Mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến ý định áp dụng công nghệ cao trong lĩnh vực sản xuất nấm tại khu vực miền Nam Việt Nam
Lương Lê Bảo Thắng (Tác giả liên hệ); Email: [email protected]
Nguyễn Văn Tiến; Email: [email protected]
Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh
Vòng Thình Nam
Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
Tóm tắt
Nấm là một trong những loại cây trồng có giá trị cao có thể được trồng cùng với các loại cây trồng khác như một lựa chọn đa dạng hóa cho cả nông dân sản xuất nhỏ và quy mô lớn. Thông qua tổng quan nghiên cứu cũng như các lý thuyết nền tảng: UTAUT (Lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ) và TOE (Khung Công nghệ - Tổ chức - Môi trường), nghiên cứu này đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến Ý định áp dụng công nghệ cao trong lĩnh vực sản xuất nấm tại khu vực miền Nam Việt Nam. Theo đó, mô hình gồm 4 biến độc lập Năng lực tài chính, Kỳ vọng cá nhân, Điều kiện thuận lợi, Thái độ áp dụng công nghệ cao. Biến điều tiết là Tính đổi mới cá nhân; Biến phụ thuộc là Ý định áp dụng công nghệ cao.
Từ khóa: Áp dụng công nghệ, sản xuất nấm, nông dân miền Nam, đào tạo chuyển giao
Abstract
Mushrooms are one of the high-value crops that can be cultivated alongside other crops as a diversification option for both small-scale and large-scale farmers. Through a review of previous studies and the theoretical foundations of UTAUT (Unified Theory of Acceptance and Use of Technology) and TOE (Technology-Organization-Environment Framework), the study proposes a research model of factors influencing the intention to adopt high technology in mushroom production in the Southern region of Viet Nam. Accordingly, the model includes four independent variables: Financial capacity, Personal expectations, Facilitating conditions, and Attitudes toward high-technology adoption. The moderating variable is Personal innovativeness, while the dependent variable is the Intention to adopt high technology.
Keywords: Technology adoption, mushroom production, Southern Vietnamese farmers, training and technology transfer
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên thiên nhiên và yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm, việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp đang trở thành xu hướng tất yếu nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và tính bền vững của ngành nông nghiệp. Tại Việt Nam, nông nghiệp công nghệ cao được xác định là một trong những hướng đi quan trọng để tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, hiệu quả và thân thiện với môi trường. Trong đó, sản xuất nấm là lĩnh vực có nhiều tiềm năng phát triển nhờ nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng, chu kỳ sản xuất ngắn, tận dụng tốt phụ phẩm nông nghiệp và mang lại giá trị kinh tế cao.
Miền Nam Việt Nam là vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi và thị trường tiêu thụ rộng lớn cho ngành sản xuất nấm. Tuy nhiên, mức độ ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nấm vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Nhiều hộ sản xuất quy mô nhỏ còn phụ thuộc vào kinh nghiệm truyền thống, thiếu vốn đầu tư, hạn chế về trình độ kỹ thuật và chưa tiếp cận đầy đủ các dịch vụ hỗ trợ như khuyến nông, tín dụng và thông tin thị trường. Ngoài ra, các rủi ro liên quan đến biến động giá cả, dịch bệnh và đầu ra sản phẩm cũng làm giảm động lực đổi mới công nghệ của người sản xuất (Ahir, 2021).
Tại Việt Nam, mặc dù đã có một số nghiên cứu về nông nghiệp công nghệ cao, nhưng các công trình tập trung chuyên sâu vào lĩnh vực sản xuất nấm còn tương đối hạn chế. Đặc biệt, chưa có nhiều nghiên cứu xem xét một cách hệ thống các nhân tố ảnh hưởng đến ý định áp dụng công nghệ cao của người sản xuất nấm tại khu vực miền Nam - nơi tập trung nhiều cơ sở sản xuất và tiêu thụ lớn nhất cả nước. Việc xác định các nhân tố như nhận thức về lợi ích công nghệ, chi phí đầu tư, khả năng tiếp cận vốn, trình độ kỹ thuật, ảnh hưởng xã hội và chính sách hỗ trợ sẽ giúp làm rõ động lực và rào cản trong quá trình đổi mới công nghệ.
