Chuyển đổi số trong các trường đại học công lập: Thực trạng và giải pháp

Nghiên cứu - Trao đổi 18:40 | 24/10/2026
Đối với các trường đại học công lập, yêu cầu chuyển đổi số mang tính kép: vừa phải nâng cao chất lượng đào tạo và năng lực cạnh tranh, vừa thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ công giáo dục hiệu quả, minh bạch và tiếp cận hơn.

ThS. Nguyễn Duy Hiệu

Đại học Công nghệ Kỹ thuật Vinh

Email: [email protected]

Tóm tắt

Chuyển đổi số đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với các trường đại học công lập Việt Nam trong bối cảnh tái cấu trúc mô hình đào tạo, quản trị đại học và đáp ứng nhu cầu nhân lực số. Nghiên cứu phân tích thực trạng chuyển đổi số tại các trường đại học công lập giai đoạn 2020-2025 trên 4 trụ cột: hạ tầng công nghệ thông tin, dữ liệu và quản trị số, dạy - học số, cùng năng lực số của đội ngũ và người học. Kết quả cho thấy, quá trình chuyển đổi số đạt bước tiến đáng kể về hạ tầng, hệ thống quản lý học tập và cơ sở dữ liệu ngành; tuy nhiên, mức độ triển khai còn không đồng đều, dữ liệu chưa được tích hợp mạnh, năng lực số của một bộ phận giảng viên và cán bộ quản lý còn hạn chế, trong khi đầu tư tài chính và cơ chế chia sẻ nguồn lực giữa các trường chưa bền vững. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất nhóm giải pháp hoàn thiện chiến lược chuyển đổi số, phát triển dữ liệu dùng chung, nâng cao năng lực số, đổi mới mô hình dạy - học và tăng cường cơ chế giám sát, đánh giá.

Từ khóa: Chuyển đổi số, trường đại học công lập, giáo dục đại học, quản trị số, dạy và học số

Abstract

Digital transformation has become an essential requirement for public universities in Viet Nam amid the restructuring of education and university governance models and the need to meet demand for a digitally skilled workforce. This study analyzes the state of digital transformation at public universities during the 2020-2025 period across four pillars: information technology infrastructure; data and digital governance; digital teaching and learning; and the digital capabilities of staff and learners. The findings indicate significant progress in infrastructure, learning management systems, and sectoral databases. However, implementation remains uneven, data integration is still limited, the digital capabilities of some lecturers and administrators remain inadequate, and financial investment and resource-sharing mechanisms among universities are not yet sustainable. Based on these findings, the study proposes a set of solutions to improve digital transformation strategies, develop shared data resources, enhance digital capabilities, innovate teaching and learning models, and strengthen monitoring and evaluation mechanisms.

Keywords: Digital transformation, public universities, higher education, digital governance, digital teaching and learning

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chuyển đổi số (CĐS) trong giáo dục đại học không chỉ là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các nghiệp vụ hành chính, mà là quá trình tái cấu trúc toàn diện mô hình quản trị, đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ người học dựa trên dữ liệu, nền tảng số và năng lực số của tổ chức. Tại Việt Nam, Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình CĐS quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, xác định giáo dục là 1 trong 8 lĩnh vực ưu tiên CĐS. Tiếp đó, Quyết định số 131/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và CĐS trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022-2025, định hướng đến năm 2030, đặt ra các mục tiêu cụ thể về đào tạo trực tuyến, số hóa hồ sơ, xây dựng cơ sở dữ liệu và quản trị trường học dựa trên dữ liệu (Thủ tướng Chính phủ, 2020, 2022).

Đối với các trường đại học công lập, yêu cầu CĐS mang tính kép: vừa phải nâng cao chất lượng đào tạo và năng lực cạnh tranh, vừa thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ công giáo dục hiệu quả, minh bạch và tiếp cận hơn. Đại dịch COVID-19 giai đoạn 2020-2021 đã trở thành cú hích cưỡng bức khiến các cơ sở giáo dục đại học phải nhanh chóng tổ chức dạy và học trực tuyến; tuy nhiên, nhiều trường chỉ dừng ở việc chuyển tiếp hoạt động lên môi trường mạng chứ chưa xây dựng được chiến lược CĐS có hệ thống (Nguyen và Hong, 2025). Thực tiễn này đặt ra câu hỏi nghiên cứu: Thực trạng CĐS tại các trường đại học công lập Việt Nam giai đoạn 2020-2025 đạt được những kết quả nào, còn tồn tại những hạn chế gì và cần những giải pháp nào để CĐS thực chất, bền vững?

Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận tổng hợp chính sách, số liệu thống kê ngành và kết quả triển khai thực tiễn để đánh giá thực trạng CĐS tại các trường đại học công lập. Phạm vi phân tích tập trung vào giai đoạn 2020-2025, với năm 2020 là điểm khởi đầu của Chương trình CĐS quốc gia và năm 2025 là mốc kết thúc giai đoạn triển khai Đề án 131/QĐ-TTg.

KHUNG LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Khung lý thuyết

CĐS trong trường đại học được hiểu là quá trình sử dụng công nghệ số, dữ liệu lớn (Big data), trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây và các nền tảng trực tuyến để thay đổi căn bản cách thức tổ chức quản trị, dạy học, nghiên cứu, kiểm tra đánh giá và phục vụ người học. Khác với số hóa (chuyển tài liệu giấy sang dạng điện tử) và số hóa quy trình (tự động hóa nghiệp vụ), CĐS đòi hỏi thay đổi mô hình vận hành, văn hóa tổ chức và cách ra quyết định dựa trên dữ liệu (Vial, 2019).

Trong giáo dục đại học, CĐS thường được cấu trúc theo 4 thành phần: (i) hạ tầng công nghệ và an toàn thông tin; (ii) dữ liệu, nền tảng và quản trị số; (iii) dạy - học, kiểm tra đánh giá và tài nguyên số; (iv) năng lực số của giảng viên, cán bộ quản lý và người học. Cách tiếp cận này phù hợp với mô hình 3 tầng trong nghiên cứu về chính sách CĐS giáo dục đại học Việt Nam, bao gồm tầng chính sách quốc gia, tầng quản trị cơ sở giáo dục và tầng thực thi trong hoạt động dạy - học (Nguyen và Hong, 2025).

Nghiên cứu này vận dụng khung phân tích 4 trụ cột sau: (1) Hạ tầng số; Mạng, thiết bị, phần mềm, an toàn thông tin; Tỷ lệ trường có hạ tầng đáp ứng dạy học trực tuyến; hệ thống quản lý học tập. (2) Dữ liệu và quản trị số; Cơ sở dữ liệu, hồ sơ số, kết nối dữ liệu, dịch vụ công; Hệ thống quản lý sinh viên, hồ sơ điện tử, văn bằng số, kết nối VneID. (3) Dạy - học số; Đào tạo trực tuyến, tài nguyên số, đánh giá trực tuyến; Tỷ lệ trường có hệ thống quản lý học tập (LMS); tỷ lệ học phần trực tuyến; MOOC. (4) Năng lực số; Kỹ năng số của giảng viên, cán bộ, sinh viên; Đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng công cụ số, dữ liệu trong ra quyết định.

Khung này cho phép đánh giá CĐS không chỉ theo mức độ trang bị công nghệ, mà còn theo khả năng chuyển hóa công nghệ thành giá trị đào tạo, quản trị và nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với kỹ thuật phân tích tài liệu, tổng hợp số liệu thứ cấp và so sánh theo thời gian. Nguồn dữ liệu bao gồm: Chương trình CĐS quốc gia; Đề án 131/QĐ-TTg; các báo cáo kết quả CĐS của Bộ Giáo dục và Đào tạo; cơ sở dữ liệu giáo dục đại học HEMIS; các nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước về CĐS giáo dục đại học Việt Nam. Phương pháp so sánh được sử dụng theo 2 chiều: so sánh theo thời gian 2020-2025 và so sánh giữa các thành phần CĐS nhằm nhận diện điểm mạnh, điểm nghẽn và khoảng cách triển khai.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Kết quả đạt được giai đoạn 2020-2025

Giai đoạn 2020-2025 ghi nhận sự chuyển dịch rõ nét từ ứng dụng công nghệ thông tin cục bộ sang xây dựng hệ sinh thái số của ngành Giáo dục. Trước năm 2020, nhiều trường đại học công lập chủ yếu sử dụng công nghệ cho văn phòng, thư viện điện tử và một số hệ thống quản lý riêng lẻ. Sau đại dịch COVID-19, CĐS được đẩy mạnh theo hướng xây dựng nền tảng dạy - học trực tuyến, số hóa hồ sơ người học và kết nối dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2024).

