Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia thương mại điện tử của hộ kinh doanh tại Thái Nguyên: Tiếp cận mô hình hồi quy logistic

Nghiên cứu - Trao đổi 14:13 | 18/07/2026
Thương mại điện tử đang trở thành kênh phân phối quan trọng tại Việt Nam. Khu vực hộ kinh doanh dù chiếm tỷ trọng lớn nhưng mức độ tham gia thương mại điện tử còn hạn chế, chủ yếu do rào cản về kỹ năng, chi phí và khả năng tiếp cận công nghệ.

ThS. Dương Thu Phương

Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật, Đại học Thái Nguyên

Email: duongthuphuong@tntec.edu.vn

TS. Trần Lê Duy

Trường Đại học Công nghệ thông tin và truyền thông Thái Nguyên, Đại học Thái Nguyên

Email: tlduy@ictu.edu.vn

Tóm tắt

Thông qua dữ liệu được thu thập từ 300 hộ kinh doanh tại tỉnh Thái Nguyên trong khuôn khổ Chương trình thí điểm hỗ trợ chuyển đổi số, nghiên cứu này phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến Khả năng tham gia thương mại điện tử của hộ kinh doanh trong bối cảnh kinh tế số tại Việt Nam. Mô hình hồi quy logistic được sử dụng để đánh giá tác động của các yếu tố đến Khả năng tham gia thương mại điện tử của hộ kinh doanh. Kết quả cho thấy, 5 nhân tố có tác động đến Khả năng tham gia thương mại điện tử của hộ kinh doanh gồm: Nhận thức công nghệ, Chi phí, Kỹ năng số, Hỗ trợ nền tảng và Áp lực cạnh tranh. Trong đó, Kỹ năng số, Hỗ trợ nền tảng, Nhận thức công nghệ, Áp lực cạnh tranh có tác động tích cực; còn Chi phí có tác động tiêu cực. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý nhằm thúc đẩy sự tham gia thương mại điện tử của hộ kinh doanh.

Từ khóa: Kinh tế số, thương mại điện tử, hộ kinh doanh, hồi quy logistic, chuyển đổi số

Abstract

Using data collected from 300 household businesses in Thai Nguyen Province under the Digital Transformation Support Pilot Program, the study examines the factors influencing the e-commerce adoption among household businesses in the context of Viet Nam's digital economy. A logistic regression model was employed to assess the effects of these factors on the e-commerce adoption. The results indicate that five factors significantly influence e-commerce adoption among household businesses, namely technology awareness, cost, digital skills, platform support, and competitive pressure. Among these, technology awareness, digital skills, platform support, and competitive pressure have positive effects, while cost has a negative effect. Based on these findings, the study proposes several policy implications to promote e-commerce adoption among household businesses.

Keywords: Digital economy, e-commerce, household business, logistic regression, digital transformation

GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh, thương mại điện tử (TMĐT) đang trở thành kênh phân phối quan trọng tại Việt Nam. Tuy nhiên, khu vực hộ kinh doanh dù chiếm tỷ trọng lớn nhưng mức độ tham gia TMĐT còn hạn chế, chủ yếu do rào cản về kỹ năng, chi phí và khả năng tiếp cận công nghệ.

Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào doanh nghiệp hoặc người tiêu dùng, trong khi hành vi tham gia TMĐT của hộ kinh doanh, đặc biệt dưới góc độ quyết định nhị phân (tham gia/không tham gia), chưa được phân tích đầy đủ. Điều này đặt ra nhu cầu nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia của nhóm đối tượng này bằng các mô hình nghiên cứu phù hợp. Do đó, nghiên cứu này sử dụng mô hình hồi quy logistic để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia TMĐT của 300 hộ kinh doanh tại tỉnh Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu nhằm cung cấp cơ sở thực nghiệm cho việc đề xuất các giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong khu vực hộ kinh doanh.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Việc tham gia TMĐT của các chủ thể kinh doanh có thể được giải thích thông qua một số khung lý thuyết phổ biến trong lĩnh vực chấp nhận và ứng dụng công nghệ. Trong đó, Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) cho rằng, nhận thức về tính hữu ích và mức độ dễ sử dụng của công nghệ có ảnh hưởng đáng kể đến ý định và hành vi sử dụng (Davis, 1989). Bên cạnh đó, Lý thuyết Công nghệ - Tổ chức - Môi trường (TOE) nhấn mạnh vai trò của các yếu tố thuộc 3 nhóm: công nghệ, năng lực tổ chức và môi trường bên ngoài trong việc thúc đẩy hoặc cản trở quá trình áp dụng công nghệ (Tornatzky và Fleischer, 1990). Trong bối cảnh hộ kinh doanh tại Việt Nam, quyết định tham gia TMĐT không chỉ phụ thuộc vào nhận thức và năng lực nội tại, mà còn chịu tác động bởi các yếu tố bên ngoài như chi phí, mức độ hỗ trợ từ các nền tảng và áp lực cạnh tranh. Do đó, việc kết hợp các yếu tố từ TAM và TOE là phù hợp để xây dựng mô hình nghiên cứu phản ánh đầy đủ đặc điểm của đối tượng nghiên cứu.

