Tác động của giá trị cảm nhận và động cơ vị tha đến ý định khởi nghiệp: Trường hợp các sinh viên tại Đồng Nai

Nghiên cứu - Trao đổi 17:48 | 12/03/2026
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích tác động của giá trị cảm nhận đối với khởi nghiệp và động cơ vị tha đến ý định khởi nghiệp, đồng thời kiểm định vai trò điều tiết của động cơ vị tha trong mối quan hệ đó

Huỳnh Thúc Hiếu

Nguyễn Thanh Lâm*

Khoa Sau Đại học, Trường Đại học Lạc Hồng

* Tác giả liên hệ: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích tác động của giá trị cảm nhận đối với khởi nghiệp và động cơ vị tha đến ý định khởi nghiệp, đồng thời kiểm định vai trò điều tiết của động cơ vị tha trong mối quan hệ đó. Nghiên cứu kế thừa thang đo từ các công trình trước, sử dụng phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi đối với sinh viên tại một số trường đại học trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Sau quá trình làm sạch dữ liệu, 202 quan sát hợp lệ được đưa vào phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính PLS-SEM với phần mềm SmartPLS 4.0. Kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị cảm nhận đối với khởi nghiệp và động cơ vị tha có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Đáng chú ý, động cơ vị tha còn đóng vai trò điều tiết tích cực, làm gia tăng tác động của giá trị cảm nhận đối với khởi nghiệp lên ý định khởi nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho hướng tiếp cận tích hợp giữa yếu tố nhận thức và yếu tố động cơ trong giải thích ý định khởi nghiệp của sinh viên, đồng thời gợi ý rằng các cơ sở giáo dục đại học cần chú trọng nâng cao nhận thức về giá trị của khởi nghiệp và bồi dưỡng các giá trị hướng đến cộng đồng nhằm thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp theo hướng bền vững và có trách nhiệm hơn.

Từ khoá: Giá trị cảm nhận đối với khởi nghiệp, động cơ vị tha, ý định khởi nghiệp.

Abstract

This study aims to examine the effects of perceived value toward entrepreneurship and prosocial motivation on entrepreneurial intention, and to test the moderating role of prosocial motivation in this relationship. The study adopts measurement scales from prior research and employs a questionnaire-based survey of university students at several universities in Dong Nai province. Following data screening and cleaning, 202 valid observations were retained for analysis using PLS-SEM approach with SmartPLS 4.0. The findings indicate that perceived value toward entrepreneurship and prosocial motivation both exert positive effects on students’ entrepreneurial intention. Notably, prosocial motivation also plays a positive moderating role, strengthening the effect of perceived value toward entrepreneurship on entrepreneurial intention. These results contribute additional empirical evidence supporting an integrative perspective that combines cognitive and motivational factors in explaining students’ entrepreneurial intention. The study further suggests that higher education institutions should enhance students’ awareness of the value of entrepreneurship and cultivate community-oriented values in order to foster more sustainable and responsible entrepreneurial aspirations..

Keywords: Perceived value toward entrepreneurship; Prosocial motivation; Entrepreneurial intention.

  GIỚI THIỆU

Khởi nghiệp được nhìn nhận không chỉ là một lựa chọn nghề nghiệp mang tính cá nhân mà còn là một cơ chế thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo việc làm và giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội trong bối cảnh phát triển mới. Trong giáo dục đại học, ý định khởi nghiệp (YDKN) của sinh viên vẫn là một chủ đề được quan tâm mạnh mẽ, bởi đây là tiền đề của hành vi khởi nghiệp trong tương lai (Xanthopoulou & Sahinidis, 2024; Trinh, 2025). Các nghiên cứu tổng quan và nghiên cứu thực nghiệm gần đây cho thấy YDKN của sinh viên chịu tác động đồng thời bởi giáo dục khởi nghiệp, bối cảnh hỗ trợ, động cơ cá nhân, năng lực nhận thức và các giá trị mà cá nhân gán cho lựa chọn nghề nghiệp này (Jintana & c.s., 2025). Tuy nhiên, không phải mọi sinh viên đều sẵn sàng lựa chọn con đường này bởi vì YDKN không chỉ được hình thành từ niềm tin về khả năng thực hiện mà còn từ cách sinh viên đánh giá việc khởi nghiệp có đáng giá, có ý nghĩa và phù hợp với bản thân hay không.