Bảng 1: Một số kết quả chuyển đổi số trong giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2020-2025

Chỉ tiêu

ĐVT

2020

2022

2024

2025

So sánh 2025/2020

Số cơ sở đào tạo được số hóa trong HEMIS

Cơ sở

-

470

470

470

Từ phân tán sang dữ liệu tập trung

Hồ sơ cán bộ, giảng viên, người lao động được số hóa

Hồ sơ

-

> 100.000

> 177.000

> 177.000

Tăng mạnh về quy mô dữ liệu

Hồ sơ người học được số hóa

Triệu hồ sơ

-

3

4

> 4

> 33% so với 2022

Chương trình đào tạo được số hóa

Chương trình

-

> 25.000

34.000

34.000

36%

Văn bằng số

Triệu dữ liệu

Thử nghiệm, phân tán

Bắt đầu xây dựng

> 1

> 1, tích hợp VNeID

Từ giấy tờ sang dữ liệu số

Học bạ số

Triệu học bạ

Chưa triển khai đại trà

Thử nghiệm

> 10

> 10, đồng bộ VNeID

Mở rộng quy mô quốc gia

Nguồn: Tổng hợp từ Bộ Giáo dục và Đào tạo (2024), Thủ tướng Chính phủ (2022), Phạm Mai (2025), Nguyễn Bảo Vinh (2025)

Bảng 1 cho thấy tiến bộ quan trọng nhất nằm ở khâu xây dựng dữ liệu dùng chung. Hệ thống cơ sở dữ liệu giáo dục đại học HEMIS đã quản lý 470 cơ sở đào tạo, hơn 177.000 hồ sơ cán bộ, giảng viên và người lao động, trên 4 triệu hồ sơ người học, 34.000 chương trình đào tạo và hơn 117.000 bài báo công bố trong nước (Phạm Mai, 2025). Đây là tiền đề để thực hiện quản trị đại học dựa trên dữ liệu, giảm trùng lặp hồ sơ và tăng khả năng giám sát chất lượng đào tạo.

Về dạy - học số, đến cuối năm 2025, khoảng 87% trường đại học công lập đã triển khai hệ thống LMS như Moodle, Canvas, Microsoft Teams hoặc Google Classroom (Phạm Mai, 2025). Đây là mức độ phổ biến cao so với giai đoạn đầu đại dịch, khi chỉ khoảng 50% cơ sở giáo dục đại học có thể tổ chức dạy và học từ xa trong điều kiện giãn cách xã hội. Sự chuyển dịch này phản ánh việc LMS đã dần trở thành hạ tầng đào tạo chuẩn thay vì công cụ ứng phó tạm thời.

Về mục tiêu chính sách, trong 13 mục tiêu CĐS giáo dục đại học thuộc Đề án 131/QĐ-TTg, đến năm 2025 có 4 mục tiêu hoàn thành trước hạn, 6 mục tiêu cơ bản hoàn thành và 3 mục tiêu hoàn thành một phần nhưng vẫn trong tiến độ (Thùy Linh, 2025) (Bảng 2). Như vậy, kết quả tổng thể mang tính tích cực, song vẫn còn khoảng cách giữa mục tiêu đề ra và mức độ thực chất của việc ứng dụng số trong hoạt động đào tạo.

