Các nhân tố ảnh hưởng tới việc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động tự do tại TP. Thanh Hóa(*)

Nghiên cứu - Trao đổi 17:03 | 03/01/2026
Thông qua kết quả khảo sát đối với 400 người lao động tự do đã tham gia và chưa tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn TP. Thanh Hóa, nghiên cứu nhằm kiểm định các nhân tố ảnh hưởng tới việc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động tự do tại địa phương này.

TS. Phạm Thị Thanh Giang

Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Hồng Đức

Email: [email protected]

Tóm tắt

Thông qua kết quả khảo sát đối với 400 người lao động tự do đã tham gia và chưa tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn TP. Thanh Hóa, nghiên cứu nhằm kiểm định các nhân tố ảnh hưởng tới việc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động tự do tại địa phương này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 8 nhân tố ảnh hưởng đến Việc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của những người lao động tự do trên địa bàn, gồm: Thái độ đối với việc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, Hiểu biết về bảo hiểm xã hội tự nguyện, Chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện, Trách nhiệm đạo lý, Công tác tuyên truyền, Kiểm soát hành vi, Chuẩn chủ quan và Cảm nhận rủi ro.

Từ khóa: Bảo hiểm xã hội tự nguyện, người lao động, ý định tham gia

Summary

Based on a survey of 400 self-employed workers who have and have not participated in voluntary social insurance in Thanh Hoa City, the study aims to examine the factors influencing participation in voluntary social insurance among self-employed workers in the city. The results indicate that eight factors significantly affect participation in voluntary social insurance, including attitudes toward participation in voluntary social insurance, knowledge of voluntary social insurance, voluntary social insurance policies, moral responsibility, communication and dissemination activities, behavioral control, subjective norms, and perceived risk.

Keywords: Voluntary social insurance, self-employed workers, participation intention

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm qua, chính sách an sinh xã hội (ASXH) luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, lãnh đạo và chỉ đạo để đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội. Hiện nay, ngoài bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc và chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện thì BHXH tự nguyện là một chính sách quan trọng, nhằm đảm bảo chế độ hưu trí cho người lao động tự do khi về già, góp phần xoá đói giảm nghèo và nâng cao ý thức tiết kiệm cộng đồng, giúp giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước chi cho bảo trợ xã hội, hiện thực hóa mục tiêu bao phủ ASXH toàn dân.

BHXH tự nguyện được triển khai từ năm 2008. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện tại Thanh Hóa nói chung, tại TP. Thanh Hóa nói riêng chưa đạt so với kế hoạch. Trong giai đoạn 2020-2024, riêng năm 2020, tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện tại tỉnh Thanh Hóa đạt 101.12%; những năm còn lại đều chỉ đạt tỷ lệ tham gia thấp (từ 77.46% đến 88.14%). Mặc dù số người tham gia BHXH tự nguyện đã tăng lên từng năm nhưng đến nay mới chỉ đạt 90,930 người, thấp hơn nhiều so với số người tham gia BHXH bắt buộc (447,828 người) và chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với lực lượng lao động (trên 2.2 triệu người). Vì vậy, việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện tại TP. Thanh Hóa - nơi có nhiều lao động tự do - là cần thiết, để có thể thúc đẩy gia tăng người lao động tham gia.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Theo Holzmann và cộng sự (2000), việc tham gia các chương trình BHXH của các hộ gia đình tại 2 quốc gia Mỹ Latinh là Chile và Argentina bị ảnh hưởng bởi các đặc điểm kinh tế xã hội, chi phí, chính sách BHXH, độ tin cậy. Tại các nước đang phát triển ở Châu Mỹ Latin, Auerbach và cộng sự (2005) cho rằng, các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHXH tự nguyện của những NLĐ tự do gồm nhu cầu, khả năng tiếp cận, chính sách BHXH, trình độ hiểu biết và thu nhập. Ở Trung Quốc, mức thu nhập là nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHXH (Giles và cộng sự, 2013). Tại thị trường lao động Ai Cập, các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận và tham gia BHXH bao gồm: giới tính, tuổi, trình độ hôn nhân, trình độ học vấn, vị trí/khu vực việc làm (Roushdy và Selwaness, 2012). Tại Ghana, quyết định tham gia chương trình hưu trí của những người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức ở thành thị (gồm nhóm nghề: thợ làm đẹp, tài xế, nông dân trồng rau, thợ mộc) bị ảnh hưởng bởi độ tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, quy mô hộ gia đình, tình trạng sức khoẻ, thu nhập, thuế/phí (Collins-Sowah và cộng sự, 2013).