Xuất phát từ thực tiễn đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đề xuất mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến ý định áp dụng công nghệ cao của người sản xuất nấm. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung cơ sở lý luận về hành vi chấp nhận công nghệ trong nông nghiệp, đồng thời cung cấp bằng chứng thực tiễn giúp cơ quan quản lý, tổ chức khuyến nông và doanh nghiệp xây dựng các chính sách, chương trình hỗ trợ phù hợp nhằm thúc đẩy phát triển ngành sản xuất nấm theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Tổng quan nghiên cứu
Ngành công nghiệp nấm và tiềm năng số hóa
Ngành công nghiệp nấm đã nổi lên như một trong những phân khúc năng động nhất trong lĩnh vực trồng trọt, nhờ chu kỳ sản xuất tương đối ngắn, giá trị dinh dưỡng cao và sự ưa chuộng ngày càng tăng của người tiêu dùng đối với protein thực vật. Tại một số nước trên thế giới như Ấn Độ, ngành trồng nấm đã chứng kiến sự mở rộng ổn định, đặc biệt là trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang tìm kiếm cơ hội gia tăng giá trị trong lĩnh vực chế biến nông sản thực phẩm (Jadhav và Gaikwad, 2025). Đồng thời, trong các nghiên cứu trước đây (Appel, 2020; Jadhav và Gaikwad, 2025) đã chỉ ra rằng mạng xã hội rất quan trọng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, qua việc thu hẹp khoảng cách giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp.
Những vấn đề và thách thức của người trồng nấm
Có rất nhiều thách thức và vấn đề mà người trồng nấm phải đối mặt. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, nấm đã được trồng rộng rãi hơn. Điều này tạo ra vấn đề về sự phát triển trong môi trường nhân tạo, các vấn đề trong sản xuất, tiếp thị và các hỗ trợ của nhà nước (Haimid, 2013). Các công cụ kỹ thuật số như hệ thống giám sát khí hậu hỗ trợ IoT có thể tối ưu hóa nhiệt độ và độ ẩm trong khu vực nuôi trồng, trong khi hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) và các giải pháp truy xuất nguồn gốc dựa trên công nghệ chuỗi khối (Blockchain) có thể tăng cường tính minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tuân thủ các quy định về an toàn thực phẩm và củng cố niềm tin của người tiêu dùng (Jena, 2022).
Hơn nữa, các nền tảng thương mại điện tử và liên kết thị trường kỹ thuật số cung cấp các con đường cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa vượt qua những hạn chế của thị trường địa phương, trực tiếp tiếp cận với người mua tổ chức và người tiêu dùng cuối cùng. Tuy nhiên, bằng chứng thực nghiệm về việc áp dụng các giải pháp kỹ thuật số như vậy trong ngành trồng nấm vẫn còn hạn chế, đặc biệt là trong bối cảnh các doanh nghiệp quy mô nhỏ thường thiếu khả năng kỹ thuật và vốn đầu tư cần thiết. Việc tích hợp các công nghệ kỹ thuật số càng trở nên phức tạp hơn do trình độ hiểu biết kỹ thuật số của giới quản lý còn thấp, những lo ngại về lợi nhuận đầu tư không chắc chắn và cấu trúc chuỗi cung ứng rời rạc (Jadhav và Gaikwad, 2025).
Do đó, ngành công nghiệp nấm là một lĩnh vực đầy tiềm năng để nghiên cứu cách thức các can thiệp kỹ thuật số có mục tiêu có thể đồng thời giải quyết các vấn đề kém hiệu quả trong hoạt động và mở ra các hướng tăng trưởng mới. Nghiên cứu này tập trung vào điểm giao thoa quan trọng đó, nhằm xem xét các động lực, rào cản và kết quả của việc áp dụng kỹ thuật số, đặc biệt nhấn mạnh vào ý định áp dụng công nghệ cao, tính đổi mới cá nhân và thái độ áp dụng công nghệ cao của của doanh nghiệp trồng nấm.
Lý thuyết nền tảng
Lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) và Khung Công nghệ - Tổ chức - Môi trường (TOE) là 2 khung lý thuyết nền tảng về ứng dụng công nghệ. Lý thuyết UTAUT được Venkatesh và cộng sự (2003) phát triển để hiểu phản ứng của người tiêu dùng đối với công nghệ thông tin. Trong khi đó, Khung lý thuyết TOE về các quá trình đổi mới công nghệ được Tornatzky và Fleischer (1990) đề xuất. Hai lý thuyết này được rất nhiều nghiên cứu sử dụng, trong đó có nhiều nhiều cứu về chấp nhận công nghệ trong lĩnh vực trồng nấm (Jadhav và Gaikwad, 2025; Ramadhani và cộng sự, 2023; Jena, 2022).