Do vậy, bài viết này hướng đến ba mục tiêu chính. Thứ nhất, kế thừa và vận dụng thang đo giá trị cảm nhận đối với khởi nghiệp đã được phát triển cho bối cảnh sinh viên Việt Nam. Thứ hai, tích hợp biến động cơ vị tha vào mô hình nghiên cứu nhằm xem xét vai trò của động cơ xã hội đối với YDKN. Thứ ba, kiểm định tác động của giá trị cảm nhận đối với khởi nghiệp và động cơ vị tha đến YDKN của sinh viên tại Đồng Nai.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này được xây dựng trên nền tảng tích hợp giữa Thuyết Hành vi dự định (TPB) và cách tiếp cận giá trị cảm nhận. Theo TPB, YDKN hình thành khi cá nhân có thái độ tích cực với hành vi, cảm nhận được sự ủng hộ từ môi trường xã hội và tin tưởng vào khả năng thực hiện hành vi đó (Liñán & Chen, 2009). Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cho thấy việc chỉ dựa vào các biến của TPB là chưa đủ để giải thích đầy đủ quyết định lựa chọn khởi nghiệp của sinh viên, vì quá trình này còn chịu ảnh hưởng bởi động cơ, bối cảnh hỗ trợ, chất lượng giáo dục và cách cá nhân đánh giá tính đáng giá của lựa chọn nghề nghiệp đó (Xanthopoulou & Sahinidis, 2024; Jintana & c.s., 2025).

Trong nghiên cứu này, giá trị cảm nhận đối với khởi nghiệp được hiểu là sự đánh giá chủ quan của sinh viên về mức độ đáng giá của lựa chọn khởi nghiệp trên cơ sở so sánh giữa lợi ích nhận được và các chi phí hoặc rủi ro phải chấp nhận. Về mặt lý thuyết, khi sinh viên cảm nhận mạnh hơn các giá trị tích cực của khởi nghiệp và kiểm soát tốt hơn nhận thức về rủi ro, YDKN sẽ có xu hướng gia tăng. Nhận định này phù hợp với các nghiên cứu gần đây cho thấy giá trị, chất lượng giáo dục và hỗ trợ đại học có vai trò quan trọng trong việc nâng cao tính hấp dẫn của khởi nghiệp đối với sinh viên (Trinh, 2025; González-Pérez & c.s., 2025). Do đó, nghiên cứu sẽ cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa giá trị cảm nhận đối với khởi nghiệp và YDKN của sinh viên bằng cách kiểm định giả thuyết nghiên cứu sau:

H1: Giá trị cảm nhận đối với khởi nghiệp tác động cùng chiều đến YDKN của sinh viên.

Bên cạnh đó, động cơ vị tha được hiểu là xu hướng mong muốn đem lại lợi ích cho người khác, giải quyết vấn đề xã hội và tạo ra tác động tích cực cho cộng đồng. Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy động cơ vị tha, xu hướng tăng cường các giá trị xã hội không chỉ làm gia tăng YDKN xã hội mà còn góp phần củng cố định hướng hành động của sinh viên theo hướng tạo giá trị bền vững và có trách nhiệm (Aggarwal & Manchanda, 2023; Cheah & c.s., 2023). Do đó, nghiên cứu sẽ cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa động cơ vị tha và YDKN của sinh viên bằng cách kiểm định giả thuyết nghiên cứu sau:

H2: Động cơ vị tha tác động cùng chiều đến YDKN của sinh viên tại Đồng Nai.

