Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển nền kinh tế dữ liệu tại Việt Nam
TS. Đỗ Thị Thu Trang
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
Tóm tắt
Dữ liệu đang được xác lập như một tư liệu sản xuất mới, song giá trị kinh tế chỉ được hiện thực hóa khi có hệ thống thể chế đủ năng lực quản trị và điều tiết rủi ro. Bài viết tập trung phân tích thực trạng xây dựng thể chế thúc đẩy phát triển nền kinh tế dữ liệu tại Việt Nam giai đoạn 2023 đến giữa năm 2026, theo khung phân tích gồm năm trụ cột là chế độ pháp lý và quyền đối với dữ liệu, cơ chế chia sẻ và giao dịch dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và an ninh dữ liệu, hạ tầng và chuẩn kỹ thuật, và năng lực thực thi.
Từ khóa: Kinh tế dữ liệu, thể chế, quản trị dữ liệu, thị trường dữ liệu, Đạo luật Dữ liệu, Việt Nam.
Abstract
Data is increasingly recognized as a new means of production; however, its economic value can only be realized through an institutional framework capable of effective governance and risk regulation. This article focuses on analyzing the current state of institutional development aimed at promoting the data economy in Vietnam from 2023 to mid-2026, using an analytical framework comprising five key pillars: the legal framework and data rights; data sharing and transactions; personal data protection and data security; data infrastructure and technical standards; and institutional implementation capacity.
Keywords: Data economy, institutions, data governance, data market, Data Act, Vietnam.
GIỚI THIỆU
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dữ liệu ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng, góp phần nâng cao năng suất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo động lực tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, để dữ liệu thực sự trở thành nguồn lực phát triển, cần có hệ thống thể chế phù hợp nhằm xác lập quyền, thúc đẩy chia sẻ, khai thác và bảo đảm an toàn dữ liệu. Tại Việt Nam, việc ban hành Luật Dữ liệu năm 2024, Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 cùng nhiều chính sách liên quan đã đánh dấu bước tiến quan trọng trong xây dựng thể chế phát triển nền kinh tế dữ liệu. Mặc dù vậy, quá trình thực hiện vẫn còn những hạn chế về quyền đối với dữ liệu, cơ chế định giá, giao dịch, chia sẻ dữ liệu và năng lực thực thi. Xuất phát từ thực tiễn đó, bài viết tập trung phân tích thực trạng xây dựng thể chế phát triển nền kinh tế dữ liệu tại Việt Nam theo năm trụ cột chủ yếu; từ đó nhận diện những cơ hội, thách thức và đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển nền kinh tế dữ liệu trong thời gian tới.
THỰC TRẠNG THỂ CHẾ THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN KINH TẾ DỮ LIỆU TẠI VIỆT NAM
Quá trình xây dựng thể chế dữ liệu tại Việt Nam có thể chia thành ba giai đoạn. Trước năm 2023 là giai đoạn phân tán: các quy định nằm rải rác trong Luật Công nghệ thông tin, Luật An toàn thông tin mạng, Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Tiếp cận thông tin và các nghị định về cơ sở dữ liệu quốc gia; trọng tâm chính sách là số hóa và chính phủ điện tử, dữ liệu chủ yếu được nhìn nhận như công cụ quản lý nhà nước.
Từ năm 2023 đến năm 2024 là giai đoạn định hình chiến lược. Nghị quyết số 175/NQ-CP ngày 30/10/2023 phê duyệt Đề án Trung tâm dữ liệu quốc gia (Chính phủ, 2023). Quyết định số 142/QĐ-TTg ngày 02/02/2024 phê duyệt Chiến lược dữ liệu quốc gia đến năm 2030, đồng thời đặt nhiệm vụ nghiên cứu quy định về các hình thức sở hữu dữ liệu và quyền tài sản dữ liệu (Thủ tướng Chính phủ, 2024). Đây là bước chuyển nhận thức quan trọng: dữ liệu bắt đầu được nhìn nhận như tài nguyên có thể sở hữu, định giá và giao dịch.