Tổng quan nghiên cứu

Các nghiên cứu về chấp nhận và ứng dụng công nghệ cho thấy quyết định tham gia TMĐT chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhóm yếu tố khác nhau. Davis (1989) cho rằng nhận thức về tính hữu ích và mức độ dễ sử dụng là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi chấp nhận công nghệ. Trên cơ sở đó, các nghiên cứu mở rộng như Venkatesh và cộng sự (2003) tiếp tục nhấn mạnh vai trò của kỳ vọng hiệu quả, điều kiện hỗ trợ và ảnh hưởng xã hội trong việc thúc đẩy hành vi sử dụng công nghệ.

Ở cấp độ tổ chức, Lý thuyết TOE của Tornatzky và Fleischer (1990) được sử dụng rộng rãi để giải thích việc áp dụng công nghệ thông qua 3 nhóm yếu tố: công nghệ, tổ chức và môi trường. Oliveira và Martins (2011) cho rằng, TOE là một trong những khung phù hợp để phân tích việc ứng dụng công nghệ thông tin ở cấp doanh nghiệp. Tương tự, Zhu và cộng sự (2006) chỉ ra rằng, quá trình tiếp nhận đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp chịu ảnh hưởng đồng thời bởi năng lực nội tại, bối cảnh môi trường và đặc điểm công nghệ.

Trong lĩnh vực TMĐT, Scupola (2009) cho thấy, việc ứng dụng TMĐT của doanh nghiệp nhỏ và vừa phụ thuộc vào các yếu tố như nhận thức về lợi ích, năng lực công nghệ, chi phí triển khai, áp lực cạnh tranh và sự hỗ trợ từ bên ngoài. Tại Việt Nam, Nguyễn Đình Hoàn (2019) nhận định, TMĐT có nhiều tiềm năng phát triển nhưng vẫn gặp các rào cản về nhận thức, hạ tầng, chi phí và năng lực triển khai. Báo cáo Chỉ số TMĐT Việt Nam (VECOM, 2025) cũng nhấn mạnh sự phát triển nhanh của TMĐT, đồng thời chỉ ra sự khác biệt lớn giữa các địa phương trong mức độ phát triển.

Giả thuyết và mô hình nghiên cứu

Dựa trên cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước, nghiên cứu này đề xuất mô hình nghiên cứu như Hình cùng các giả thuyết nghiên cứu sau:

H1: Nhận thức công nghệ có tác động tích cực đến Khả năng tham gia TMĐT.

H2: Chi phí có tác động tiêu cực đến Khả năng tham gia TMĐT.

H3: Kỹ năng số có tác động tích cực đến Khả năng tham gia TMĐT.

H4: Hỗ trợ nền tảng có tác động tích cực đến Khả năng tham gia TMĐT.

H5: Áp lực cạnh tranh có tác động tích cực đến Khả năng tham gia TMĐT.

Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia thương mại điện tử của hộ kinh doanh tại Thái Nguyên: Tiếp cận mô hình hồi quy logistic

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu được thu thập từ 300 hộ kinh doanh tại tỉnh Thái Nguyên trong khuôn khổ Chương trình thí điểm hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi số. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện kết hợp với tiếp cận trực tiếp được sử dụng nhằm đảm bảo tính khả thi trong quá trình khảo sát. Đối tượng khảo sát bao gồm các hộ kinh doanh đang hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả các hộ đã tham gia và chưa tham gia TMĐT, nhằm đảm bảo tính đa dạng và khả năng so sánh trong phân tích (Nghiên cứu sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế).