Ngoài tác động trực tiếp, nghiên cứu này cũng đề xuất xem xét vai trò điều tiết của động cơ vị tha trong mối quan hệ giữa giá trị cảm nhận đối với khởi nghiệp và YDKN. Về mặt lý thuyết, giá trị cảm nhận phản ánh mức độ sinh viên đánh giá khởi nghiệp là một lựa chọn đáng theo đuổi trên cơ sở tổng hợp các lợi ích về cảm xúc, kinh tế, xã hội và tri thức, cùng với các rủi ro phải chấp nhận. Tuy nhiên, cùng một mức giá trị cảm nhận, không phải sinh viên nào cũng chuyển hóa đánh giá tích cực đó thành YDKN với cường độ như nhau. Sự khác biệt này có thể được giải thích bởi động cơ vị tha, vì các nghiên cứu gần đây cho thấy các động cơ xã hội và động cơ vị tha có thể ảnh hưởng đến cách cá nhân diễn giải cơ hội khởi nghiệp và chuyển hóa nhận thức tích cực thành khuynh hướng hành động (Aggarwal & Manchanda, 2023; Cheah & c.s., 2023). Do đó, nghiên cứu sẽ cung cấp bằng chứng thực nghiệm về vai trò điều tiết của động cơ vị tha trong mối quan hệ giữa giá trị cảm nhận đối với khởi nghiệp và YDKN của sinh viên bằng cách kiểm định giả thuyết nghiên cứu sau:

H3: Động cơ vị tha điều tiết tích cực mối quan hệ giữa giá trị cảm nhận đối với khởi nghiệp và YDKN.

Từ các lập luận trên, mô hình nghiên cứu đề xuất được trình bày trong Hình 1.

Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Tác động của giá trị cảm nhận và động cơ vị tha đến ý định khởi nghiệp: Trường hợp các sinh viên tại Đồng Nai

Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thang đo Ý định khởi nghiệp (YDKN) được tác giả kế thừa từ thang đo của Knezović (2024), gồm 4 biến quan sát. Thang đo Giá trị cảm nhận đối với khởi nghiệp (GTCN) được nhóm tác giả kế thừa từ Huỳnh Thúc Hiếu & Nguyễn Thanh Lâm (2026) bởi vì đây là các kết quả của cùng một dự án nghiên cứu lớn của nhóm tác giả; cụ thể, thang đo này gồm có 5 thành phần: Giá trị cảm xúc (GTCX, 5 biến quan sát), Giá trị kinh tế (GTKT, 4 biến quan sát), Giá trị xã hội (GTXH, 4 biến quan sát), Giá trị tri thức (GTTT, 9 biến quan sát) và Rủi ro giá trị (GTRR, 4 biến quan sát). Còn thang đo Động cơ vị tha (ĐCVT) được tác giả kế thừa từ thang đo gốc gồm 5 biến quan sát của Grant & Berry (2011). Từ các thang đo này, tác giả xây dựng bảng câu hỏi khảo sát để tiến hành nghiên cứu định lượng sơ bộ nhằm điều chỉnh nội dung các biến quan sát cho phù hợp trước khi tiến hành nghiên cứu định lượng chính thức. Đối tượng khảo sát là các sinh viên đang theo học tại các trường đại học trên địa bàn tỉnh Đồng Nai bởi vì đây là địa phương có mức độ phát triển công nghiệp và dịch vụ cao, có nhu cầu lớn về đổi mới sáng tạo và phát triển doanh nghiệp; và cũng như phù hợp với nguồn lực nghiên cứu của nhóm tác giả.

Trong tháng 11/2025, thông qua mối quan hệ cá nhân của tác giả, tác giả đã thực hiện phát bảng câu hỏi khảo sát trực tiếp đến 300 sinh viên đang theo học tại một số trường đại học tại Đồng Nai như Trường Đại học Lạc Hồng, Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai, Trường Đại học Công nghệ Miền Đông, và Trường Đại học Lâm Nghiệp (Phân hiệu Đồng Nai) và được chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện, phi xác suất. Kết quả thu về được 241 phiếu (đạt tỷ lệ 80,33%). Sau đó, tác giả tiến hành mã hoá dữ liệu và thực hiện việc làm sạch dữ liệu. Trong 241 quan sát được thu thập, có 39 phiếu bỏ quá nhiều nội dung nên được xem là không hợp lệ. Do đó, trong giai đoạn nghiên cứu sơ bộ dùng dữ liệu thu thập được từ 202 quan sát hợp lệ để tiến hành các phân tích như: đánh giá tóm tắt độ tin cậy, độ hội tụ thang đo và độ phân biệt của các cấu trúc đo lường bậc thấp; đánh giá tóm tắt độ tin cậy, độ hội tụ thang đo và độ phân biệt của các cấu trúc đo lường bậc cao; kiểm định các giả thuyết nghiên cứu thông qua đánh giá mô hình cấu trúc tuyến tính (PLS-SEM). Việc phân tích dữ liệu được thực hiện với phần mềm SmartPLS v.4.0.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tóm tắt đánh giá các cấu trúc đo lường bậc thấp