Từ cuối năm 2024 đến nay là giai đoạn thể chế hóa cường độ cao. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu và yêu cầu cơ bản hoàn thành việc thể chế hóa trong năm 2025 (Bộ Chính trị, 2024). Đặc điểm nổi bật là tốc độ và mức độ tập trung điều phối, với Ban Chỉ đạo Trung ương và Nghị quyết số 193/2025/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt (Quốc hội, 2025).
Nhìn chung, Việt Nam đã đạt được những bước tiến quan trọng trong xây dựng thể chế phát triển nền kinh tế dữ liệu. Từ chỗ các quy định về dữ liệu còn phân tán trong nhiều văn bản pháp luật, đến nay, Việt Nam đã từng bước hình thành khung pháp lý tương đối toàn diện, bao quát từ xác lập quyền đối với dữ liệu, chia sẻ và giao dịch dữ liệu đến bảo vệ, phát triển hạ tầng và tổ chức thực thi. Tuy nhiên, mức độ hoàn thiện giữa các lĩnh vực chưa đồng đều, trong đó các quy định về bảo vệ và quản lý dữ liệu phát triển nhanh hơn cơ chế khai thác dữ liệu để tạo ra giá trị kinh tế.
Về chế độ pháp lý và quyền đối với dữ liệu, việc ban hành Luật Dữ liệu năm 2024 và Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã tạo nền tảng quan trọng để quản lý, khai thác dữ liệu và thừa nhận tài sản số trong hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, quyền khai thác, sử dụng và phân chia lợi ích từ dữ liệu, đặc biệt là dữ liệu phi cá nhân được tạo ra trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, vẫn chưa được quy định đầy đủ. Điều này có thể gây khó khăn khi xác định quyền và trách nhiệm giữa các chủ thể tham gia khai thác dữ liệu.
Về cơ chế chia sẻ và giao dịch dữ liệu, Việt Nam đã bước đầu hình thành hành lang pháp lý cho hoạt động của các sàn dữ liệu và tổ chức cung cấp dịch vụ dữ liệu. Tuy nhiên, đây vẫn là lĩnh vực còn nhiều hạn chế, nhất là việc thiếu phương pháp định giá thống nhất, quy định cụ thể về giao dịch và cơ chế khuyến khích doanh nghiệp chia sẻ dữ liệu. Vì vậy, thị trường dữ liệu chưa có đầy đủ điều kiện để phát triển tương xứng với tiềm năng.
Về bảo vệ dữ liệu cá nhân và an ninh dữ liệu, hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện, thể hiện sự quan tâm đến quyền lợi của người dân và yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia. Dù vậy, cần tiếp tục làm rõ các thủ tục và điều kiện chuyển dữ liệu xuyên biên giới nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa an toàn dữ liệu và nhu cầu hợp tác, kinh doanh quốc tế.
Về hạ tầng và năng lực thực thi, việc xây dựng Trung tâm Dữ liệu quốc gia, thúc đẩy liên thông dữ liệu, thành lập Quỹ Phát triển dữ liệu quốc gia và đặt ra các mục tiêu phát triển nhân lực cho thấy định hướng đầu tư tương đối đồng bộ. Tuy nhiên, tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng triển khai giữa các cơ quan, địa phương vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện.