Bảng 2: Tiến độ thực hiện chuyển đổi số giáo dục đại học theo Đề án 131/QĐ-TTg đến năm 2025

Nhóm kết quả

Số mục tiêu

Tỷ lệ (%)

Hàm ý quản trị

Hoàn thành trước hạn

4

30,8

Một số nền tảng và cơ sở dữ liệu đã hình thành tương đối hoàn chỉnh

Cơ bản hoàn thành

6

46,2

Hạ tầng và quy trình số đã phổ biến nhưng cần chuẩn hóa sâu hơn

Hoàn thành một phần

3

23,1

Còn hạn chế về tích hợp dữ liệu, chất lượng ứng dụng và năng lực sử dụng

Tổng cộng

13

100

CĐS đã có nền tảng nhưng chưa đồng bộ toàn diện

Nguồn: Tổng hợp từ Thùy Linh (2025), Bộ Giáo dục và Đào tạo (2025)

Kết quả nghiên cứu cho thấy, hơn 85% trường đại học đã triển khai hệ thống thông tin sinh viên và LMS, nhưng chỉ khoảng 30% trường có hệ thống thông tin nghiên cứu vận hành đầy đủ hoặc một phần, và chỉ 18% trường có hệ thống quản lý dữ liệu nghiên cứu (WJARR, 2025) (Bảng 3).

Sự chênh lệch này cho thấy CĐS tại nhiều trường vẫn nghiêng về số hóa quản lý hơn là CĐS học thuật. Trong khi hệ thống quản lý sinh viên và LMS đáp ứng tốt nhu cầu hành chính và tổ chức lớp học, thì dữ liệu nghiên cứu, dữ liệu học tập chi tiết, dữ liệu việc làm sinh viên và dữ liệu chất lượng đào tạo chưa được khai thác hiệu quả để hỗ trợ ra quyết định. Đây là hạn chế quan trọng bởi giá trị cao nhất của CĐS đại học nằm ở khả năng phân tích dữ liệu để cải tiến chương trình đào tạo, dự báo nhu cầu nhân lực và nâng cao trải nghiệm người học.

Bảng 3: Mức độ triển khai một số hệ thống số tại các trường đại học Việt Nam

Hệ thống số

Mức độ triển khai (%)

Đánh giá

Hệ thống thông tin sinh viên

> 85

Đã phổ biến, phục vụ quản lý tuyển sinh, học tập và tốt nghiệp

Hệ thống quản lý học tập

> 85

Trở thành công cụ chính trong tổ chức dạy - học và đánh giá

Hệ thống thông tin nghiên cứu

30

Còn hạn chế, dữ liệu nghiên cứu chưa được quản trị thống nhất

Hệ thống quản lý dữ liệu nghiên cứu

18

Là điểm nghẽn trong CĐS hoạt động khoa học

Nguồn: WJARR (2025)

Những hạn chế chủ yếu

Thứ nhất, mức độ CĐS giữa các trường còn chênh lệch. Các trường đại học lớn, có trụ sở tại thành phố lớn và nguồn lực tài chính tốt thường có lợi thế về hạ tầng, nhân lực công nghệ thông tin và kinh nghiệm triển khai. Ngược lại, nhiều trường đại học công lập ở địa phương gặp khó khăn về kinh phí đầu tư, thiếu cán bộ công nghệ thông tin chuyên trách và phụ thuộc vào các nhà cung cấp dịch vụ bên ngoài. Nghiên cứu về CĐS tại các trường đại học Việt Nam chỉ ra các thách thức phổ biến gồm thiếu chính sách quản lý đồng bộ, hạn chế tích hợp công nghệ số trong quản trị, thiếu nhân lực chất lượng cao và hạ tầng chưa đồng bộ (Nguyễn Thị Thúy Hồng, Nguyễn Phương Hiệp, 2023).

Thứ hai, dữ liệu chưa được tích hợp và khai thác hiệu quả. Mặc dù HEMIS đã số hóa lượng lớn hồ sơ, nhiều trường vẫn duy trì các hệ thống rời rạc cho tuyển sinh, đào tạo, tài chính, nhân sự, khoa học công nghệ và công tác sinh viên. Việc thiếu chuẩn dữ liệu thống nhất khiến dữ liệu khó liên thông, làm giảm khả năng phân tích và làm phát sinh chi phí bảo trì. Thực tiễn cũng cho thấy nhiều trường còn thiếu hệ thống quản lý dữ liệu hiệu quả, dẫn đến khó khăn trong số hóa và khai thác dữ liệu (Nguyễn Bảo Vinh, 2025).