Tại Việt Nam, theo Trương Thị Phượng và Nguyễn Thị Hiển (2013), ý định tham gia BHXH tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức tại tỉnh Phú Yên (cũ) chịu ảnh hưởng bởi 6 nhân tố gồm: Nhận thức tính ASXH của BHXH tự nguyện; Thái độ; Ảnh hưởng xã hội; Hiểu biết về BHXH tự nguyện; Thu nhập; Truyền thông.

Trên cơ sở khảo sát 284 người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Nghệ An, Nguyễn Xuân Cường và cộng sự (2014) chỉ ra, có 7 nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của người lao động gồm: Tuyên truyền về bảo hiểm xã hội tự nguyện, Ý thức sức khỏe, Kiến thức về bảo hiểm xã hội tự nguyện, Thái độ, Kỳ vọng gia đình, Trách nhiệm đạo lý và Kiểm soát hành vi.

Dựa trên kết quả khảo sát đối với 325 nông dân, Hoàng Thu Thuỷ và Bùi Hoàng Minh Thư (2018) cho thấy, có 5 nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện gồm: Hiểu biết về chính sách BHXH tự nguyện; Thái độ đối với việc tham gia; Cảm nhận rủi ro; Thủ tục tham gia BHXH tự nguyện; Trách nhiệm đạo lý.

Theo Bùi Huy Nam (2019), có 5 nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHXH tự nguyện của người lao động gồm: Tư vấn chăm sóc khách hàng; Kinh nghiệm; Thu nhập; Hỗ trợ đóng của Nhà nước và Thái độ của người lao động đối với BHXH tự nguyện.

Theo Phan Quan Việt và cộng sự (2021), quyết định tham gia BHXH tự nguyện tại huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận (cũ) chịu ảnh hưởng bởi 5 nhân tố gồm: Sự quan tâm khi tham gia BHXH tự nguyện; Mong muốn, kỳ vọng khi tham gia BHXH tự nguyện; Sự tin cậy, an tâm khi tham gia BHXH tự nguyện; Sự đảm bảo có một khoản thu nhập khi tham gia BHXH tự nguyện; Chế độ tuyên truyền về BHXH tự nguyện.

Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

Sau khi tổng quan nghiên cứu và thông qua khảo sát định tính với phỏng vấn sâu và với các câu hỏi mở; đồng thời dựa theo kết quả trả lời của từng phỏng vấn, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như Hình.

Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Các nhân tố ảnh hưởng tới việc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động tự do tại TP. Thanh Hóa(*)

Nguồn: Tác giả đề xuất

Các giả thuyết nghiên cứu được trình bày như sau:

H1: Thái độ có ảnh hưởng tích cực với Việc tham gia BHXH tự nguyện.

H2: Sự hiểu biết về BHXH tự nguyện có ảnh hưởng tích cực với Việc tham gia BHXH tự nguyện.

H3: Chính sách BHXH tự nguyện có ảnh hưởng tích cực với Việc tham gia BHXH tự nguyện.

H4: Trách nhiệm đạo lý có ảnh hưởng tích cực với Việc tham gia BHXH tự nguyện.

H5: Công tác tuyên truyền về BHXH tự nguyện có ảnh hưởng tích cực với Việc tham gia BHXH tự nguyện.

H6: Kiểm soát hành vi có ảnh hưởng tích cực với Việc tham gia BHXH tự nguyện.

H7: Chuẩn chủ quan có ảnh hưởng tích cực với Việc tham gia BHXH tự nguyện.

