Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng trong việc sử dụng nền tảng gọi xe tại TP. Hồ Chí Minh: Vai trò trung gian của ý định hành vi

Nghiên cứu - Trao đổi 16:49 | 10/06/2026
Sự phát triển nhanh của các nền tảng gọi xe vừa tạo cơ hội thúc đẩy giao thông thông minh, vừa đặt ra yêu cầu hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật số và khung pháp lý phù hợp.

TS. Trần Ngọc Lâm

Trường Đại học Lạc Hồng

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định và hành vi sử dụng nền tảng gọi xe của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh kinh tế chia sẻ phát triển mạnh mẽ. Dữ liệu được thu thập từ 289 người dùng dịch vụ gọi xe thông qua khảo sát trực tuyến và được phân tích bằng mô hình PLS-SEM trên phần mềm SmartPLS 3.29. Kết quả cho thấy Chuẩn mực văn hóa, Mức thu nhập và Hạ tầng kỹ thuật số đều tác động tích cực đến Ý định hành vi, đồng thời Ý định hành vi có ảnh hưởng đáng kể đến Hành vi sử dụng thực tế. Nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở lý thuyết về hành vi chấp nhận công nghệ trong lĩnh vực gọi xe trực tuyến; đồng thời đưa ra hàm ý nhằm hoàn thiện hạ tầng số, nâng cao trải nghiệm người dùng và thúc đẩy phát triển giao thông đô thị thông minh, bền vững tại Việt Nam.

Từ khóa: Nền kinh tế chia sẻ, hành vi tiêu dùng, dịch vụ gọi xe, kinh tế - xã hội

Abstract

This study examines the factors affecting consumers’ intention and actual behavior in using ride-hailing platforms in Ho Chi Minh City in the context of the rapid growth of the sharing economy. Data were collected from 289 ride-hailing service users through an online survey and analyzed using the PLS-SEM model with SmartPLS 3.29 software. The findings indicate that Cultural norms, Income level, and Digital infrastructure positively influence Behavioral intention, while Behavioral intention significantly affects Actual usage behavior. The study contributes to the theoretical understanding of technology acceptance behavior in the ride-hailing sector and provides implications for improving digital infrastructure, enhancing user experience, and promoting sustainable smart urban transportation development in Viet Nam.

Keywords: Sharing economy, consumer behavior, ride-hailing services, socio-economic factors

GIỚI THIỆU

Trong những năm gần đây, dịch vụ gọi xe trực tuyến phát triển mạnh và trở thành một phần quan trọng của nền kinh tế chia sẻ. Các nền tảng như Grab, Gojek hay Xanh SM không chỉ thay đổi hành vi di chuyển đô thị mà còn góp phần nâng cao tính linh hoạt, minh bạch và tiện lợi trong vận tải hành khách. Ở các quốc gia đang phát triển, dịch vụ này còn hỗ trợ giải quyết tình trạng ùn tắc giao thông, hạn chế của phương tiện công cộng và thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực giao thông.

Nhiều nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào các yếu tố công nghệ như tính hữu ích, sự thuận tiện hay niềm tin của người dùng, trong khi các yếu tố kinh tế - xã hội có vai trò quan trọng trong việc hình thành ý định và hành vi sử dụng thực tế đối với nền tảng gọi xe, như chuẩn mực văn hóa, mức thu nhập, hạ tầng kỹ thuật số và khung pháp lý vẫn chưa được xem xét đầy đủ, đặc biệt tại các nước đang phát triển.

TP. Hồ Chí Minh là đô thị lớn với tốc độ đô thị hóa cao, áp lực giao thông ngày càng gia tăng và tỷ lệ sử dụng ứng dụng gọi xe thuộc nhóm cao ở Đông Nam Á. Sự phát triển nhanh của các nền tảng gọi xe vừa tạo cơ hội thúc đẩy giao thông thông minh, vừa đặt ra yêu cầu hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật số và khung pháp lý phù hợp. Vì vậy, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng nền tảng gọi xe tại TP. Hồ Chí Minh có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Trong bối cảnh nền kinh tế chia sẻ, đặc biệt là dịch vụ gọi xe trực tuyến, nghiên cứu hành vi người tiêu dùng không chỉ tập trung vào yếu tố công nghệ mà còn cần xem xét các yếu tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến việc chấp nhận và sử dụng dịch vụ. Các mô hình kinh điển như Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) và Lý thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) chủ yếu nhấn mạnh nhận thức về tính hữu ích và tính dễ sử dụng, tuy nhiên tại các quốc gia đang phát triển, những yếu tố như khung pháp lý, chuẩn mực văn hóa, mức thu nhập và hạ tầng kỹ thuật số lại có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hành vi chấp nhận công nghệ (Almunawar và cộng sự, 2021).