Thứ ba, năng lực số của một bộ phận giảng viên và cán bộ quản lý còn hạn chế. Việc sử dụng LMS ở nhiều trường mới dừng ở đăng tải tài liệu, giao bài tập và điểm danh, trong khi các chức năng cao hơn như học tập thích ứng, phân tích hành vi người học, đánh giá quá trình và thiết kế học liệu tương tác chưa được khai thác. Điều này khiến CĐS dễ bị hiểu theo hướng đưa bài giảng lên mạng thay vì đổi mới phương pháp dạy học và mô hình đánh giá.

Thứ tư, cơ chế đầu tư và chia sẻ nguồn lực chưa bền vững. Nhiều trường đầu tư phần mềm theo từng nhiệm vụ ngắn hạn, dẫn đến trùng lặp hệ thống và khó bảo trì. Trong khi đó, mô hình dùng chung nền tảng, dữ liệu và học liệu giữa các trường chưa phát triển mạnh. Từ năm 2024, việc triển khai hệ thống khóa học trực tuyến mở đại trà dùng chung là hướng đi tích cực, nhưng cần được thể chế hóa rõ hơn về chi phí, bản quyền, chất lượng và công nhận kết quả học tập (Trịnh Thu, 2026).

Thứ năm, an toàn thông tin và quyền riêng tư dữ liệu chưa được bảo đảm đồng bộ. Khi hồ sơ người học, dữ liệu nhân sự, kết quả học tập và văn bằng số được tập trung hóa, rủi ro mất an toàn thông tin, lộ dữ liệu và sử dụng dữ liệu sai mục đích tăng lên. Do đó, CĐS cần đi kèm với kiến trúc an toàn thông tin, phân quyền truy cập, sao lưu dữ liệu và cơ chế kiểm soát tuân thủ.

Kết quả phân tích cho thấy CĐS tại các trường đại học công lập Việt Nam từ năm 2020-2025 đã chuyển từ giai đoạn ứng phó số hóa sang giai đoạn xây dựng nền tảng số. Thành tựu nổi bật là sự hình thành cơ sở dữ liệu tập trung, phổ biến LMS, số hóa hồ sơ người học và triển khai văn bằng số, học bạ số gắn với VNeID. Những kết quả này phù hợp với định hướng của Chương trình CĐS quốc gia, trong đó giáo dục được xác định là lĩnh vực ưu tiên (Thủ tướng Chính phủ, 2020).

Tuy nhiên, khoảng cách giữa có công nghệ và CĐS thực chất vẫn tồn tại. Một trường có thể trang bị LMS, hệ thống quản lý sinh viên và hạ tầng mạng, nhưng nếu dữ liệu không được tích hợp, giảng viên không thay đổi phương pháp dạy học, và nhà trường không sử dụng dữ liệu để cải tiến chất lượng đào tạo thì đó mới chỉ là số hóa quy trình. Do vậy, thước đo thành công của CĐS không nên dừng ở tỷ lệ trường có hệ thống phần mềm, mà cần đo bằng mức độ cải thiện chất lượng đào tạo, hiệu quả quản trị, trải nghiệm người học và khả năng phục vụ xã hội.

Một vấn đề đáng lưu ý là vai trò của lãnh đạo trường. CĐS thành công đòi hỏi cam kết của ban giám hiệu, sự phối hợp giữa phòng công nghệ thông tin, phòng đào tạo, khoa và các đơn vị phục vụ người học. Nếu CĐS được giao hoàn toàn cho bộ phận công nghệ thông tin, quá trình này dễ trở thành dự án kỹ thuật thay vì chiến lược phát triển thể chế. Kinh nghiệm quốc tế và nghiên cứu trong nước đều nhấn mạnh rằng CĐS giáo dục cần sự tham gia của giảng viên, cán bộ quản lý và người học ngay từ khâu thiết kế chính sách và lựa chọn giải pháp công nghệ (Nguyen và Hong, 2025).

Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong các trường đại học công lập

Một là, hoàn thiện chiến lược CĐS ở cấp trường. Mỗi trường đại học công lập cần xây dựng chiến lược CĐS 5 năm có mục tiêu định lượng, lộ trình ưu tiên, phân công trách nhiệm và nguồn lực rõ ràng. Chiến lược cần gắn với sứ mệnh đào tạo, định hướng nghiên cứu và đặc thù ngành nghề của trường, tránh sao chép máy móc mô hình của trường khác.