Bảng: Đánh giá tổng hợp mức độ hoàn thiện thể chế theo 5 trụ cột
|
Trụ cột |
Cơ sở pháp lý |
Mức độ hoàn thiện |
Khoảng trống |
|
1. Chế độ pháp lý và quyền đối với dữ liệu |
Luật Dữ liệu 2024; Luật Công nghiệp công nghệ số 2025; Nghị định 165/2025; Quyết định 20/2025 |
Trung bình khá |
Chưa có quy tắc phân bổ quyền đối với dữ liệu phi cá nhân do vận hành tạo ra |
|
2. Chia sẻ, kết nối và giao dịch dữ liệu |
Điều 42 Luật Dữ liệu; Nghị định 169/2025; Chiến lược dữ liệu quốc gia 2026-2030 |
Yếu |
Chưa có nghĩa vụ chia sẻ dữ liệu tư nhân, phương pháp định giá và quy chế vận hành sàn |
|
3. Bảo vệ dữ liệu cá nhân và an ninh dữ liệu |
Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025; Nghị định 356/2025; Luật An ninh mạng 2025 |
Cao |
Tính minh bạch và khả năng dự đoán của thủ tục chuyển dữ liệu xuyên biên giới |
|
4. Hạ tầng, chuẩn kỹ thuật và liên thông |
Nghị quyết 175/NQ-CP; Trung tâm Dữ liệu quốc gia; Từ điển dữ liệu quốc gia dùng chung |
Cao |
Thiếu bộ tiêu chuẩn về chất lượng dữ liệu và ẩn danh hóa |
|
5. Năng lực thực thi và nguồn lực |
Nghị định 160/2025 về Quỹ Phát triển dữ liệu quốc gia; chỉ tiêu nhân lực và kiểm toán dữ liệu |
Trung bình khá |
Thiếu chuẩn nghề nghiệp, kiểm toán viên dữ liệu và hệ thống chỉ tiêu đo lường |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Nhìn tổng thể, khung thể chế Việt Nam hiện mạnh ở trụ cột 3 và trụ cột 4, trung bình khá ở trụ cột 1 và trụ cột 5, yếu nhất ở trụ cột 2. Do trụ cột 2 chính là nơi giá trị kinh tế của dữ liệu được hiện thực hóa, đây là điểm cần ưu tiên trong giai đoạn tới (Bảng).
NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH HOÀN THIỆN THỂ CHẾ THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ DỮ LIỆU Ở VIỆT NAM
Thuận lợi
Trên cơ sở đối chiếu thực trạng thể chế đã trình bày với xu hướng quốc tế, có thể nhận diện năm nhóm cơ hội quan trọng đối với Việt Nam trong giai đoạn phát triển kinh tế dữ liệu sắp tới.
Thứ nhất, lợi thế của người đi sau. Việt Nam xây dựng khung pháp lý về dữ liệu sau khi nhiều quốc gia đã trải qua chu kỳ thử nghiệm và điều chỉnh, cho phép tiếp thu có chọn lọc những thiết kế đã được kiểm nghiệm. Việc ban hành một đạo luật riêng về công nghiệp công nghệ số và một đạo luật riêng về trí tuệ nhân tạo đưa Việt Nam vào nhóm rất ít quốc gia có khung pháp lý chuyên biệt cho các lĩnh vực này.
Thứ hai, sự đồng thuận chính trị ở mức cao và năng lực điều phối tập trung. Trong lĩnh vực dữ liệu, nơi rào cản lớn nhất thường là sự chia cắt giữa các bộ ngành và địa phương, cơ chế chỉ đạo tập trung giúp giảm thời gian đàm phán liên ngành, vốn là nguyên nhân chính khiến nhiều sáng kiến chia sẻ dữ liệu bị đình trệ.
Thứ ba, quy mô và độ tươi mới của nguồn dữ liệu quốc gia. Với dân số hơn 100 triệu người, tỷ lệ sử dụng internet và điện thoại thông minh cao, cùng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã tương đối hoàn chỉnh, Việt Nam sở hữu một nền tảng dữ liệu có mật độ cao. Báo cáo e-Conomy SEA 2025 ghi nhận Việt Nam dẫn đầu Đông Nam Á về mức độ tương tác của người dùng với trí tuệ nhân tạo (Google, Temasek, & Bain & Company, 2025).
Thứ tư, cơ hội hình thành ngành công nghiệp dữ liệu mới và cơ hội đối với khu vực giáo dục đại học. Mục tiêu 1.000 doanh nghiệp công nghệ dữ liệu và 30 tổ chức trung gian dữ liệu mở ra phân khúc thị trường mới gồm làm sạch và gắn nhãn dữ liệu, kiểm toán dữ liệu, định giá và môi giới dữ liệu, dịch vụ tuân thủ bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đi kèm là nhu cầu đào tạo hàng trăm nghìn lượt người lao động, tạo dư địa lớn cho các trường trong phát triển chương trình và nghiên cứu ứng dụng.
Thứ năm, cơ hội định vị Việt Nam như một trung tâm dữ liệu khu vực. Mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam vào nhóm 30 quốc gia dẫn đầu về năng lực quản trị và khai thác dữ liệu, đồng thời trở thành trung tâm quan trọng trong khu vực về lưu trữ, xử lý, kết nối và trung chuyển dữ liệu xuyên biên giới, là định hướng có cơ sở nếu xét đến vị trí địa lý, hạ tầng cáp quang biển đang mở rộng và chi phí năng lượng tương đối cạnh tranh.
Khó khăn, bất cập
Song song với các cơ hội nêu trên, quá trình phát triển kinh tế dữ liệu tại Việt Nam cũng đang đối mặt với bảy nhóm thách thức đáng chú ý.
Một là, khoảng trống về quyền tài sản đối với dữ liệu phi cá nhân. Pháp luật hiện hành chưa xác lập cơ chế phân bổ quyền đối với dữ liệu vận hành do máy móc, thiết bị và quá trình sản xuất tạo ra, trong khi đây là nguồn dữ liệu có tiềm năng thương mại lớn nhất. Thiếu quy tắc phân bổ quyền, các bên phải dựa hoàn toàn vào hợp đồng và bên có vị thế đàm phán mạnh hơn sẽ chiếm lĩnh toàn bộ giá trị; doanh nghiệp Việt Nam có nguy cơ mất quyền tiếp cận chính dữ liệu do hoạt động của mình tạo ra.
Hai là, thiếu hạ tầng kỹ thuật cho định giá và hạch toán dữ liệu. Không có phương pháp định giá chuẩn hóa, dữ liệu không thể được ghi nhận trên bảng cân đối kế toán, không thể dùng làm tài sản bảo đảm và không thể trở thành đối tượng của các giao dịch tài chính, giới hạn khả năng huy động vốn của doanh nghiệp có tài sản chính là dữ liệu. Thiếu tham chiếu giá cũng khiến cơ chế phát hiện giá trên sàn không vận hành được.
Ba là, chi phí tuân thủ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc đồng thời tuân thủ bốn đạo luật, với các nghĩa vụ như bổ nhiệm nhân sự bảo vệ dữ liệu, lập hồ sơ đánh giá tác động và kiểm toán dữ liệu định kỳ, tạo ra chi phí cố định đáng kể. Do mang tính chi phí cố định, gánh nặng tương đối đối với doanh nghiệp nhỏ lớn hơn nhiều so với doanh nghiệp lớn, dẫn tới nguy cơ tập trung thị trường ngoài ý muốn.
Bốn là, chất lượng dữ liệu theo nguyên tắc đúng, đủ, sạch, sống. Đây có lẽ là thách thức khó nhất vì không thể giải quyết bằng văn bản. Dữ liệu trong các cơ sở dữ liệu hiện hành được hình thành qua nhiều giai đoạn với các chuẩn khác nhau, mức độ trùng lặp và sai lệch không nhỏ; việc làm sạch và chuẩn hóa đòi hỏi nguồn lực lớn, thời gian dài và đụng chạm đến trách nhiệm của nhiều cơ quan. Một số nghiên cứu trong nước ghi nhận tình trạng phân mảnh dữ liệu, hạn chế trong kết nối liên ngành và thiếu hụt nhân lực khoa học dữ liệu trình độ cao là những rào cản mang tính hệ thống, không riêng ở cấp trung ương mà còn phổ biến ở cấp địa phương (Trần Văn Hiếu & Lê Thị Thuỳ Dương, 2026; Đặng Thị Thùy Dương, 2026).
Năm là, thế lưỡng nan giữa chủ quyền dữ liệu và hội nhập số. Các quy định về đánh giá tác động an ninh dữ liệu và chấp thuận chuyển dữ liệu ra nước ngoài là cần thiết, nhưng Việt Nam đồng thời tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới có chương về thương mại điện tử và luồng dữ liệu. Điểm mấu chốt không nằm ở việc nới lỏng hay siết chặt, mà ở tính minh bạch và có thể dự đoán được của tiêu chí, quy trình và thời hạn xử lý.
Sáu là, rủi ro phân mảnh thể chế theo ngành và thiếu chỉ tiêu đo lường. Việc nhiều bộ ngành cùng ban hành quy định về dữ liệu chuyên ngành làm phát sinh nguy cơ chồng chéo về khái niệm, phân loại và nghĩa vụ. Bên cạnh đó, Việt Nam chưa có hệ thống chỉ tiêu đo lường riêng cho kinh tế dữ liệu theo nghĩa hẹp, gây khó khăn cho việc đánh giá mức độ hoàn thành các mục tiêu chiến lược.
MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH
Từ những cơ hội và thách thức đã phân tích, nghiên cứu đề xuất bảy nhóm hàm ý chính sách nhằm thu hẹp các khoảng trống thể chế đã nhận diện, đặc biệt ở trụ cột chia sẻ và giao dịch dữ liệu.
Thứ nhất, sớm xác lập quy tắc phân bổ quyền đối với dữ liệu phi cá nhân, không nhất thiết theo đuổi khái niệm sở hữu tuyệt đối vốn khó áp dụng với hàng hóa phi cạnh tranh. Có thể kết hợp cách tiếp cận phân tách quyền: quyền tối thiểu của bên tạo ra dữ liệu trong quá trình vận hành được tiếp cận dữ liệu đó; quyền khai thác thương mại của bên đầu tư kèm khoản bồi hoàn hợp lý; và nguyên tắc phân chia lợi ích đối với sản phẩm phái sinh. Quyền tiếp cận tối thiểu này không thể bị loại trừ bằng hợp đồng.
Thứ hai, ưu tiên ban hành bộ tiêu chuẩn kỹ thuật làm nền cho thị trường, gồm tiêu chuẩn chất lượng dữ liệu, hướng dẫn về ẩn danh hóa và giả danh hóa, khung phương pháp định giá và bộ hợp đồng mẫu. Đây là các hàng hóa công có chi phí xây dựng một lần nhưng tạo lợi ích lan tỏa. Khung định giá nên theo hướng đa phương pháp, cho phép áp dụng cách tiếp cận chi phí, thị trường và thu nhập tùy loại dữ liệu.
Thứ ba, thiết kế cơ chế tuân thủ theo tỷ lệ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, gồm ngưỡng miễn trừ hoặc đơn giản hóa nghĩa vụ theo quy mô xử lý dữ liệu, cho phép thuê ngoài chức năng bảo vệ dữ liệu theo mô hình dùng chung, và cung cấp bộ công cụ tuân thủ mẫu miễn phí. Song song, cần bổ sung quy định kiểm soát điều khoản hợp đồng bất công trong giao dịch dữ liệu.
Thứ tư, triển khai sàn dữ liệu theo lộ trình từ hẹp đến rộng. Thay vì mở rộng ngay cho mọi loại dữ liệu, nên bắt đầu từ các lĩnh vực có nhu cầu rõ ràng, mức độ nhạy cảm thấp và dữ liệu tương đối chuẩn hóa như khí tượng, giao thông, nông nghiệp và du lịch. Kinh nghiệm vận hành tích lũy sẽ tạo cơ sở để mở rộng sang các phân khúc phức tạp hơn như dữ liệu tài chính và dữ liệu y tế.