Trong đó, khung pháp lý minh bạch giúp nâng cao niềm tin và bảo vệ người dùng, trong khi sự thiếu ổn định về pháp lý có thể làm giảm mức độ chấp nhận dịch vụ mới. Chuẩn mực văn hóa ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thông qua tác động của nhóm xã hội và các giá trị cộng đồng (Abu Bakar và Connaughton, 2019). Đồng thời, mức thu nhập quyết định khả năng tiếp cận công nghệ và dịch vụ số, từ đó tạo ra sự khác biệt trong hành vi sử dụng giữa các nhóm người dùng. Bên cạnh đó, hạ tầng kỹ thuật số, bao gồm kết nối Internet và thanh toán điện tử, là điều kiện quan trọng bảo đảm nền tảng vận hành hiệu quả và nâng cao trải nghiệm người dùng.

Việc kết hợp các yếu tố kinh tế - xã hội vào mô hình nghiên cứu giúp mở rộng cách tiếp cận về hành vi chấp nhận công nghệ vượt ra ngoài các yếu tố công nghệ truyền thống. Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh tại TP. Hồ Chí Minh, dịch vụ gọi xe trực tuyến ngày càng giữ vai trò quan trọng trong tối ưu hóa di chuyển và thúc đẩy phát triển giao thông đô thị thông minh, bền vững.

Mô hình nghiên cứu

Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây (Kirchner và Schüßler, 2020; Almunawar và cộng sự, 2021; Pobee và Ansong, 2022), tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 3 biến độc lập: Chuẩn mực văn hóa (CN), Mức thu nhập (IL) và Hạ tầng kỹ thuật số (DI); một biến trung gian là Ý định hành vi (BI); và biến phụ thuộc là Hành vi sử dụng thực tế nền tảng gọi xe (RBU).

Các giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

H1: Chuẩn mực văn hóa tác động tích cực đến Ý định hành vi.

H2: Mức thu nhập tác động tích cực đến Ý định hành vi.

H3: Hạ tầng kỹ thuật số tác động tích cực đến Ý định hành vi.

H4: Ý định hành vi tác động tích cực đến Hành vi sử dụng thực tế nền tảng gọi xe.

Mô hình nghiên cứu được trình bày tại Hình.

Hình: Mô hình nghiên cứu

Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng trong việc sử dụng nền tảng gọi xe tại TP. Hồ Chí Minh: Vai trò trung gian của ý định hành vi

Nguồn: Tác giả đề xuất

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp hỗn hợp gồm định tính và định lượng. Giai đoạn định tính sử dụng thảo luận chuyên gia để điều chỉnh thang đo phù hợp với mục tiêu nghiên cứu. Giai đoạn định lượng tiến hành khảo sát trực tuyến người dùng dịch vụ gọi xe tại TP. Hồ Chí Minh bằng thang đo Likert 5 mức. Sau sàng lọc, nghiên cứu thu được 289 mẫu hợp lệ. Dữ liệu được phân tích bằng mô hình PLS-SEM trên phần mềm SmartPLS 3.29 nhằm kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 1 cho thấy các hệ số tải của biến quan sát đều lớn hơn 0,7 và có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Kết quả này khẳng định các biến Chuẩn mực văn hóa, Mức thu nhập, Hạ tầng kỹ thuật số, Ý định hành vi và Hành vi sử dụng thực tế đều đạt độ tin cậy và giá trị hội tụ tốt.