H8: Cảm nhận rủi ro có ảnh hưởng tích cực với Việc tham gia BHXH tự nguyện.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Sau khi thiết kế bảng hỏi ban đầu, tác giả thực hiện một cuộc nghiên cứu thử nghiệm bằng cách trực tiếp khảo sát ngẫu nhiên với mẫu điều tra là 100 người lao động tự do (đã tham gia và chưa tham gia BHXH tự nguyện) nhằm đánh giá mức độ hoàn chỉnh về nội dung và hình thức của các phát biểu (các câu hỏi) trong thang đo nháp và khả năng cung cấp thông tin của người được phỏng vấn. Trên cơ sở đó, thang đo nháp được hiệu chỉnh thành thang đo sử dụng trong nghiên cứu định lượng chính thức. Sau đó, nghiên cứu được tiến hành với 400 bảng hỏi với người lao động tự do. Thời gian khảo sát được thực hiện từ tháng 4-6/2025 (Nghiên cứu sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế).

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kiểm định độ tin cậy thang đo

Bảng 1: Kết quả kiểm định độ tin cậy

Thang đo

Biến quan sát

Cronbach’s Alpha

Thái độ đối với việc tham gia BHXH tự nguyện

THADO1-THADO4

0.905

Hiểu biết về BHXH tự nguyện

HBIET1-HBIET6

0.901

Chính sách BHXH tự nguyện

CSACH1-CSACH7

0.907

Trách nhiệm đạo lý

TNDL1-TNDL4

0.897

Công tác tuyên truyền

TTRUYEN1-TTRUYEN5

0.879

Kiểm soát hành vi

KSHV1-KSHV3

0.895

Chuẩn chủ quan

CCQ1-CCQ7

0.893

Cảm nhận rủi ro

RRO1-RRO4

0.904

Ý định tham gia BHXH tự nguyện

YDINH1-YDINH4

0.894

Nguồn: Tính toán của tác giả

Bảng 1 cho thấy, các thang đo trên đều có hệ số Cronbach’s Alpha khá cao (> 0.7). Tất cả các biến quan sát của thang đo đều có hệ số tương quan biến tổng > 0.3, do đó đều được sử dụng cho phân tích nhân tố khám phá (EFA) tiếp theo.

Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Qua kết quả phân tích ở Bảng 2 cho thấy, KMO đạt 0.879 > 0.5 cho thấy việc áp dụng phân tích EFA là hoàn toàn phù hợp. Với Sig. = 0.000 < 0.05 chứng tỏ các biến độc lập không có tương quan với nhau trong tổng thể.

Kết quả phân tích EFA cho thấy phù hợp. Sau khi phân tích khám phá EFA, mô hình không có sự khác biệt với mô hình nghiên cứu, chỉ có một số biến quan sát không đảm bảo đủ tin cậy nên loại ra khỏi biến nghiên cứu. Không có nhóm nhân tố mới được tạo ra.

Bảng 2: Kiểm định KMO và kiểm định Bartlett

Hệ số KMO

.879

Kiểm định Bartlett

Chi bình phương xấp xỉ

10875.349

Df

946

Sig.

.000

Nguồn: Tính toán của tác giả

Ngoài ra, kết quả cho thấy các giá trị Eigenvalue > 1 và kiểm định phương sai cộng dồn = 71.053% > 50%, giá trị phương sai cộng dồn đạt yêu cầu.

Đánh giá giá trị hội tụ và độ tin cậy của thang đo

Bảng 3: Kết quả phân tích độ tin cậy và độ giá trị hội tụ của thang đo

Biến số

Hệ số tải nhân tố

(factor loadings)

Cronbach’s Alpha

Độ tin cậy tổng hợp (CR)

Phương sai trích (AVE)

CCQ

0.746 - 0.827

0.893

0.916

0.609

CSACH

0.770 - 0.827

0.907

0.926

0.641

HBIET

0.757 - 0.846

0.902

0.924

0.669

KSHV

0.892 - 0.923

0.896

0.935

0.827

RRO

0.852 - 0.910

0.905

0.933

0.778

THAIDO

0.873 - 0.889

0.905

0.933

0.778

TNDL

0.813 - 0.896

0.880

0.916

0.733

TTRUYEN

0.810 - 0.889

0.895

0.923

0.705

YDINH

0.860 - 0.879

0.894

0.926

0.758

Nguồn: Tính toán của tác giả

Kết quả ở Bảng 3 cho thấy, giá trị Cronbach’s Alpha, giá trị CR và hầu hết các hệ số tải đều > 0.7, giá trị AVE của các khái niệm đều > 0.5. Điều này cho thấy, các thang đo lường là đáng tin cậy và đáp ứng yêu cầu về tính hội tụ.