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về chuyển đổi số trong các doanh nghiệp nông thực phẩm quy mô lớn, nhưng vẫn còn thiếu các nghiên cứu thực nghiệm tập trung vào các lĩnh vực chuyên biệt như chế biến nấm nhà trồng nấm bao gồm hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa (Jadhav và Gaikwad, 2025; Jena, 2022; Appel, 2020). Các nghiên cứu trước đây chủ yếu nhấn mạnh vào cơ sở hạ tầng công nghệ và các chỉ số áp dụng rộng rãi, thường bỏ qua các nhân tố đặc thù ngữ cảnh như điều kiện thuận lợi, thái độ áp dụng công nghệ cao đặc biệt là vai trò trung gian của tính đổi mới cá nhân. Dựa trên các mô hình này, nhóm tác giả đã xây dựng mô hình lý thuyết cho nghiên cứu này.
GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Mô hình nghiên cứu này tích hợp khung lý thuyết TOE và UTAUT nhằm giải thích ý định áp dụng công nghệ cao tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trồng và chế biến nấm - một ngành nông nghiệp công nghệ cao đang phát triển mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu (Rath và Mishra, 2023).
Từ bối cảnh tổ chức của Lý thuyết TOE, năng lực tài chính được coi là là nguồn lực nền tảng quyết định khả năng đầu tư vào hệ thống kỹ thuật số hiện đại nhằm tối ưu hóa chiến lược thị trường cho nông sản (Haimid, 2013). Tác động của năng lực tài chính lên ý định áp dụng công nghệ cao không đứng độc lập mà chịu sự chi phối bởi tính đổi mới cá nhân với vai trò biến điều tiết. Những nhà quản lý sở hữu mức độ đổi mới cá nhân cao sẽ chủ động thúc đẩy nguồn lực tài chính, biến nó thành động lực mạnh mẽ hơn để vượt qua các rào cản công nghệ ban đầu (Ahir, 2021; Jadhav và Gaikwad, 2025).
Bổ sung cho khía cạnh nguồn lực, các biến số từ Lý thuyết UTAUT của Venkatesh và cộng sự (2003) tập trung vào động lực tâm lý ở cấp độ cá nhân. Cụ thể, kỳ vọng cá nhân (bao gồm kỳ vọng hiệu quả, kỳ vọng nỗ lực) cùng điều kiện thuận lợi đóng vai trò là các tiền đề cốt lõi. Việc ứng dụng và mở rộng Lý thuyết UTAUT để đánh giá việc chấp nhận các giải pháp kỹ thuật số mới đã được chứng minh là có giá trị dự báo hành vi rất cao (Jena, 2022; Ramadhani và cộng sự, 2023). Trong mô hình khái niệm, cả kỳ vọng cá nhân và Điều kiện thuận lợi đều tạo ra tác động kép: vừa thúc đẩy trực tiếp đến Ý định áp dụng công nghệ cao, vừa tác động gián tiếp thông qua việc định hình Thái độ áp dụng công nghệ cao.
Cuối cùng, Thái độ áp dụng công nghệ cao đóng vai trò là biến trung gian, dẫn truyền toàn bộ nhận thức chủ quan sang hành vi thực tế. Khung tích hợp này giúp kết nối hài hòa giữa năng lực tổ chức khách quan và tâm lý cá nhân chủ quan, cung cấp giải pháp toàn diện cho bài toán chuyển đổi số và nâng cao khả năng mở rộng quy mô kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành nấm (Jadhav và Gaikwad, 2025).
Từ đó, mô hình nghiên cứu (Hình) cùng các giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:
H1: Năng lực tài chính có tác động tích cực đến Ý định áp dụng công nghệ cao.
H2: Tính đổi mới cá nhân điều tiết tích cực mối quan hệ giữa Năng lực tài chính và Ý định áp dụng công nghệ cao.
H3a: Kỳ vọng cá nhân có tác động tích cực đến Ý định áp dụng công nghệ cao.
H3b: Kỳ vọng cá nhân có tác động tích cực đến Thái độ áp dụng công nghệ cao.