Bảng 1: Hệ số tải ngoài

Original Sample (O)

Sample Mean (M)

Standard Deviation (STDEV)

T Statistics (|O/STDEV|)

P Values

BI_1 ← BI

0,878

0,878

0,017

51,674

0,000

BI_2 ← BI

0,863

0,863

0,018

48,068

0,000

BI_3 ← BI

0,876

0,876

0,017

50,131

0,000

BI_4 ← BI

0,833

0,832

0,023

36,616

0,000

CN_1 ← CN

0,813

0,807

0,051

16,088

0,000

CN_2 ← CN

0,892

0,888

0,027

32,659

0,000

CN_3 ← CN

0,799

0,798

0,052

15,404

0,000

DI_1 ← DI

0,857

0,830

0,111

7,702

0,000

DI_2 ← DI

0,907

0,891

0,092

9,811

0,000

DI_3 ← DI

0,866

0,853

0,089

9,729

0,000

IL_1 ← IL

0,860

0,860

0,022

39,652

0,000

IL_2 ← IL

0,737

0,734

0,047

15,804

0,000

IL_3 ← IL

0,872

0,871

0,023

38,015

0,000

IL_4 ← IL

0,886

0,884

0,016

53,841

0,000

RBU_1 ← RBU

0,865

0,865

0,019

45,047

0,000

RBU_2 ← RBU

0,837

0,837

0,029

28,731

0,000

RBU_3 ← RBU

0,799

0,798

0,037

21,642

0,000

Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu

Bảng 2 cho thấy các chỉ báo có tải chéo hợp lệ và độ phân biệt tốt, với tương quan chỉ báo - cấu trúc cao hơn so với các cấu trúc khác. Tất cả các cấu trúc đều có CR và Cronbach’s Alpha > 0,7, cho thấy độ tin cậy tốt. AVE > 0,5 xác nhận độ phân biệt của mô hình.

Bảng 2: Hệ số CR và Cronbach’s Alpha

Cronbach's Alpha

rho_A

CR

AVE

BI

0,885

0,887

0,901

0,744

CN

0,785

0,798

0,874

0,699

DI

0,853

0,892

0,909

0,769

IL

0,861

0,878

0,906

0,707

RBU

0,782

0,794

0,873

0,696

Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu

Bảng 3: Hệ số R2

R2

R2 hiệu chỉnh

BI

0,655

0,646

RBU

0,512

0,495

Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu

Bảng 3 cho thấy R² của Ý định hành vi (BI) là 0,655, nghĩa là 65,5% BI bị ảnh hưởng bởi Chuẩn mực văn hóa (CN), Mức thu nhập (IL) và Hạ tầng kỹ thuật số (DI), còn 34,5% chịu tác động từ yếu tố khác. R² của Hành vi sử dụng thực tế (RBU) là 0,512, cho thấy 51,2% RBU bị BI chi phối, phần còn lại 48,8% do các yếu tố ngoài nghiên cứu.

Bảng 4: Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu

Original Sample (O)

Sample Mean (M)

Standard Deviation (STDEV)

T Statistics (|O/STDEV|)

P Values

BI → RBU

0,559

0,562

0,040

14,136

0,000

CN → BI

0,163

0,166

0,066

2,473

0,013

DI → BI

0,218

0,227

0,061

0,299

0,016

IL → BI

0,305

0,307

0,058

5,279

0,000

CN → BI → RBU

0,191

0,194

0,039

2,355

0,019

DI → BI → RBU

0,210

0,216

0,035

0,295

0,018

IL → BI → RBU

0,170

0,173

0,034

4,949

0,000

Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu

Nghiên cứu kiểm định các mối ảnh hưởng giữa biến bằng phương pháp bootstrapping, giúp giảm sai lệch do dữ liệu không phân phối chuẩn. Kết quả trình bày tại Bảng 4 khẳng định tất cả các giả thuyết được chấp nhận. Trong đó:

Chuẩn mực văn hóa ảnh hưởng đáng kể đến ý định hành vi (β = 0,163; p < 0,05), chấp nhận H1. Điều này cho thấy ảnh hưởng xã hội từ gia đình, bạn bè và cộng đồng định hình hành vi sử dụng dịch vụ gọi xe.

Mức thu nhập tác động tích cực đến ý định sử dụng nền tảng gọi xe (β = 0,305; p < 0,05), chấp nhận H2. Thu nhập cao giúp người tiêu dùng dễ tiếp cận điện thoại thông minh, Internet và dịch vụ mới. Ngược lại, chênh lệch thu nhập tạo “khoảng cách số”, hạn chế nhóm thu nhập thấp sử dụng dịch vụ.

Hạ tầng kỹ thuật số ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến ý định hành vi (β = 0,218; p < 0,05), chấp nhận H3. Sở hữu mạng Internet tốc độ cao, trung tâm dữ liệu và hệ thống thanh toán ổn định thúc đẩy việc chấp nhận nền tảng gọi xe.