Một thang đo được xem là đạt yêu cầu về độ tin cậy và giá trị hội tụ khi độ tin cậy tổng hợp (CR) lớn hơn 0,7 (Hair & c.s., 2019) và phương sai trung bình được trích (AVE) lớn hơn 0,5 (Hock & c.s., 2010). Kết quả phân tích giá trị hội tụ được trình bày tại Bảng 1 cho thấy tất cả các giá trị CR và AVE đều vượt ngưỡng; đồng thời, các giá trị CR đều lớn hơn AVE tương ứng. Những kết quả này khẳng định mô hình đo lường đáp ứng yêu cầu về giá trị hội tụ.

Bảng 1: Kết quả phân tích độ tin cậy và độ hội tụ của các cấu trúc bậc thấp

Stt

Thang đo

Độ tin cậy tổng hợp (CR)

Phương sai

trung bình (AVE)

1

GTCX- Giá trị cảm xúc

0,813

0,713

2

GTKT- Giá trị kinh tế

0,821

0,721

3

GTRR- Rủi ro giá trị

0,862

0,692

4

GTTT- Giá trị tri thức

0,847

0,726

5

GTXH- Giá trị xã hội

0,833

0,737

6

ĐCVT- Động cơ vị tha

0,851

0,708

7

YDKN- Ý định khởi nghiệp

0,842

0,688

Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả

Đánh giá độ phân biệt của các thang đo thông qua chỉ số tỉ lệ đặc điểm dị biệt - đặc điểm đơn nhất (HTMT- Heterotrait-Monotrait ratio). Bảng 2 cho thấy chỉ số HTMT lớn nhất là 0,342 nhỏ hơn 0,85. Vì thế, ta có thể kết luận rằng các khái niệm nghiên cứu tuy có tương quan nhưng vẫn phân biệt với các khái niệm nghiên cứu khác, không có hiện tượng trùng khái niệm.

Bảng 2: Kết quả phân tích chỉ số HTMT

GTCX

GTKT

GTRR

GTTT

GTXH

ĐCVT

GTKT

0,183

GTRR

0,192

0,183

GTTT

0,128

0,233

0,231

GTXH

0,098

0,189

0,093

0,167

ĐCVT

0,241

0,233

0,193

0,104

0,138

YDKN

0,342

0,214

0,184

0,192

0,149

0,183

Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả

Tóm tắt đánh giá các cấu trúc đo lường bậc cao

Hình 2 cho thấy thang đo GTCN trong mô hình đo lường bậc cao là thang đo phản ánh. Kết quả phân tích dữ liệu cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha của GTCN đạt 0,811, độ tin cậy tổng hợp CR đạt 0,826 và AVE đạt 0,738. Như vậy, kết quả này khẳng định các thang đo phản ánh đáp ứng đầy đủ yêu cầu về độ tin cậy và giá trị hội tụ. Ngoài ra, các chỉ số HTMT giữa GTCN, ĐCVT và YDKN đều rất nhỏ so với ngưỡng 0,85; do đó, có thể khẳng định rằng các khái niệm nghiên cứu mặc dù có mối tương quan nhất định nhưng vẫn bảo đảm tính phân biệt rõ ràng với các khái niệm khác, không xuất hiện hiện tượng trùng lặp khái niệm.