Phương pháp nghiên cứu

Do biến phụ thuộc là biến nhị phân (có tham gia hoặc không tham gia), nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy logistic để ước lượng xác suất tham gia TMĐT của hộ kinh doanh:

Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia thương mại điện tử của hộ kinh doanh tại Thái Nguyên: Tiếp cận mô hình hồi quy logistic

Trong đó: P(Y=1) là xác suất hộ kinh doanh tham gia TMĐT; βi là các hệ số ước lượng phản ánh mức độ và chiều hướng tác động của các biến độc lập. Mô hình logistic cho phép đánh giá tác động của các yếu tố đến xác suất xảy ra của một sự kiện, phù hợp với bản chất của quyết định tham gia TMĐT trong nghiên cứu này.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thống kê mô tả

Trong tổng số 300 hộ kinh doanh được khảo sát, có khoảng 46.7% hộ đã tham gia TMĐT, trong khi 53.3% chưa tham gia. Điều này cho thấy mức độ tham gia TMĐT của hộ kinh doanh tại địa bàn nghiên cứu vẫn còn tương đối hạn chế.

Về đặc điểm mẫu, phần lớn hộ kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ và dịch vụ. Trình độ công nghệ và kỹ năng số giữa các hộ có sự khác biệt đáng kể, phản ánh mức độ không đồng đều trong quá trình chuyển đổi số.

Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha cho thấy, các thang đo đều đạt độ tin cậy tốt, với hệ số Alpha dao động từ 0.72 đến 0.85, vượt ngưỡng chấp nhận (0.7). Các biến quan sát đều có hệ số tương quan biến - tổng > 0.3, do đó được giữ lại cho các phân tích tiếp theo.

Bảng 1: Kết quả hồi quy logistic

Biến

Ký hiệu

β

Sig.

Odds Ratio

Mức độ hiểu biết và nhận thức về TMĐT

TECH

0.65

0.012

1.91

Cảm nhận về chi phí đầu tư và vận hành

COST

-0.82

0.003

0.44

khả năng sử dụng công nghệ trong kinh doanh

SKILL

1.05

0.000

2.86

Mức độ hỗ trợ từ các sàn và tổ chức

SUPPORT

0.88

0.001

2.41

Mức độ cạnh tranh trong ngành

COMP

0.47

0.045

1.60

Nguồn: Phân tích từ dữ liệu nghiên cứu

Kết quả hồi quy logistic ở Bảng 1 cho thấy, tất cả các biến trong mô hình đều có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, qua đó xác nhận các giả thuyết nghiên cứu đã đề xuất. Kỹ năng số (SKILL) có tác động mạnh nhất đến Khả năng tham gia TMĐT (β = 1.05). Giá trị Odds Ratio = 2.86 cho thấy khi kỹ năng số tăng lên một đơn vị, khả năng tham gia TMĐT tăng khoảng 2.86 lần, giữ các yếu tố khác không đổi.

Hỗ trợ nền tảng (SUPPORT) cũng có tác động tích cực đáng kể (β = 0.88), cho thấy vai trò quan trọng của các sàn TMĐT và các chương trình hỗ trợ trong việc thúc đẩy hộ kinh doanh tham gia môi trường số. Nhận thức công nghệ (TECH) có ảnh hưởng tích cực (β = 0.65), phản ánh rằng việc hiểu biết về TMĐT giúp gia tăng khả năng tham gia. Áp lực cạnh tranh (COMP) có tác động tích cực, nhưng ở mức độ thấp hơn (β = 0.47), cho thấy cạnh tranh thị trường là một động lực nhưng không phải yếu tố quyết định chính. Ngược lại, Chi phí (COST) có tác động tiêu cực (β = -0.82), với Odds Ratio = 0.44, cho thấy chi phí là một rào cản đáng kể đối với việc tham gia TMĐT.

Bảng 2: Đánh giá mô hình

Chỉ tiêu

Giá trị

-2 Log Likelihood

312.5

Nagelkerke R²

0.41

Ý nghĩa mô hình

Nguồn: Phân tích từ dữ liệu nghiên cứu

Mô hình hồi quy logistic ở Bảng 2 có giá trị -2 Log Likelihood = 312.5 và Nagelkerke R² = 0.41, cho thấy mô hình có khả năng giải thích tương đối tốt sự biến thiên của biến phụ thuộc. Các kiểm định cho thấy, mô hình có ý nghĩa thống kê tổng thể và phù hợp để sử dụng trong phân tích hành vi tham gia TMĐT của hộ kinh doanh.

Thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy, cả 5 nhân tố đều có tác động đến Khả năng tham gia TMĐT của hộ kinh doanh gồm: Nhận thức công nghệ, Chi phí, Kỹ năng số, Hỗ trợ nền tảng và Áp lực cạnh tranh. Trong đó, Đào tạo kỹ năng số, Hỗ trợ nền tảng, Nhận thức công nghệ, Áp lực cạnh tranh có tác động tích cực. Kỹ năng số (SKILL) và Hỗ trợ nền tảng (SUPPORT) là 2 yếu tố có tác động tích cực nhất thúc đẩy hộ kinh doanh tham gia TMĐT. Điều này phản ánh rằng, Năng lực vận hành và sự hỗ trợ thực tế đóng vai trò quyết định trong quá trình chuyển đổi số. Ngược lại, Chi phí (COST) là rào cản chính đến Khả năng tham gia TMĐT của hộ kinh doanh (Bảng 3).

Bảng 3: Tóm tắt kết quả

Yếu tố

Tác động

Hàm ý chính

SKILL

Mạnh (+)

Đào tạo kỹ năng số

SUPPORT

Mạnh (+)

Tăng hỗ trợ từ nền tảng

COST

Mạnh (-)

Giảm chi phí tham gia

TECH

Trung bình (+)

Nâng cao nhận thức

COMP

Thấp (+)

Tạo môi trường cạnh tranh

Nguồn: Nghiên cứu của nhóm tác giả

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

Kết luận

Kết quả cho thấy, 5 nhân tố có tác động đến Khả năng tham gia thương mại điện tử của hộ kinh doanh gồm: Nhận thức công nghệ, Chi phí, Kỹ năng số, Hỗ trợ nền tảng và Áp lực cạnh tranh. Trong đó, Kỹ năng số, Hỗ trợ nền tảng, Nhận thức công nghệ, Áp lực cạnh tranh có tác động tích cực; còn Chi phí có tác động tiêu cực.

Hàm ý quản trị

Một là, chú trọng đào tạo kỹ năng số. Theo đó, cần tập trung đào tạo thực hành (vận hành gian hàng, marketing số), phù hợp với hộ kinh doanh.

Hai là, giảm chi phí gia nhập. Theo đó, cần chú trọng hỗ trợ phí nền tảng, quảng cáo và logistics cho hộ kinh doanh mới tham gia.

Ba là, tăng hỗ trợ từ nền tảng. Theo đó, đẩy mạnh hướng dẫn, tư vấn và đồng hành vận hành cho người bán mới.

Bốn là, phát triển hệ sinh thái địa phương. Theo đó, cần kết nối chính quyền - nền tảng - cơ sở đào tạo để hỗ trợ chuyển đổi số.

Tài liệu tham khảo:

1. Davis, F. D. (1989). Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information technology. MIS Quarterly, 13(3), 319-340. DOI: 10.2307/249008

2. Hiệp hội TMĐT Việt Nam (VECOM) (2025). Báo cáo Chỉ số TMĐT Việt Nam 2025.

3. Nguyễn Đình Hoàn (2019). TMĐT ở Việt Nam - thực trạng và khuyến nghị chính sách. Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán, 1(186), 44-46.

4. Oliveira, T., & Martins, M. F. (2011). Literature review of information technology adoption models at firm level. The Electronic Journal Information Systems Evaluation, 14(1), 110-121.

5. Scupola, A. (2009). SMEs’ e-commerce adoption: Perspectives from Denmark and Australia. Journal of Enterprise Information Management, 22(1/2), 152-166. DOI: 10.1108/17410390910932803

6. Tornatzky, L. G., & Fleischer, M. (1990). The processes of technological innovation. Lexington Books.

7. Venkatesh, V., Morris, M. G., Davis, G. B., & Davis, F. D. (2003). User acceptance of information technology: Toward a unified view. MIS Quarterly, 27(3), 425-478. DOI: 10.2307/30036540

8. Zhu, K., Kraemer, K. L., & Xu, S. (2006). The process of innovation assimilation by firms in different countries: A technology diffusion perspective on e-business. Management Science, 52(10), 1557-1576. DOI: 10.1287/mnsc.1050.0487.