Ý định hành vi (BI) là yếu tố trung gian quan trọng ảnh hưởng Hành vi sử dụng thực tế (β = 0,559; p < 0,05), chấp nhận H4. Ý định hành vi cũng giải thích tác động gián tiếp của Chuẩn mực văn hóa, Mức thu nhập và Hạ tầng kỹ thuật số lên Hành vi sử dụng thực tế với các hệ số lần lượt 0,19; 0,21; 0,17, đều có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Kết quả nghiên cứu cho thấy Chuẩn mực văn hóa, Mức thu nhập và Hạ tầng kỹ thuật số đều tác động tích cực đến Ý định sử dụng nền tảng gọi xe, từ đó ảnh hưởng đến Hành vi sử dụng thực tế của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh. Trong đó, Ý định hành vi đóng vai trò trung gian quan trọng trong mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế - xã hội và Hành vi sử dụng thực tế.

Nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở lý thuyết về hành vi chấp nhận công nghệ trong bối cảnh kinh tế chia sẻ tại các quốc gia đang phát triển, đồng thời nhấn mạnh vai trò của các yếu tố kinh tế - xã hội đối với sự phát triển của nền tảng gọi xe.

Từ kết quả nghiên cứu, doanh nghiệp cần chú trọng đầu tư hạ tầng kỹ thuật số, nâng cao trải nghiệm người dùng và thiết kế dịch vụ phù hợp với đặc điểm văn hóa địa phương. Đồng thời, việc minh bạch thông tin và bảo đảm an toàn dữ liệu sẽ góp phần gia tăng niềm tin và mức độ gắn bó của người dùng. Đối với Nhà nước, cần hoàn thiện khung pháp lý, thúc đẩy thanh toán điện tử và phát triển hạ tầng số nhằm hỗ trợ phát triển giao thông đô thị thông minh và bền vững.

Tài liệu tham khảo:

1. Abu Bakar, H., & Connaughton, S. L. (2019). Measuring shared cultural characteristics in Malaysia: Scale development and validation. Cross Cultural & Strategic Management, 26(2), 246-264.

2. Almunawar, M., Anshari, M., & Lim, S. (2021). Customer acceptance of ride-hailing in Indonesia. Journal of Science and Technology Policy Management, 12(3), 443-462.

3. Kirchner, S & Schüßler, E 2020, Regulating the sharing economy: A field perspective. Research in the Sociology of Organizations, 66, 215-236

4. Pobee, F., & Ansong, E. (2022). Behavioral intention and actual use of ride-hailing applications in developing countries. Journal of Transportation Technologies, 12(4), 233-248.

Ngày nhận bài: 27/3/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 27/5/2026; Ngày duyệt đăng: 10/6/2026

Các tin khác

Trải nghiệm trò chơi hóa và ý định tiếp tục sử dụng ví điện tử của thế hệ Z: Mô hình lý thuyết về vai trò trung gian của tình yêu thương hiệu

Trải nghiệm trò chơi hóa và ý định tiếp tục sử dụng ví điện tử của thế hệ Z: Mô hình lý thuyết về vai trò trung gian của tình yêu thương hiệu

Trải nghiệm trò chơi hóa góp phần nâng cao sự tương tác và thúc đẩy ý định tiếp tục sử dụng ví điện tử của thế hệ Z. Các bằng chứng thực nghiệm ghi nhận tác động tích cực của trò chơi hóa đến khả năng duy trì người dùng và hành vi mua sắm. Tuy nhiên, hiệu quả của trò chơi hóa không phải lúc nào cũng tích cực.
Kế toán lưu ký và tự doanh tài sản mã hóa: So sánh Việt Nam với thông lệ quốc tế

Kế toán lưu ký và tự doanh tài sản mã hóa: So sánh Việt Nam với thông lệ quốc tế

Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP về thí điểm thị trường tài sản mã hóa phân biệt lưu ký với tự doanh. Thông tư số 15/2026/TT-BTC đã hướng dẫn nguyên tắc kế toán cho 2 hoạt động này. Tuy nhiên, đối chiếu quốc tế vẫn cần thiết vì việc ghi nhận tài sản lưu ký và đo lường tài sản tự doanh được xử lý khác nhau.
Tác động của trí tuệ nhân tạo đến công việc: Tiếp cận từ góc nhìn cơ hội và rủi ro

Tác động của trí tuệ nhân tạo đến công việc: Tiếp cận từ góc nhìn cơ hội và rủi ro