Hai là, xây dựng kiến trúc dữ liệu dùng chung và chuẩn hóa dữ liệu. Các trường cần tích hợp hệ thống tuyển sinh, đào tạo, sinh viên, nhân sự, tài chính, khoa học công nghệ và cựu sinh viên vào một kiến trúc dữ liệu thống nhất. Cần áp dụng bộ chỉ số, định danh và chuẩn dữ liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đồng thời bảo đảm khả năng kết nối với HEMIS, VNeID và các cơ sở dữ liệu quốc gia.

Ba là, nâng cao năng lực số của giảng viên, cán bộ quản lý và sinh viên. Cần đưa năng lực số vào tiêu chuẩn chức danh, đánh giá viên chức và chương trình bồi dưỡng thường xuyên. Đối với giảng viên, ưu tiên phát triển năng lực thiết kế học liệu số, dạy học kết hợp, đánh giá quá trình và sử dụng dữ liệu học tập. Đối với cán bộ quản lý, ưu tiên năng lực phân tích dữ liệu, quản trị dự án số và an toàn thông tin.

Bốn là, đổi mới mô hình dạy - học và đánh giá. Các trường cần chuyển từ LMS đơn thuần sang hệ sinh thái học tập số, bao gồm học liệu tương tác, MOOC dùng chung, phòng thí nghiệm ảo, học tập thích ứng và đánh giá quá trình dựa trên dữ liệu. Đồng thời, cần hoàn thiện quy định về công nhận kết quả học tập trực tuyến, bảo đảm chất lượng và công bằng trong kiểm tra đánh giá.

Năm là, tăng cường hợp tác và chia sẻ nguồn lực. Các trường đại học công lập, đặc biệt là các trường ở địa phương, cần tham gia hợp tác chia sẻ nền tảng LMS, kho học liệu số, hạ tầng điện toán đám mây và dịch vụ an toàn thông tin. Mô hình này giúp giảm chi phí đầu tư trùng lặp, tăng khả năng tiếp cận công nghệ hiện đại và thúc đẩy liên kết giữa các trường.

Sáu là, hoàn thiện cơ chế giám sát và đánh giá CĐS. Cần duy trì bộ chỉ số đánh giá CĐS giáo dục đại học theo hướng đo lường cả kết quả đầu ra: tỷ lệ học phần có học liệu số chất lượng, mức độ sử dụng dữ liệu trong cải tiến chương trình, mức độ hài lòng của người học, tỷ lệ hồ sơ số hóa và mức độ an toàn thông tin. Kết quả đánh giá cần gắn với phân bổ ngân sách đầu tư và trách nhiệm giải trình của lãnh đạo trường.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

2020-2025 là giai đoạn bứt phá của CĐS trong các trường đại học công lập Việt Nam. Quá trình này đã tạo ra những kết quả quan trọng: xây dựng HEMIS với 470 cơ sở đào tạo, số hóa hơn 177.000 hồ sơ cán bộ và trên 4 triệu hồ sơ người học; phổ biến LMS tại khoảng 87% trường đại học công lập; triển khai học bạ số và văn bằng số gắn với VNeID. Những kết quả này tạo nền tảng cho quản trị đại học dựa trên dữ liệu và dịch vụ hành chính công thuận tiện hơn (Phạm Mai, 2025; Nguyễn Bảo vinh, 2025).

Tuy nhiên, CĐS vẫn còn mang tính không đồng đều và chưa thực sự sâu. Hạn chế lớn nhất không nằm ở việc thiếu công nghệ, mà ở sự thiếu tích hợp dữ liệu, năng lực số chưa đồng đều, mô hình dạy - học chưa đổi mới tương xứng và cơ chế đầu tư - chia sẻ nguồn lực chưa bền vững. Do đó, giai đoạn tiếp theo cần chuyển từ mục tiêu số hóa quy mô sang mục tiêu CĐS chất lượng, lấy người học và dữ liệu làm trung tâm.