Thứ năm, tăng tính minh bạch và khả năng dự đoán của cơ chế chuyển dữ liệu xuyên biên giới, thông qua công bố công khai tiêu chí đánh giá, thời hạn xử lý hồ sơ tối đa, danh mục trường hợp được áp dụng thủ tục rút gọn và cơ chế công nhận trước đối với bộ quy tắc nội bộ của tập đoàn đa quốc gia. Điều này cho phép vừa duy trì kiểm soát, vừa giảm bất định cho nhà đầu tư.
Thứ sáu, xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê về kinh tế dữ liệu, gồm giá trị giao dịch dữ liệu qua sàn, số lượng doanh nghiệp công nghệ dữ liệu và tổ chức trung gian dữ liệu, tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng dữ liệu mở và chỉ số chất lượng dữ liệu của cơ quan nhà nước. Đây là điều kiện cần để giám sát việc thực hiện Chiến lược dữ liệu quốc gia và để nghiên cứu định lượng về tác động của thể chế dữ liệu đối với tăng trưởng.
Tài liệu tham khảo:
1. Acquisti, A., Taylor, C., & Wagman, L. (2016). The economics of privacy. Journal of Economic Literature, 54(2), 442-492.
2. Arrow, K. J. (1962). Economic welfare and the allocation of resources for invention. In The rate and direction of inventive activity: Economic and social factors (pp. 609-626). Princeton University Press.
3. Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
4. Carrière-Swallow, Y., & Haksar, V. (2019). The economics and implications of data: An integrated perspective (IMF Departmental Paper No. 19/16). International Monetary Fund.
5. Google, Temasek, & Bain & Company. (2025). e-Conomy SEA 2025: Southeast Asia's digital economy report.
6. Jones, C. I., & Tonetti, C. (2020). Nonrivalry and the economics of data. American Economic Review, 110(9), 2819-2858.
7. North, D. C. (1990). Institutions, institutional change and economic performance. Cambridge University Press.
8. OECD. (2015). Data-driven innovation: Big data for growth and well-being. OECD Publishing.
9. OECD. (2019). Enhancing access to and sharing of data: Reconciling risks and benefits for data re-use across societies. OECD Publishing.
10. Thủ tướng Chính phủ. (2026). Quyết định số 1308/QĐ-TTg ngày 18/7/2026 phê duyệt Chiến lược dữ liệu quốc gia giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
11. UNCTAD. (2021). Digital economy report 2021: Cross-border data flows and development. United Nations.
12. Williamson, O. E. (2000). The new institutional economics: Taking stock, looking ahead. Journal of Economic Literature, 38(3), 595-613.
| Ngày nhận bài: 12/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 9/10/2026; Ngày duyệt đăng: 26/10/2026 |
Các tin khác
Phát triển mô hình nghiên cứu về tác động của năng lực vận tải đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp: Vai trò trung gian của chiến lược chi phí thấp
Trải nghiệm người tiêu dùng, marketing xanh, hình ảnh thương hiệu xanh và sự hài lòng của người tiêu dùng: Khung nghiên cứu đề xuất
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán tại doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thích ứng số của nguồn nhân lực logistics tại TP. Hồ Chí Minh
Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo xanh của doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng AI của sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh
Nâng cao khả năng giải quyết vấn đề và sáng tạo của sinh viên thông qua các công cụ AI: Phân tích trắc lượng thư mục sử dụng cơ sở dữ liệu Scopus
Ảnh hưởng của hành vi mua sắm tìm kiếm đến sự gắn kết của khách hàng trong xu hướng bán lẻ hợp kênh tại TP. Hồ Chí Minh
Tiếp cận du lịch sinh thái theo định hướng kinh tế tuần hoàn tại vườn quốc gia Yok Đôn từ lý thuyết tái sản xuất của C. Mác