AI đang dịch chuyển từ vị trí một công nghệ chuyên biệt sang một hạ tầng hỗ trợ phổ biến cho nhiều loại công việc. Vì vậy, tác động của AI đối với công việc không còn chỉ là vấn đề công nghệ mà đã trở thành vấn đề của thiết kế công việc, năng lực nghề nghiệp và quản trị tổ chức.
Cấu trúc ưu tiên các yếu tố trải nghiệm du lịch đô thị trong lựa chọn khách sạn 4-5 sao tại Hà Nội: Tiếp cận Delphi-AHP

Cấu trúc ưu tiên các yếu tố trải nghiệm du lịch đô thị trong lựa chọn khách sạn 4-5 sao tại Hà Nội: Tiếp cận Delphi-AHP

Trải nghiệm của du khách tại thành phố không chỉ hình thành từ một điểm tham quan hay một dịch vụ riêng lẻ, mà từ sự kết hợp của nhiều tài nguyên, hoạt động và điều kiện tiếp cận trong toàn bộ hành trình.
Các yếu tố tác động đến hiệu quả marketing số từ góc nhìn khách hàng cá nhân tại Đồng Nai

Các yếu tố tác động đến hiệu quả marketing số từ góc nhìn khách hàng cá nhân tại Đồng Nai

Sự phát triển của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi toàn diện hành vi người tiêu dùng, biến marketing số thành hệ thống điểm chạm đa kênh giúp doanh nghiệp tối ưu trải nghiệm và duy trì kết nối bền vững với khách hàng.
Nhận thức chi phí và thực hành xanh của nhân viên tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Nhơn Trạch

Nhận thức chi phí và thực hành xanh của nhân viên tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Nhơn Trạch

Bệnh viện vừa là nơi chữa bệnh vừa là nguồn tiêu thụ năng lượng và phát sinh chất thải lớn. Vì vậy, thực hành xanh giúp cơ sở y tế giảm cả tác động môi trường lẫn chi phí vận hành.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành học Khối kinh tế của sinh viên Trường Cao đẳng Đồng Tháp

Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành học Khối kinh tế của sinh viên Trường Cao đẳng Đồng Tháp

Lựa chọn ngành học là một trong những quyết định quan trọng trong quá trình định hướng nghề nghiệp của người học, có ảnh hưởng đến kết quả học tập, mức độ gắn bó với ngành và cơ hội việc làm sau tốt nghiệp.
Ý định khởi nghiệp số của sinh viên đại học Việt Nam: Tiếp cận từ Lý thuyết nhận thức xã hội

Ý định khởi nghiệp số của sinh viên đại học Việt Nam: Tiếp cận từ Lý thuyết nhận thức xã hội

Ý định khởi nghiệp số là yếu tố tiền đề quan trọng đối với sự tham gia khởi nghiệp trong tương lai, bởi nó phản ánh mức độ sẵn sàng và cam kết của sinh viên trong việc theo đuổi các hoạt động khởi nghiệp thông qua công nghệ số.
Tác động của AI đến hiệu quả hoạt động bền vững của các doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam: Phân tích dựa trên các chỉ tiêu tài chính

Tác động của AI đến hiệu quả hoạt động bền vững của các doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam: Phân tích dựa trên các chỉ tiêu tài chính

Tại Việt Nam, mức độ ứng dụng AI chuyên sâu còn hạn chế. Đặc biệt, việc đầu tư công nghệ đòi hỏi nguồn vốn lớn trong khi các doanh nghiệp xây dựng chịu áp lực đòn bẩy tài chính cao. Câu hỏi đặt ra là liệu AI có thực sự tác động tích cực đến hiệu quả tài chính và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp hay không?
Vai trò của kế toán quản trị đối với việc hỗ trợ doanh nghiệp ra quyết định trong bối cảnh chuyển đổi số

Vai trò của kế toán quản trị đối với việc hỗ trợ doanh nghiệp ra quyết định trong bối cảnh chuyển đổi số

Trong môi trường kinh doanh biến động nhanh, nhà quản trị cần thông tin kịp thời, chính xác và có tính dự báo. Nếu kế toán tài chính chủ yếu phản ánh sự kiện đã xảy ra cho đối tượng bên ngoài, thì kế toán quản trị cung cấp thông tin hướng đến tương lai, phục vụ trực tiếp việc lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định trong nội bộ.