Đối với Nhà nước, cần tiếp tục đầu tư hạ tầng số dùng chung, chuẩn hóa dữ liệu giáo dục đại học và có chính sách hỗ trợ ưu đãi cho các trường công lập có điều kiện khó khăn. Đối với các trường, cần xác định CĐS là nhiệm vụ chiến lược của toàn trường, không phải nhiệm vụ riêng của bộ phận công nghệ thông tin. Đối với giảng viên, cần chuyển từ vai trò truyền thụ kiến thức sang vai trò thiết kế trải nghiệm học tập, hướng dẫn và đánh giá người học trong môi trường số.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2024). Báo cáo sơ kết công tác CĐS, cải cách hành chính ngành Giáo dục và Đào tạo năm 2024.

2. Nguyễn Bảo Vinh (2025). Kinh nghiệm CĐS trong giáo dục đại học của các quốc gia trên thế giới và bài học cho Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/04/02/kinh-nghiem-chuyen-doi-so-trong-giao-duc-dai-hoc-cua-cac-quoc-gia-tren-the-gioi-va-bai-hoc-cho-viet-nam/

3. Nguyen, H. L., & Hong, Y. (2025). National policy analysis of digital transformation in Vietnamese higher education: Conceptualising a three-layer model for implementation. Policy Futures in Education. https://doi.org/10.1177/14782103251348089

4. Nguyễn Thị Thúy Hồng, Nguyễn Phương Hiệp (2023). CĐS giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh đẩy mạnh tự chủ đại học: Cơ hội và thách thức. Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Thái Nguyên. https://jst.tnu.edu.vn/jst/article/view/8565

5. Phạm Mai(2025). Bộ GD-ĐT công bố 10 kết quả nổi bật của ngành giáo dục năm 2025. https://www.vietnamplus.vn/bo-gd-dt-cong-bo-10-ket-qua-noi-bat-cua-nganh-giao-duc-nam-2025-post1085620.vnp

6. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 phê duyệt “Chương trình CĐS quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.

7. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022 phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và CĐS trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022-2025, định hướng đến năm 2030”.

8. Thùy Linh (2025). Tăng tốc CĐS trong giáo dục. https://giaoducthoidai.vn/tang-toc-chuyen-doi-so-trong-giao-duc-post759195.html

9. Trịnh Thu (2026). CĐS trong giáo dục: Cơ hội, thách thức và định hướng giai đoạn 2026-2030. https://tapchigiaoduc.edu.vn/article/90490/211/chuyen-doi-so-trong-giao-duc-co-hoi-thach-thuc-va-dinh-huong-giai-doan-2026-2030/

10. Vial, G. (2019). Understanding digital transformation: A review and a research agenda. The Journal of Strategic Information Systems, 28(2), 118-144. https://doi.org/10.1016/j.jsis.2019.01.003

11. WJARR (2025). Digital technology application in higher education. World Journal of Advanced Research and Reviews. https://wjarr.com/sites/default/files/fulltext_pdf/WJARR-2025-0706.pdf

Ngày nhận bài: 5/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 9/10/2026; Ngày duyệt đăng: 23/10/2026

Các tin khác

Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Đông Nam Bộ trong bối cảnh chuyển đổi số: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Đông Nam Bộ trong bối cảnh chuyển đổi số: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh chuyển đổi số, hoạt động doanh nghiệp ngày càng dựa trên dữ liệu, nền tảng và những giao dịch vượt ra ngoài địa giới hành chính; ở phía cơ quan quản lý, các hoạt động đăng ký kinh doanh, thuế, dịch vụ công, hỗ trợ doanh nghiệp, thanh tra và giám sát cũng đang chuyển lên môi trường số.
Nghiên cứu tác động của thực hành quản trị nhân sự xanh đến hiệu quả môi trường: Vai trò trung gian của hành vi công dân tổ chức hướng về môi trường

Nghiên cứu tác động của thực hành quản trị nhân sự xanh đến hiệu quả môi trường: Vai trò trung gian của hành vi công dân tổ chức hướng về môi trường

Theo Ngân hàng Thế giới, các tác động của biến đổi khí hậu đã gây ra những tổn thất kinh tế đáng kể tại Việt Nam, qua đó cho thấy sự cần thiết phải cải thiện các kết quả môi trường trong hoạt động của doanh nghiệp.
Từ tập trung định chế đến khơi thông nguồn vốn qua trung tâm tài chính quốc tế: Hàm ý cho Việt Nam