Hình 2: Mô hình đo lường bậc cao GTCN

Tác động của giá trị cảm nhận và động cơ vị tha đến ý định khởi nghiệp: Trường hợp các sinh viên tại Đồng Nai

Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả

Đánh giá mô hình cấu trúc

Theo Hair & c.s. (2014), giá trị VIF từ 5 trở lên là dấu hiệu cho thấy mô hình tồn tại vấn đề cộng tuyến. Kết quả kiểm định hiện tượng cộng tuyến trong mô hình đo lường bậc cao cho thấy toàn bộ các hệ số VIF đều nhỏ hơn 5; qua đó khẳng định không tồn tại hiện tượng cộng tuyến giữa các biến trong mô hình đo lường. Đồng thời, kết quả trong Bảng 3 cho thấy chỉ số SRMR của cả mô hình tới hạn và mô hình ước lượng đều nhỏ hơn 0,08. Những kết quả này cho thấy mô hình ước lượng đáp ứng yêu cầu về mức độ phù hợp giữa dữ liệu khảo sát và dữ liệu thị trường.

Bảng 3: Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình nghiên cứu

Mô hình tới hạn

Mô hình ước lượng

SRMR

0,061

0,061

Chi-square

249,824

250,913

NFI

0,872

0,871

Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả

Nghiên cứu áp dụng kỹ thuật bootstrapping với số mẫu lặp N = 5.000 theo khuyến nghị của Henseler & c.s. (2015). Kết quả ước lượng cho thấy các trọng số gốc đều có ý nghĩa thống kê so với trọng số trung bình thu được từ quá trình bootstrapping, khi toàn bộ các trọng số nằm trong khoảng tin cậy 95%. Do đó, có thể khẳng định các ước lượng trong mô hình đạt mức độ tin cậy cần thiết. Kết quả ước lượng mô hình cấu trúc được trình bày tại Bảng 4.

Bảng 4: Kết quả ước lượng mô hình cấu trúc

Mối quan hệ

Hệ số ước lượng

t

p

β

Beta (Bootstrap)

GTCN → YDKN

0,231

0,232

9,231

0,000

ĐCVT → YDKN

0,183

0,185

5,629

0,000

ĐCVT x GTCN → YDKN

0,118

0,119

6,347

0,000

Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả

Kết quả nghiên cứu định lượng chính thức trong Bảng 4 đã chỉ ra rằng tất cả các giả thuyết H1-H3 trong mô hình đều được chấp nhận với ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Thảo luận kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy GTCN có tác động tích cực đến YDKN của sinh viên, qua đó khẳng định rằng khi nhận thức khởi nghiệp là một lựa chọn có ý nghĩa, hữu ích và đáng theo đuổi, sinh viên sẽ có xu hướng hình thành YDKN mạnh hơn. Kết quả này phù hợp với xu hướng nghiên cứu gần đây khi cho rằng YDKN không chỉ chịu tác động bởi giáo dục khởi nghiệp hay đặc điểm cá nhân, mà còn phụ thuộc vào cách người học đánh giá giá trị tổng thể của con đường khởi nghiệp (Trinh, 2025; Xanthopoulou & Sahinidis, 2024; Sisu & c.s., 2024). Đồng thời, phát hiện này cũng tương thích với các công trình nhấn mạnh vai trò của chất lượng giáo dục, trải nghiệm học tập và môi trường hỗ trợ trong việc gia tăng nhận thức tích cực của sinh viên về khởi nghiệp, từ đó thúc đẩy YDKN (González-Pérez & c.s., 2025). Như vậy, trong bối cảnh nghiên cứu này, GTCN có thể được xem là một nền tảng nhận thức quan trọng giúp giải thích vì sao sinh viên lựa chọn khởi nghiệp như một định hướng nghề nghiệp tiềm năng.