Ngày nhận bài: 15/5/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 3/7/2026; Ngày duyệt đăng: 17/7/2026

Các tin khác

Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Sử dụng dữ liệu sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Cục Thống kê công bố, bài viết phân tích sự chuyển dịch về quy mô, cơ cấu sở hữu, ngành và vùng của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025, đối chiếu với hợp tác xã và cơ sở kinh doanh cá thể. Từ kết quả đạt được, bài viết đề xuất thúc đẩy chuyển đổi hộ kinh doanh, tăng liên kết với khu vực FDI, tái cân bằng không gian phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết nhằm đánh giá tác động của tín dụng thương mại đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thông qua vai trò điều tiết của nợ vay, từ kết quả nghiên cứu, đề xuất các hàm ý quản trị giúp các nhà quản lý phối hợp linh hoạt các công cụ điều tiết.
Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Các nghiên cứu xem xét đồng thời vai trò trung gian của sự gắn kết trong mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc và hiệu suất làm việc, đặc biệt trong bối cảnh ngân hàng thương mại tại Việt Nam, vẫn còn hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích vai trò của sự gắn kết, đánh giá mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên trong các ngân hàng thương mại có ý nghĩa thiết thực.
Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Khởi nghiệp là quá trình cá nhân nhận diện, đánh giá và khai thác cơ hội để tạo ra giá trị mới thông qua việc hình thành hoặc phát triển hoạt động kinh doanh (Shane và Venkataraman, 2000). Quyết định khởi nghiệp là điểm chuyển từ mong muốn sang lựa chọn có tính thực thi, thể hiện ở sự sẵn sàng cam kết nguồn lực, chấp nhận chi phí cơ hội và tổ chức hành động. Vì vậy, nghiên cứu quyết định khởi nghiệp giúp lý giải trực tiếp hơn bước chuyển sang hành vi, thay vì chỉ dừng ở ý định.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và lấy người dân làm trung tâm phục vụ, việc nâng cao hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với các cơ quan hành chính nhà nước.
Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của thương mại xã hội đã thúc đẩy sự ra đời và mở rộng của nhiều nền tảng mua sắm trực tuyến tích hợp yếu tố giải trí, trong đó TikTok Shop nổi bật với mô hình mua sắm kết hợp giải trí.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng tái tạo, không cạn kiệt. Nguồn điện từ điện mặt trời mái nhà giúp tiết kiệm chi phí tiền điện do không sử dụng điện lưới, hoặc giảm chi phí tiền điện theo giá điện sinh hoạt bậc thang; chi phí vận hành và bảo trì thấp; suất đầu tư đối với điện mặt trời giảm bình quân trên 10%/năm trong những năm gần đây; làm giảm lượng khí thải carbon gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu.
Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain

Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain

Trong bối cảnh kinh tế số và chuyển đổi số giáo dục đại học, học liệu số không chỉ là phương tiện hỗ trợ đào tạo mà còn là một dạng tài sản tri thức có khả năng tham gia thị trường thông qua cơ chế cấp phép, truy cập, đo lường sử dụng và phân phối lợi ích. Tuy nhiên, thị trường học liệu số tại Việt Nam hiện còn phân mảnh, chịu rào cản lớn về chi phí giao dịch, bất cân xứng thông tin, thiếu định danh liên thông, thiếu cơ chế kiểm soát bản quyền và thiếu hệ thống đối soát minh bạch giữa các chủ thể.
Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo mạng xã hội có thể thúc đẩy quyết định mua hàng nhờ giá trị thông tin, tính hấp dẫn, tương tác và độ tin cậy, nhưng cũng tạo nguy cơ gây nhầm lẫn, che giấu mục đích thương mại, thao túng bằng chứng xã hội và sử dụng dữ liệu thiếu minh bạch.
Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Việc phát triển lực lượng sản xuất mới trong kỷ nguyên kinh tế số không đơn thuần là một cuộc cải cách kỹ thuật, mà là một cuộc chạy đua chiến lược đòi hỏi thay đổi toàn diện từ hạ tầng, con người đến thể chế. Qua lăng kính của Nhật Bản, có thể thấy rằng quốc gia này đã lựa chọn một lối đi riêng biệt mang tính nhân văn sâu sắc: "Số hóa vì con người"