Từ tập trung định chế đến khơi thông nguồn vốn qua trung tâm tài chính quốc tế: Hàm ý cho Việt Nam

Trong xu hướng chuyển dịch của dòng vốn quốc tế, các trung tâm tài chính quốc tế (TTTCQT) đóng vai trò quan trọng giúp khơi thông nguồn vốn, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế dài hạn. Vai trò này không chỉ thể hiện ở quy mô hay số lượng định chế tài chính, mà còn ở khả năng huy động vốn, xử lý thông tin, giám sát, quản trị rủi ro và phân bổ nguồn lực.
Đề xuất mô hình mở rộng TPB về ý định chia sẻ tri thức trên nền tảng số của giảng viên đại học

Đề xuất mô hình mở rộng TPB về ý định chia sẻ tri thức trên nền tảng số của giảng viên đại học

Chuyển đổi số giáo dục đại học mở ra cơ hội chia sẻ tri thức giữa các giảng viên, đồng thời giúp cho nội dung có thể được lưu trữ lâu dài, sao chép và tiếp cận rộng hơn. Những đặc điểm này vừa tạo thuận lợi cho trao đổi tri thức, vừa đặt ra các vấn đề về sự sẵn sàng và mức độ kiểm soát của giảng viên khi chia sẻ.
Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay

Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay

Trong bối cảnh chuyển đổi số, sự gia tăng của gian lận công nghệ cao cùng những biến động của môi trường kinh tế đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức nhận diện, đo lường và kiểm soát rủi ro tín dụng.
Sự thích ứng của người tiêu dùng thương mại điện tử trong bối cảnh toàn cầu hóa: Nghiên cứu tại Thái Nguyên

Sự thích ứng của người tiêu dùng thương mại điện tử trong bối cảnh toàn cầu hóa: Nghiên cứu tại Thái Nguyên

Thương mại điện tử đang và sẽ là xu thế của nền kinh tế số với nhiều ưu việt, đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển
Các yếu tố tác động đến ý định tẩy chay thương hiệu thời trang nhanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Các yếu tố tác động đến ý định tẩy chay thương hiệu thời trang nhanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp theo hướng tiêu cực và ý định tẩy chay, đồng thời kiểm định vai trò trung gian và sức giải thích tương đối của cảm giác tội lỗi dự kiến và sự phẫn nộ đạo đức đối với Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh.
​​​​​​​Tác động ngưỡng quy mô đến mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động: Bằng chứng từ các ngân hàng niêm yết tại Việt Nam

​​​​​​​Tác động ngưỡng quy mô đến mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động: Bằng chứng từ các ngân hàng niêm yết tại Việt Nam

Sử dụng đòn bẩy hợp lý giúp khuếch đại lợi ích cổ đông, nhưng khi phụ thuộc nợ quá lớn, ngân hàng đối mặt áp lực chi phí vốn, rủi ro thanh khoản và tín dụng.
Đề xuất mô hình tác động của dịch vụ logistics đến phát triển du lịch tại TP. Hồ Chí Minh

Đề xuất mô hình tác động của dịch vụ logistics đến phát triển du lịch tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh đang nỗ lực định vị là một trong những trung tâm du lịch năng động hàng đầu khu vực Đông Nam Á, yêu cầu phát triển hệ thống dịch vụ hỗ trợ toàn diện, đặc biệt là logistics du lịch ngày càng trở nên cấp thiết.
Đổi mới sáng tạo vùng: Từ lý luận đến thực tiễn phát triển

Đổi mới sáng tạo vùng: Từ lý luận đến thực tiễn phát triển

Hoạt động đổi mới sáng tạo không phân bố đồng đều mà thường tập trung tại những không gian có mật độ cao về doanh nghiệp, nguồn nhân lực chất lượng cao, trường đại học và viện nghiên cứu. Từ thực tiễn đó, cách tiếp cận hệ thống đổi mới sáng tạo vùng được hình thành, bổ sung cho cách tiếp cận hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia.