Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng điện mặt trời áp mái của các hộ gia đình tại Hà Nội

Nghiên cứu - Trao đổi 15:54 | 19/01/2026
Sự hình thành và phát triển nhanh chóng các khu đô thị mới ở Hà Nội với số lượng lớn các gia đình sở hữu nhà phố, nhà biệt thự có mức sử dụng điện hàng tháng cao sẽ rất tiềm năng cho việc sử dụng điện mặt trời áp mái.

ThS. Lê Nhữ Diệu Hương

TS. Phùng Thị Thủy

Trường Đại học Thương mại

Tóm tắt

Trong bối cảnh nhu cầu sử dụng năng lượng tái tạo ngày càng gia tăng, điện mặt trời áp mái được xem là một giải pháp bền vững và phù hợp với điều kiện các hộ gia đình tại Hà Nội. Thông qua dữ liệu được thu thập từ khảo sát 278 hộ gia đình sở hữu nhà phố, nhà biệt thự tại các khu đô thị Hà Nội, nghiên cứu xác định và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến Ý định sử dụng điện mặt trời áp mái của các hộ gia đình. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Giá trị kinh tế và Chính sách hỗ trợ của Chính phủ có ảnh hưởng mạnh nhất đến Ý định sử dụng điện mặt trời áp mái của các hộ gia đình. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị cho cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng nhằm thúc đẩy việc ứng dụng điện mặt trời áp mái, góp phần vào phát triển bền vững trong thời gian tới.

Từ khóa: Điện mặt trời áp mái, hộ gia đình, ý định sử dụng, năng lượng tái tạo, thương hiệu

Summary

In the context of increasing demand for renewable energy, rooftop solar power is considered a sustainable solution well-suited to household conditions in Ha Noi. Based on a survey of 278 households owning townhouses and villas in Ha Noi's urban areas, this study identifies and evaluates the factors influencing households' intention to use rooftop solar power. The results indicate that economic value and government support policies exert the most potent effects on households' intention to adopt rooftop solar systems. Accordingly, the study proposes several recommendations for policymakers, businesses, and consumers to promote rooftop solar adoption and thereby contribute to sustainable development.

Keywords: Rooftop solar power, households, intention to use, renewable energy, brand

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, gia tăng dân số và nhu cầu sử dụng điện của các hộ gia đình ngày càng gia tăng, việc chuyển sang các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời trở thành xu hướng tất yếu. Tại Việt Nam, Chính phủ đang tích cực khuyến khích các hộ gia đình đầu tư hệ thống điện mặt trời áp mái như một giải pháp tiết kiệm chi phí, giảm áp lực lên hệ thống điện quốc gia và góp phần vào bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, mức độ tiếp nhận và sử dụng điện mặt trời áp mái giữa các khu vực, tỉnh thành của Miền Bắc, Miền Trung và Miền Nam và giữa khu vực nông thôn với khu vực thành thị là khác nhau. Sự hình thành và phát triển nhanh chóng các khu đô thị mới ở Hà Nội với số lượng lớn các gia đình sở hữu nhà phố, nhà biệt thự có mức sử dụng điện hàng tháng cao sẽ rất tiềm năng cho việc sử dụng điện mặt trời áp mái. Do đó, nghiên cứu hướng đến việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng điện mặt trời áp mái của hộ gia đình ở Hà Nội, nhằm đề xuất các hàm ý nhằm góp phần thúc đẩy ứng dụng rộng rãi nguồn năng lượng xanh trong xu hướng phát triển bền vững.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Lý thuyền nền tảng

Lý thuyết hành vi dự định (TPB) của Ajzen (1991) đưa ra giả định rằng, một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi. TPB chỉ ra, tác động của thái độ đối với hành vi và chuẩn chủ quan đến ý định được điều tiết bởi nhận thức về kiểm soát hành vi. Lý thuyết chấp nhận công nghệ (TAM) (Davis F., 1986) đưa ra mô hình chấp nhận công nghệ. Trong mô hình này, 2 yếu tố chính là “Nhận thức về tính hữu ích” và “Nhận thức về tính dễ sử dụng” tác động đến quyết định sử dụng công nghệ của một người. TAM được sử dụng để phân tích và dự đoán hành vi người dùng đối với các hệ thống công nghệ mới và nhờ đó, các doanh nghiệp phát triển sản phẩm sao cho phù hợp hơn với nhu cầu của người dùng.