Bên cạnh đó, ĐCVT không chỉ tác động tích cực trực tiếp đến YDKN mà còn điều tiết tích cực mối quan hệ giữa GTCN và YDKN. Kết quả này chỉ ra rằng sinh viên có xu hướng mong muốn tạo giá trị cho người khác và cho cộng đồng sẽ dễ chuyển hóa nhận thức tích cực về khởi nghiệp thành ý định hành động mạnh hơn. Phát hiện này tương tự với các nghiên cứu về khởi nghiệp xã hội và khởi nghiệp tạo tác động, trong đó động cơ xã hội, đồng cảm và trách nhiệm xã hội được xem là những động lực quan trọng thúc đẩy YDKN của người học (Cheah & c.s., 2023). Đồng thời, kết quả cũng phù hợp với các nghiên cứu gần đây cho rằng ĐCVT có thể tăng cường ảnh hưởng của các yếu tố nhận thức và động cơ khác trong quá trình hình thành YDKN (Aggarwal & Manchanda, 2023). Do đó, nghiên cứu này góp phần bổ sung bằng chứng rằng YDKN của sinh viên được hình thành từ sự kết hợp giữa nhận thức về giá trị của khởi nghiệp và động cơ hướng đến cộng đồng, đồng thời phản ánh xu hướng dịch chuyển từ logic khởi nghiệp vì lợi ích cá nhân sang logic khởi nghiệp để tạo giá trị xã hội và phát triển bền vững.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho thấy giá trị cảm nhận đối với khởi nghiệp và động cơ vị tha đều có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy ý định khởi nghiệp của sinh viên, đồng thời động cơ vị tha còn làm gia tăng tác động tích cực của giá trị cảm nhận đối với khởi nghiệp lên ý định khởi nghiệp. Kết quả này góp phần khẳng định rằng ý định khởi nghiệp của sinh viên không chỉ được hình thành từ đánh giá về lợi ích và ý nghĩa của con đường khởi nghiệp, mà còn chịu ảnh hưởng bởi định hướng tạo giá trị cho người khác và cho cộng đồng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu bổ sung thêm bằng chứng cho hướng tiếp cận tích hợp giữa yếu tố nhận thức và yếu tố động cơ trong giải thích ý định khởi nghiệp, đồng thời chỉ ra rằng các cơ sở giáo dục đại học cần chú trọng đồng thời đến việc nâng cao giá trị cảm nhận về khởi nghiệp và bồi dưỡng các giá trị vị tha, trách nhiệm xã hội cho sinh viên nhằm nuôi dưỡng tinh thần khởi nghiệp theo hướng bền vững và có trách nhiệm hơn.

Tài liệu tham khảo:

1. Aggarwal, A., & Manchanda, P. (2023). A moderated mediation model linking prosocial motivation and social entrepreneurial intention. International Journal of Entrepreneurial Venturing, 15(4), 411–430. DOI: 10.1504/IJEV.2023.134933

2. Bao, P., & Xiao, Z. (2026). How does ideological and political education facilitate university students’ social entrepreneurial intention in China? International Journal of Management Education, 24, Article 101289. DOI: 10.1016/j.ijme.2025.101289

3. Cheah, J. S. S., Loh, S., & Gunasekaran, A. (2023). Motivational catalysts: The dominant role between prosocial personality and social entrepreneurial intentions among university students. Social Enterprise Journal, 19(6), 987–1009. DOI: 10.1108/SEJ-04-2023-0036

4. González-Pérez, S., Mielgo-Álvarez, A., & Molina-López, M. M. (2025). Higher education quality as a driver of entrepreneurship. International Journal of Quality and Service Sciences. DOI: 10.1108/IJQSS-10-2024-0154

5. Grant, A. M., & Berry, J. W. (2011). The necessity of others is the mother of invention: Intrinsic and prosocial motivations, perspective taking, and creativity. Academy of Management Journal, 54(1), 73–96. DOI: 10.5465/amj.2011.59215085

6. Hair, J. F., Risher, J. J., Sarstedt, M., & Ringle, C. M. (2019). When to use and how to report the results of PLS-SEM. European Business Review, 31(1), 2–24. DOI: 10.1108/EBR-11-2018-0203

7. Hair, J. F., Sarstedt, M., Hopkins, L., & Kuppelwieser, V. G. (2014). Partial least squares structural equation modeling (PLS-SEM): An emerging tool in business research. European Business Review, 26(2), 106–121. DOI: 10.1108/EBR-10-2013-0128

8. Henseler, J., Ringle, C. M., & Sarstedt, M. (2015). A new criterion for assessing discriminant validity in variance-based structural equation modeling. Journal of the Academy of Marketing Science, 43(1), 115–135. DOI: 10.1007/s11747-014-0403-8

