bình | Độ lệch chuẩn |
| (1) CLTTDN | – | – | – | 4,223 | 0,512 |
| (2) KTNN | 0,769 | – | – | 4,185 | 0,895 |
| (3) NTNLBT | 0,770 | 0,857 | – | 4,679 | 0,820 |
Nguồn: Phân tích của tác giả
Kết quả phân tích mô hình cấu trúc sử dụng 5.000 mẫu bootstrap được trình bày trong Bảng 4. Kết quả cho thấy chất lượng tương tác doanh nghiệp có tác động tích cực đến cả kiến thức nghề nghiệp (β = 0,277, t = 4,349, p < 0,001) và niềm tin năng lực bản thân (β = 0,195, t = 3,091, p = 0,002). Ngoài ra, kiến thức nghề nghiệp được tìm thấy có tác động tích cực đáng kể đến niềm tin năng lực bản thân (β = 0,368, t = 5,981, p < 0,001).
Tác động gián tiếp của chất lượng tương tác doanh nghiệp đến niềm tin năng lực bản thân thông qua kiến thức nghề nghiệp cũng có ý nghĩa thống kê (β = 0,102, t = 3,358, p = 0,001, KTC 95% = [0,048; 0,165]), xác nhận vai trò trung gian của kiến thức nghề nghiệp. Tổng tác động của chất lượng tương tác doanh nghiệp đến niềm tin năng lực bản thân là β = 0,297 (t = 4,939, p < 0,001, KTC 95% = [0,169; 0,403]).
Sức mạnh giải thích của mô hình được thể hiện qua giá trị R², cho thấy chất lượng tương tác doanh nghiệp giải thích 7,7% phương sai của kiến thức nghề nghiệp và cùng với kiến thức nghề nghiệp giải thích 21,4% phương sai của niềm tin năng lực bản thân. Giá trị Q² cho kiến thức nghề nghiệp (0,063) và niềm tin năng lực bản thân (0,076) đều lớn hơn 0, xác nhận giá trị dự báo của mô hình.
Bảng 4: Kết quả phân tích mô hình cấu trúc
| Giả thuyết | β | f² | t | p | KTC 95% | Kết luận |
| Tác động trực tiếp | ||||||
| CLTTDN → KTNN | 0,277 | 0,083 | 4,349 | 0,000 | [0,138; 0,390] | Chấp nhận |
| CLTTDN → NTNLBT | 0,195 | 0,045 | 3,091 | 0,002 | [0,063; 0,312] | Chấp nhận |
| KTNN → NTNLBT | 0,368 | 0,159 | 5,981 | 0,000 | [0,233; 0,480] | Chấp nhận |
| Tác động gián tiếp |
| |||||
| CLTTDN → KTNN → NTNLBT | 0,102 | 3,358 | 0,001 | [0,048; 0,165] | Chấp nhận | |
| Tổng tác động | ||||||
| CLTTDN → NTNLBT | 0,297 | 4,939 | 0,000 | [0,169; 0,403] | ||
| Sức mạnh giải thích (R²) | ||||||
| R² (KTNN) = 0,077 | ||||||
| R² (NTNLBT) = 0,214 | ||||||
| Giá trị dự báo (Q²) | ||||||
| Q² (KTNN) = 0,063 | ||||||
| Q² (NTNLBT) = 0,076 |
Ghi chú: β – hệ số ước lượng chuẩn hoá
Nguồn: Phân tích của tác giả
THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý
Thảo luận kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu này được thiết kế nhằm làm rõ cơ chế tác động của chất lượng tương tác doanh nghiệp đến kiến thức nghề nghiệp và niềm tin năng lực bản thân của sinh viên trong bối cảnh đào tạo cao đẳng khối ngành sức khỏe. Kết quả phân tích đã xác nhận tất cả các giả thuyết đề xuất, mang lại một số phát hiện có giá trị.
Thứ nhất, chất lượng tương tác doanh nghiệp có tác động tích cực đến kiến thức nghề nghiệp của sinh viên. Phát hiện này khẳng định quan điểm của Lý thuyết vốn con người (Becker, 1964) rằng tương tác với doanh nghiệp là hình thức đầu tư hiệu quả giúp người học tích lũy tri thức chuyên môn thông qua trải nghiệm thực tế, phù hợp với các nghiên cứu trước đây về học tập gắn với doanh nghiệp (Billett, 2009; Jackson, 2015).
Thứ hai, chất lượng tương tác doanh nghiệp cũng được xác nhận có tác động tích cực trực tiếp đến niềm tin năng lực bản thân. Kết quả này củng cố lập luận của Lý thuyết nhận thức xã hội (Bandura, 1997) rằng các trải nghiệm chất lượng cao trong môi trường doanh nghiệp cung cấp cho sinh viên bốn nguồn thông tin quan trọng để hình thành niềm tin vào năng lực bản thân: kinh nghiệm thành công, quan sát gián tiếp từ chuyên gia, thuyết phục xã hội và trạng thái cảm xúc tích cực (Usher và Pajares, 2008).
Thứ ba, kiến thức nghề nghiệp có tác động mạnh mẽ đến niềm tin năng lực bản thân, khẳng định rằng nền tảng chuyên môn vững chắc là cơ sở nhận thức then chốt để cá nhân tự tin đối mặt với các tình huống phức tạp và giảm bớt sự không chắc chắn, lo âu (Lent và cộng sự, 1994; Zimmerman, 2000).
Đóng góp quan trọng nhất của nghiên cứu này là xác nhận vai trò trung gian của kiến thức nghề nghiệp, làm sáng tỏ cơ chế mà qua đó chất lượng tương tác doanh nghiệp thúc đẩy niềm tin năng lực bản thân. Phát hiện này phù hợp với mô hình nhân quả ba chiều của Bandura (1986), trong đó môi trường tác động đến nhận thức, và nhận thức định hình niềm tin cá nhân. Điều này khẳng định rằng bên cạnh tác động trực tiếp, chất lượng tương tác doanh nghiệp còn gián tiếp củng cố niềm tin năng lực bản thân thông qua việc trang bị kiến thức chuyên môn vững chắc cho sinh viên.
Về mặt lý thuyết, nghiên cứu mở rộng phạm vi ứng dụng của lý thuyết nhận thức xã hội và lý thuyết vốn con người vào bối cảnh đào tạo cao đẳng khối ngành sức khỏe tại Việt Nam, đồng thời làm rõ cơ chế trung gian vốn chưa được đề cập đầy đủ trong các nghiên cứu trước (Nguyen và cộng sự, 2024).
Một số hàm ý quản trị
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu gợi ý một số hàm ý quan trọng đối với Trường Cao đẳng Dược Hà Nội cũng như các cơ sở đào tạo tương tự.
Một là, nhà trường cần nâng cao chất lượng tương tác với doanh nghiệp cả về số lượng lẫn chiều sâu hợp tác: mời chuyên gia tham gia giảng dạy, tổ chức thực tập có hướng dẫn bài bản và xây dựng chương trình hỗ trợ sinh viên sau tốt nghiệp.
Hai là, các hoạt động tương tác cần được thiết kế có mục tiêu rõ ràng nhằm tối ưu hóa cả hai kênh tác động - trực tiếp và gián tiếp thông qua kiến thức nghề nghiệp - đến niềm tin năng lực bản thân. Ba là, đối với các trường cao đẳng khác, đặc biệt trong khối ngành sức khỏe và đào tạo nghề, mô hình nghiên cứu này có thể được tham khảo như một công cụ đánh giá hiệu quả hợp tác doanh nghiệp, giúp nhận diện điểm mạnh và hạn chế để có chiến lược cải thiện phù hợp.
Bốn là, các chương trình đào tạo cần được thiết kế không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn xây dựng sự tự tin cho người học thông qua các trải nghiệm thành công và phản hồi tích cực từ môi trường thực tế.
Tài liệu tham khảo:
1. Bandura, A. (1986). Social foundations of thought and action. Englewood Cliffs, NJ, 1986(23-28), 2.Bandura, A. (1997). Self-efficacy: The exercise of control.
3. Becker, G. S. (1964). Human Capital: A Theoretical and Empirical Analysis, with Special Reference to Education, by Gary S. Becker.. (Vol. 1). London.
4. Billett, S. (2009). Realising the educational worth of integrating work experiences in higher education. Studies in higher education, 34(7), 827-843.
5. D'abate, C. P., Youndt, M. A., & Wenzel, K. E. (2009). Making the most of an internship: An empirical study of internship satisfaction. Academy of management learning & education, 8(4), 527-539.
6. Đàm Trí Cường. (2016). Khám phá thang đo chất lượng giáo dục bậc đại học ngành quản trị kinh doanh trên góc độ sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Luận án Tiến sĩ Quản trị kinh doanh trường Đại học Kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh.
7. Eraut, M. (2002). Developing professional knowledge and competence. Routledge.
8. Flynn, L. R., & Goldsmith, R. E. (1999). A short, reliable measure of subjective knowledge. Journal of business research, 46(1), 57-66.
9. Hair, J. F., Hult, G. T. M., Ringle, C. M., & Sarstedt, M. (2022). A primer on partial least squares structural equation modeling (PLS-SEM) (3rd ed.). Sage.
10. Henseler, J., Ringle, C. M., & Sarstedt, M. (2015). A new criterion for assessing discriminant validity in variance-based structural equation modeling. Journal of the academy of marketing science, 43(1), 115-135.
11. Jackson, D. (2015). Employability skill development in work-integrated learning: Barriers and best practice. Studies in higher education, 40(2), 350-367.
12. Jain, R., Sahney, S., & Sinha, G. (2013). Developing a scale to measure students’ perception of service quality in the Indian context. The TQM Journal, 25(3), 276-294.
13. Khan, S. B., & Anwar, S. (2013). University-industry partnership for development of knowledge. Asian journal of social sciences & humanities, 2(2), 268-274.
14. Kolb, D. A. (1984). Experiential learning: Experience as the source of learning and development (Vol. 1, No. 1, pp. 270-289). Englewood Cliffs, NJ: Prentice-hall.
15. Lent, R. W., Brown, S. D., & Hackett, G. (1994). Toward a unifying social cognitive theory of career and academic interest, choice, and performance. Journal of vocational behavior, 45(1), 79-122.
16. Liu, Z., Hoff, K. A., Chu, C., Oswald, F. L., & Rounds, J. (2025). Toward whole-person fit assessment: Integrating interests, values, skills, knowledge, and personality using the Occupational Information Network (O* NET). Journal of Applied Psychology, 110(5), 623.
17. Multon, K. D., Brown, S. D., & Lent, R. W. (1991). Relation of self-efficacy beliefs to academic outcomes: A meta-analytic investigation. Journal of counseling psychology, 38(1), 30.
18. Nguyen, H. V., Vu, T. D., Saleem, M., & Yaseen, A. (2024). The influence of service quality on student satisfaction and student loyalty in Vietnam: the moderating role of the university image. Journal of Trade Science, 12(1), 37-59.
19. Schultz, T. W. (1961). Investment in human capital: reply. The american economic review, 51(5), 1035-1039.
20. Schwarzer, R., & Jerusalem, M. (1995). Generalized self-efficacy scale. J. Weinman, S. Wright, & M. Johnston, Measures in health psychology: A user’s portfolio. Causal and control beliefs, 35(37), 82-003.
21. Usher, E. L., & Pajares, F. (2008). Sources of self-efficacy in school: Critical review of the literature and future directions. Review of educational research, 78(4), 751-796.
22. Zimmerman, B. J. (2000). Self-efficacy: An essential motive to learn. Contemporary educational psychology, 25(1), 82-91.
| Ngày nhận bài: 14/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 12/9/2026; Ngày duyệt đăng: 23/9/2026 |
Các tin khác
Ảnh hưởng của công bố thông tin ESG đến năng lực huy động vốn và hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp thủy sản xuất khẩu tại Việt Nam
Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ trên địa bàn TP. Hà Nội và giải pháp tăng cường hỗ trợ
Nguồn lực công nghệ trong các ngành công nghiệp sáng tạo Việt Nam: Từ ứng dụng đến làm chủ công nghệ
Yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng xe buýt điện của học sinh, sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh
Chính sách quản lý về phát triển chính quyền số tại Hà Tĩnh: Thực trạng và giải pháp
Nhận thức môi trường, chuẩn mực chủ quan và sẵn sàng trả giá cao cho bao bì thân thiện môi trường tại Việt Nam: Kiểm định mô hình Lý thuyết TPB mở rộng
Phát triển logistics thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam
Xuất nhập khẩu Việt Nam sau 40 năm đổi mới
Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên trong bối cảnh chuyển đổi số: Trường hợp doanh nghiệp sản xuất tại Hà Nội