Đánh giá mô hình cấu trúc

Bảng 4: Kết quả ước lượng mô hình cấu trúc

Đường dẫn

Giả thuyết

Mô hình nghiên cứu

VIF

Kết luận

Thứ tự

Std, β

T-value

f2

THADO-> YDINH

H1

0.178

4.837

0.073

1.096

Ủng hộ

5

HBIET-> YDINH

H2

0.149

4.412

0.050

1.104

Ủng hộ

6

CSACH-> YDINH

H3

0.227

5.415

0.101

1.281

Ủng hộ

2

TNDL-> YDINH

H4

0.210

6.345

0.105

1.049

Ủng hộ

3

TTRUYEN-> YDINH

H5

0.297

8.412

0.170

1.303

Ủng hộ

1

KSHV-> YDINH

H6

0.130

3.752

0.034

1.246

Ủng hộ

7

CCQ -> YDINH

H7

0.184

4.398

0.072

1.174

Ủng hộ

4

RRO-> YDINH

H8

0.118

2.925

0.028

1.249

Ủng hộ

8

Nguồn: Tính toán của tác giả

Kết quả kiểm định ở Bảng 4 cho thấy, toàn bộ 8 giả thuyết (H1-H8) đều được ủng hộ, với các giá trị T-value đều > 1.96, chứng tỏ các mối quan hệ trong mô hình có ý nghĩa thống kê. Hệ số hồi quy chuẩn hóa (Std. β) dao động từ 0.118 đến 0.297, phản ánh mức độ tác động khác nhau của các biến độc lập đến biến phụ thuộc.

Đánh giá sức mạnh dự báo

Bảng 5: Kết quả sức mạnh dự báo

Biến số

Chỉ báo

PLS-RMSE

LM-RMSE

R2

Q2_predict

YDINH

YDINH4

0.845

0.902

0,602

0.459

YDINH3

0.842

0.904

0.443

YDINH2

0.892

0.927

0.388

YDINH1

0.850

0.875

0.453

Nguồn: Tính toán của tác giả

Kết quả ở Bảng 5 cho thấy, đối với biến phụ thuộc Ý định (YDINH), giá trị R² = 0.602, nghĩa là các biến độc lập trong mô hình giải thích được 60.2% sự biến thiên của ý định. Giá trị PLS-RMSE của các chỉ báo (YDINH1 - YDINH4) đều nhỏ hơn LM-RMSE, chứng tỏ mô hình PLS có hiệu năng dự báo tốt hơn mô hình tuyến tính thông thường. Điều này cho thấy, việc sử dụng PLS-SEM là phù hợp với mục tiêu nghiên cứu dự báo hành vi, đặc biệt trong các mô hình có nhiều biến tiềm ẩn và quan hệ phức tạp.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Kết luận

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra có 8 nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của những người lao động tự do tại TP. Thanh Hóa, gồm: Thái độ đối với việc tham gia BHXH tự nguyện, Hiểu biết về BHXH tự nguyện, Chính sách BHXH tự nguyện, Trách nhiệm đạo lý, Công tác tuyên truyền, Kiểm soát hành vi, Chuẩn chủ quan và Cảm nhận rủi ro.

Một số khuyến nghị

Trên có sở kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số khuyến nghị nhằm gia tăng sự tham gia vào chương trình BHXH tự nguyện của người lao động tự do như sau:

Một là, đẩy mạnh công tác thông tin và tuyên truyền về BHXH tự nguyện. Nhiều người lao động tự do không biết hoặc chưa biết đến chương trình BHXH tự nguyện như: cách thức tham gia, quy trình hay các thủ tục, trách nhiệm và quyền lợi khi tham gia vào BHXH tự nguyện. Việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chính sách BHXH tự nguyện và những thủ tục liên quan giúp người lao động hiểu rõ hơn và thuận lợi hơn khi tiếp cận với chương trình BHXH tự nguyện. Bên cạnh đó, thường xuyên thực hiện các hình thức/hoạt động tuyên truyền sẽ giúp người lao động nâng cao nhận thức về BHXH tự nguyện, có thái độ tích cực hơn đối với chương trình BHXH tự nguyện khi thấy được các lợi ích của việc tham gia vào BHXH tự nguyện. Các hình thức tuyên truyền có thể được thực hiện qua các kênh thông tin có đăng ký riêng thời lượng trên truyền hình của Tỉnh; qua loa di động hoặc thông báo trên loa tại các khu vực dân cư, trên zalo, facebook,…; qua cán bộ BHXH các cấp xuống tuyên truyền trực tiếp tới người dân tại các thôn, xóm, phường, xã; người đứng đầu các cuộc họp (như hội trưởng hội phụ nữ, tổ trưởng tổ dân phố,…) có thể đan xen tuyên truyền về BHXH tự nguyện khi họp. Các hình thức tuyên truyền cần tăng cường tần suất để thu hút sự quan tâm, chú ý của người lao động. Khi tuyên truyền cần có định hướng tập trung vào trọng điểm các vấn đề cốt lõi phù hợp với đặc điểm của người lao động tự do.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện chính sách BHXH tự nguyện để tăng tính hấp dẫn đối với người lao động. Những người lao động tự do là những người lao động có việc làm và thu nhập không cao và bấp bênh, nên chính sách BHXH tự nguyện rõ ràng, phù hợp, với chính sách hỗ trợ của Nhà nước về mức phí đóng, linh hoạt các quy định đóng - hưởng phù hợp theo nhóm/loại lao động, khuyến khích tham gia theo nhóm/hộ gia đình và những quy định thủ tục tham gia thuận tiện hơn… sẽ có tác động tích cực tới mong muốn tham gia của người lao động.

Ba là, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành chức năng trong quá trình thực hiện chương trình BHXH tự nguyện. Việc tăng cường sự phối hợp này sẽ tạo ra sự thông suốt từ các cấp chỉ đạo và thực hiện chương trình BHXH tự nguyện, giúp việc thực hiện BHXH tự nguyện không bị nghẽn hay vướng mắc. Quá trình giám sát hay kiểm tra việc thực hiện, quản lý thu - chi quỹ BHXH được hiệu quả.

Bốn là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào các quy trình quản lý, thực hiện BHXH tự nguyện. Việc ứng dụng công nghệ thông tin sẽ gúp các hoạt động quản lý vừa đảm bảo tính chuyên nghiệp, nhanh gọn và hiệu quả hơn (như việc chi trả lương hưu, chi trả các trợ cấp BHXH tự nguyện…), giúp người lao động tin cậy hơn vào chương trình BHXH tự nguyện, giảm các cảm nhận rủi ro khi tham gia BHXH tự nguyện.

(*)Nghiên cứu được thực hiện trước thời điểm triển khai chính quyền địa phương 2 cấp theo Nghị quyết số 203/2025/QH15.

Tài liệu tham khảo:

1. Auerbach, P., Genoni, M.E., Pagés, C. (2005). Social Security Coverage and the Labor Market in Developing Countries. Working Paper, No. 537, Inter- American Development Bank, Research Department, Washington, DC: https://www.econstor.eu/bitstream/10419/88001/1/idb-wp_537.pdf.

2. Bùi Huy Nam (2019). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHXH tự nguyện của người lao động ở Việt Nam. Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.

3. Collins-Sowah, P. A., Kuwornu, J. K., Tsegai, D. (2013). Willingness to participate in micro pension schemes: Evidence from the informal sector in Ghana. Journal of Economics and International Finance, 5(1), 21-34.

4. Giles, J., Wang, D., Park, A. (2013). Expanding social insurance coverage in urban China. Labor market issues in China, 37, 123-179. Emerald Group Publishing Limited. https://documents1.worldbank.org/curated/en/869431468219015329/pdf/781800WP0china0Box0377329B00PUBLIC0.pdf.

5. Holzmann, R., Packard, T., Cuesta, J. (2000). Extending coverage in multi-pillar pension systems: Constraints and hypotheses, preliminary evidence and future research agenda. World Bank Social Protection Discussion Paper, 2.

6. Hoàng Thu Thuỷ, Bùi Hoàng Minh Thư (2018). Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của nông dân: Trường hợp địa bàn tỉnh Phú Yên. Tạp chí Phát triển khoa học & công nghệ: Chuyên san kinh tế - luật và quản lý, 4(2), 54-62.

7. Nguyễn Xuân Cường, Nguyễn Xuân Thọ và Hồ Huy Tựu (2014). Một số nhân tố ảnh hưởng đến sự quan tâm tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Nghệ An, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN. Kinh tế và Kinh doanh, 30(1), 36-45.

8. Phan Quan Việt, Nguyễn Thanh Sơn, Đinh Hoàng Anh Tuấn (2021). Nghiên xứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm xa hội tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức tại huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận. Tạp chí Công Thương, số 13, tháng 6/2021.

9. Roushdy, R., Selwaness, I. (2012). Who is covered and who under-reports: An empirical analysis of access to social insurance on the Egyptian labor market.

10. Trương Thị Phượng và Nguyễn Thị Hiển (2013). Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức tại tỉnh Phú Yên. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thuỷ sản, số 2/2013.

Ngày nhận bài: 5/11/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 15/12/2025; Ngày duyệt đăng: 31/12/2025

Các tin khác

Chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển sản phẩm nhựa thân thiện môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam

Chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển sản phẩm nhựa thân thiện môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam

Tại Việt Nam, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã tạo cơ sở pháp lý cho phát triển sản phẩm thân thiện với môi trường, tuy nhiên, việc phát triển các sản phẩm này vẫn gặp những rào cản nhất định. Kinh nghiệm quốc tế gợi mở hướng hoàn thiện và tăng cường tính liên kết giữa các công cụ chính sách.
Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Sự hài lòng trong công việc phản ánh cách người lao động đánh giá và trải nghiệm công việc đang đảm nhận. Trong doanh nghiệp sản xuất, việc nhận diện những phương diện gắn với sự hài lòng có thể giúp nhà quản trị xác định nội dung cần rà soát trong tổ chức công việc và chính sách nhân sự. Tuy nhiên, các yếu tố được đề cập trong lý thuyết không nhất thiết có mức đóng góp giống nhau ở mọi doanh nghiệp. Muốn áp dụng kết quả từ bối cảnh khác cho một đơn vị cụ thể thì cần có dữ liệu tại chính đơn vị đó.
Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Khả năng sinh lời của ngân hàng phụ thuộc vào chất lượng khoản vay và năng lực đáp ứng nghĩa vụ thanh toán. Nợ không được thu hồi đúng hạn có thể làm giảm thu nhập và gây thiếu hụt dòng tiền. Nguồn lực thanh khoản giúp hạn chế nhu cầu huy động khẩn cấp nhưng cũng phát sinh chi phí cơ hội. Vì vậy, đánh giá lợi nhuận tách rời hai loại rủi ro có thể dẫn đến nhận định thiếu đầy đủ (Arif và Anees, 2012; Imbierowicz và Rauch, 2014).
Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi

Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi

Ẩm thực đường phố là một trong những thành phần trải nghiệm du lịch hấp dẫn và đặc trưng nhất tại nhiều quốc gia châu Á, bao gồm Việt Nam.
Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Thuốc thuộc nhóm hàng hoá mà người mua gần như không thể tự thẩm định chất lượng, ngay cả sau khi đã sử dụng. Đặc tính này khiến cấu trúc kênh phân phối trở thành yếu tố quyết định mức rủi ro thuốc giả, bên cạnh năng lực kiểm nghiệm.
Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tại Việt Nam, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về tín dụng xanh, quản lý rủi ro môi trường, xã hội và quản trị ngân hàng nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện môi trường, xã hội và quản trị. Các quy định này góp phần thúc đẩy tín dụng xanh, nâng cao tính minh bạch, cải thiện quản trị và tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế của các ngân hàng thương mại.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt, sự phát triển kinh tế du lịch thực chất không chỉ đo lường bằng lượng khách hay doanh thu tổng thể, mà được quyết định bởi khả năng chuyển hóa các dòng chi tiêu thành thu nhập, việc làm và nâng cao năng lực kinh doanh tại chỗ.
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Qua phân tích chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại công ty MEDIA, nhóm tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực của Công ty trong thời gian tới.
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh là yêu cầu khách quan đối với các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, nhằm hướng tới giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp thương mại điện tử. Hai chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của chiến lược quản trị quan hệ khách hàng là lòng trung thành thương hiệu và giá trị vòng đời khách hàng.