9. Hock, C., Ringle, C. M., & Sarstedt, M. (2010). Management of multi-purpose stadiums: Importance and performance measurement of service interfaces. International Journal of Services Technology and Management, 14(2–3), 188–207. DOI: 10.1504/IJSTM.2010.034327

10. Huỳnh Thúc Hiếu, & Nguyễn Thanh Lâm. (2026, February 27). Phát triển thang đo giá trị cảm nhận đối với khởi nghiệp của sinh viên đại học tại Việt Nam. Chuyên trang Nghiên cứu Kinh tế-Tài chính.

11. Jintana, S., Boonlab, S., & Supromin, C. (2025). Enhancing digital-era entrepreneurial intentions: A strategic model for university students. Cogent Business & Management, 12(1), Article 2494293. DOI: 10.1080/23311975.2025.2494293

12. Knezović, E. (2024). Self-perceived employability and entrepreneurial and intrapreneurial intentions: Evidence from six countries. Global Business and Organizational Excellence, 44, 5–15. DOI: 10.1002/joe.22205

13. Lin, M. L., Yu, T. K., & Sadat, A. M. (2022). The psychological motivations to social innovation and transmitting role of social worth. Frontiers in Psychology, 13, Article 850783. DOI: 10.3389/fpsyg.2022.850783

14. Linán, F., & Chen, Y.-W. (2009). Development and cross-cultural application of a specific instrument to measure entrepreneurial intentions. Entrepreneurship Theory and Practice, 33(3), 593–617. DOI: 10.1111/j.1540-6520.2009.00318.x

15. Sisu, J. A., Tirnovanu, A. C., Patriche, C.-C., ... & Schin, G. C. (2024). Enablers of students' entrepreneurial intentions: Findings from PLS-SEM and fsQCA. International Journal of Entrepreneurial Behavior & Research. DOI: 10.1108/IJEBR-07-2023-0689.

16. Trinh, T. L. (2025). Cultivating future entrepreneurs: A holistic examination of intention formation in Vietnamese higher education. Journal of Entrepreneurship and Public Policy. DOI: 10.1108/JEPP-08-2024-0138.

17. Xanthopoulou, P., & Sahinidis, A. (2024). Students’ entrepreneurial intention and its influencing factors: A systematic literature review. Administrative Sciences, 14(5), Article 98. DOI: 10.3390/admsci1405009.

Ngày nhận bài: 15/01/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 06/3/2026; Ngày duyệt đăng: 11/3/2026

Các tin khác

Đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của cá nhân hóa bằng AI đến tình yêu thương hiệu của người tiêu dùng trên nền tảng trực tuyến tại TP. Hồ Chí Minh

Đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của cá nhân hóa bằng AI đến tình yêu thương hiệu của người tiêu dùng trên nền tảng trực tuyến tại TP. Hồ Chí Minh

Thông qua việc thu thập và phân tích dữ liệu hành vi theo thời gian thực, các nền tảng số đang ngày càng có khả năng cung cấp những trải nghiệm được cá nhân hóa cụ thể như việc gợi ý sản phẩm phù hợp, đưa nội dung thích ứng và khả năng tương tác với khách hàng cũng được điều chỉnh theo từng cá nhân.
Pháp luật Liên minh châu Âu về truy xuất nguồn gốc hàng hóa nhằm đáp ứng tiêu chuẩn ESG

Pháp luật Liên minh châu Âu về truy xuất nguồn gốc hàng hóa nhằm đáp ứng tiêu chuẩn ESG

Kể từ khi Thỏa thuận Xanh châu Âu được thông qua, EU đã đẩy mạnh việc chuyển đổi các chuẩn mực tự nguyện về ESG sang nghĩa vụ pháp lý có gắn chế tài và có tác động xuyên biên giới.
Tác động của chuyển đổi số đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại: Tiếp cận theo khung COSO và chu trình quản lý

Tác động của chuyển đổi số đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại: Tiếp cận theo khung COSO và chu trình quản lý