H4a: Điều kiện thuận lợi có tác động tích cực đến Ý định áp dụng công nghệ cao.
H4b: Điều kiện thuận lợi có tác động tích cực đến Thái độ áp dụng.
H5: Thái độ có tác động tích cực đến Ý định áp dụng.
Hình: Mô hình nghiên cứ đề xuất
![]() |
Nguồn: Đề xuất của tác giả
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO
Thông qua tổng quan nghiên cứu cũng như các lý thuyết nền tảng: UTAUT và TOE, nghiên cứu đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến Ý định áp dụng công nghệ cao trong lĩnh vực sản xuất nấm tại khu vực miền Nam Việt Nam. Theo đó, mô hình nghiên cứu gồm 4 biến độc lập Năng lực tài chính, Kỳ vọng cá nhân, Điều kiện thuận lợi, Thái độ áp dụng công nghệ cao. Biến điều tiết là Tính đổi mới cá nhân; Biến phụ thuộc là Ý định áp dụng công nghệ cao. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở lý luận về hành vi chấp nhận công nghệ trong nông nghiệp, đồng thời giúp cơ quan quản lý, tổ chức khuyến nông và doanh nghiệp xây dựng các chính sách, chương trình hỗ trợ phù hợp nhằm thúc đẩy phát triển ngành sản xuất nấm theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững.
Tài liệu tham khảo:
1. Ahir, P., Thakor, R. F., & Kapur, L. T. (2021). Factors influencing adoption of mushroom production in Gujarat. Journal of Krishi Vigyan, 10(1), 90-93.
2. Appel, G., Grewal, L., Hadi, R., & Stephen, A. T. (2020). The future of social media in marketing. Journal of the Academy of Marketing science, 48(1), 79-95.
3. Haimid, M. T., Rahim, H., & Dardak, R. A. (2013). Understanding the mushroom industry and its marketing strategies for fresh produce in Malaysia. Economic and Technology Management Review, 8, 27-37.
4. Jadhav, M. G., & Gaikwad, S. (2025). An Empirical Analysis of Digital Adoption Drivers and Scalability Challenges in Mushroom Processing SMEs, Allana Management Journal of Research, 15(01).
5. Jena, R. K. (2022). Examining the factors affecting the adoption of blockchain technology in the banking sector: An extended UTAUT model. International Journal of Financial Studies, 10(4).
6. Ramadhani, N. Z., Putri, S. O. E., Rismawati, S. A., & Priyanto, M. A. (2023). Analisis Niat Perilaku Pengguna Aplikasi Tokopedia Di Surabaya Menggunakan Utaut-2. In Prosiding Seminar Nasional Teknologi dan Sistem Informasi (Vol. 3, No. 1, pp. 374-383).
7. Rath, S. S., & Mishra, S. N. (2023). A study on mushroom production in India and Odisha vis a vis global level. International Journal of Environment and Climate Change, 13(1), 205-213.
8. Tornatzky, L. G., & Fleischer, M. (1990). Technological Innovation as a Process. Lexington Books.
9. Venkatesh, V., Morris, M. G., Davis, G. B., & Davis, F. D. (2003). User acceptance of information technology: Toward a unified view. MIS quarterly, 27(3), 425-478.
| Ngày nhận bài: 8/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/7/2026; Ngày duyệt đăng: 22/7/2026 |
Các tin khác
Ảnh hưởng của đánh giá trực tuyến đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam
Năng lực hạ tầng logistics nông nghiệp tại TP. Huế: Thực trạng và cơ hội trong bối cảnh mới
Chuyển đổi số và việc làm phi chính thức ở Việt Nam giai đoạn 2020-2024
Vai trò của IMF và World Bank đối với các quốc gia đang phát triển: Bài học từ quốc tế và hàm ý cho Việt Nam
Tác động của hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và truyền thông số đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+ 3 giai đoạn 2014-2024
Vai trò trung gian của quản trị đồng tâm trong thúc đẩy hiệu quả chuyển đổi số tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam dưới sự điều tiết của khả năng học tập tổ chức
Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển dịch vụ logistics tại TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Công bố thông tin quản trị doanh nghiệp, giá trị và hiệu quả hoạt động: Bằng chứng từ các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam
Nâng cao động lực làm việc cho người lao động tại Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Phúc Hảo, TP. Hồ Chí Minh