Chuyển đổi số đã trở thành định hướng chiến lược của ngành ngân hàng Việt Nam, được thể chế hóa qua Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Đến năm 2025, nhiều tổ chức tín dụng đã đạt trên 90% giao dịch của khách hàng thực hiện trên kênh số, hơn 87% người trưởng thành có tài khoản ngân hàng.
Mối quan hệ giữa trí tuệ nhân tạo với ngành kế toán - kiểm toán: Tiếp cận bằng phương pháp trắc lượng thư mục

Mối quan hệ giữa trí tuệ nhân tạo với ngành kế toán - kiểm toán: Tiếp cận bằng phương pháp trắc lượng thư mục

Bước vào những năm 2010, khái niệm AI đã vượt khỏi phạm trù khoa học máy tính thuần túy và bắt đầu ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành nghề yêu cầu kỹ năng phân tích dữ liệu chuyên sâu.
Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế: Nghiên cứu tại Công ty MEDIA

Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế: Nghiên cứu tại Công ty MEDIA

Sự thay đổi nhanh của thị trường lao động, công nghệ và nhu cầu tuyển dụng xuyên biên giới đang đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị và phát triển nguồn nhân lực.
Hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở trình độ cao gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng tại Việt Nam

Hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở trình độ cao gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng tại Việt Nam

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi số, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và cạnh tranh quốc tế ngày càng gia tăng, những hạn chế về chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo và hiệu quả phân bổ nguồn lực đã bộc lộ rõ.
Hệ thống kế toán quản trị môi trường hỗ trợ áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001: Bằng chứng thực nghiệm từ các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam

Hệ thống kế toán quản trị môi trường hỗ trợ áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001: Bằng chứng thực nghiệm từ các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và yêu cầu phát triển bền vững, việc áp dụng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 14001 được xem là một chiến lược phổ biến giúp doanh nghiệp chuẩn hóa quy trình vận hành và giảm thiểu tác động tiêu cực đến hệ sinh thái.
Dự báo các tác động của công nghệ STARA đối với việc làm ngành dịch vụ tại Việt Nam trong kỷ nguyên số

Dự báo các tác động của công nghệ STARA đối với việc làm ngành dịch vụ tại Việt Nam trong kỷ nguyên số

Smart Technology (Công nghệ thông minh) - Artificial Intelligence (Trí tuệ nhân tạo) - Robotics (Người máy) - Algorithms (Thuật toán) (STARA) đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ, làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống hàng ngày (Brougham và Haar, 2018). Với những lợi ích của việc tăng hiệu quả, tiết kiệm chi phí, tạo ra khác biệt hóa, nâng cao trải nghiệm khách hàng và cuối cùng là cải thiện hiệu suất tổng thể, nhiều công ty đã áp dụng công nghệ STARA vào hoạt động của mình, đặc biệt là các doanh nghiệp ngành dịch vụ đang có mức độ ứng dụng công nghệ rất cao nhằm tối ưu hóa hoạt động kinh doanh (Bandoim, 2019).
Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý trong phát triển chính quyền số: Thực tiễn nghiên cứu tại Hà Tĩnh và hàm ý chính sách

Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý trong phát triển chính quyền số: Thực tiễn nghiên cứu tại Hà Tĩnh và hàm ý chính sách

Nếu chính phủ điện tử chủ yếu nhấn mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào các quy trình hành chính hiện hữu, thì chính quyền số đòi hỏi sự thay đổi sâu hơn về quy trình, dữ liệu, văn hóa tổ chức và quan hệ giữa cơ quan công quyền với công dân.
Hiểu biết tài chính và kiểm soát rủi ro dịch vụ mua trước trả sau của Gen Z Việt Nam

Hiểu biết tài chính và kiểm soát rủi ro dịch vụ mua trước trả sau của Gen Z Việt Nam

Mua trước trả sau cho phép người tiêu dùng nhận hàng trước rồi thanh toán sau hoặc chia thành nhiều kỳ. Sự thuận tiện này cải thiện thanh khoản ngắn hạn nhưng cũng có thể làm mờ cảm nhận về tổng nghĩa vụ.