Tổng quan nghiên cứu

Các nghiên cứu về ý định sử dụng điện mặt trời áp mái tại một số quốc gia khu vực châu Á và một số nghiên cứu tại Việt Nam cũng chủ yếu dựa trên TPB và TAM đã chỉ ra một số yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến ý định sử dụng điện mặt trời áp mái, cụ thể:

Nghiên cứu của Waris và cộng sự (2023) chỉ ra rằng, thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức tác động đáng kể ý định sử dụng năng lượng mặt trời của các hộ gia đình. Việc kết hợp mối quan tâm về môi trường vào Lý thuyết TPB đã cải thiện sức mạnh giải thích của nó, cho thấy các giá trị thân thiện với môi trường có thể củng cố ý định sử dụng năng lượng mặt trời.

Nghiên cứu của Wang và cộng sự (2022) cho thấy, mạng xã hội gián tiếp làm tăng nhận thức tính hữu ích, tính dễ sử dụng và sự tin tưởng vào các nhà cung cấp năng lượng mặt trời, từ đó ảnh hưởng tích cực đến sự sẵn lòng của người dân trong áp dụng điện mặt trời áp mái trên mái nhà.

Nghiên cứu của Lê Trần Thanh Liêm và Phạm Ngọc Nhàn (2020) thông qua khảo sát 120 hộ gia đình có mức thu nhập trên trung bình tại Cà Mau đã chỉ ra 4 yếu tố: Chi phí lắp đặt và sửa chữa, Chế độ bảo hành và chăm sóc khách hàng, Sự thân thiện môi trường khi sử dụng sản phẩm, Sự đa dạng các doanh nghiệp cung ứng tại địa phương ảnh hưởng đến Quyết định lắp đặt hệ thống điện năng lượng mặt trời trên mái nhà của hộ gia đình.

Nghiên cứu của Phạm Ngọc Dưỡng và Hồ Quang Ái Nhân (2021) thông qua khảo sát 309 người dân tại TP. Hồ Chí Minh đã đầu tư và đang sử dụng hệ thống điện mặt trời mái nhà đã cho thấy có 5 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng hệ thống điện mặt trời mái nhà gồm: Chính sách khuyến khích, Chi phí đầu tư hợp lý, Kiến thức về sản phẩm và trải nghiệm, Nhận thức lợi ích và Thái độ đối với môi trường.

Mô hình và giả thuyết nghiên cứu đề xuất

Dựa trên lý thuyết nền tảng và các nghiên cứu trước đây, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến Ý định sử dụng điện mặt trời áp mái đối với hộ gia đình khu vực Hà Nội như Hình.

Hình: Mô hình nghiên cứu

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng điện mặt trời áp mái của các hộ gia đình tại Hà Nội

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

Các giả thuyết nghiên cứu được đưa ra như sau:

H1: Giá trị kinh tế (GTKT) có ảnh hưởng tích cực đến Ý định sử dụng điện mặt trời áp mái (YD).

H2: Nhận thức về môi trường (NTMT) có ảnh hưởng tích cực đến Ý định sử dụng điện mặt trời áp mái (YD).

H3: Ảnh hưởng xã hội (AHXH) có ảnh hưởng tích cực đến Ý định sử dụng điện mặt trời áp mái (YD).

H4: Nhận thức về thương hiệu (NTTH) có ảnh hưởng tích cực đến Ý định sử dụng điện mặt trời áp mái (YD).

H5: Chính sách hỗ trợ của Chính phủ (CSCP) có ảnh hưởng tích cực đến Ý định sử dụng điện mặt trời áp mái (YD).

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với 23 biến, bao gồm 20 biến quan sát xoay quanh 5 biến độc lập và 3 biến quan sát thuộc biến phụ thuộc. Đối tượng mẫu nghiên cứu là các hộ gia đình sở hữu nhà ở riêng lẻ (nhà phố, nhà biệt thự) tại các khu đô thị ở Hà Nội. Sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện, bảng khảo sát được gửi trực tiếp và kết hợp gửi online trong khoảng thời quan là 3 tuần đầu của tháng 7/2025. Nghiên cứu khảo sát thu được 278 bảng trả lời hợp lệ từ các hộ gia đình và được đưa vào phân tích qua ứng dụng phần mềm SPSS 20.0 (Nghiên cứu sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế).

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thực hiện kiểm định độ tin cậy các thang đo

Bảng 1 cho thấy, kết quả các thang đo đều có hệ số tương quan biến tổng > 0.3 và hệ số Cronbach's Alpha > 0.6, nên 23 biến quan sát sẽ tiếp tục được đưa vào mô hình nghiên cứu và thực hiện phân tích nhân tố khám phá (EFA).

Bảng 1: Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha)

STT

Mã hóa biến quan sát

Tên biến quan sát (Item)

Hệ số tương quan biến tổng

Cronbach’s Alpha tổng nếu loại biến

Cronbach’s Alpha tổng của biến độc lập “Giá trị kinh tế”: 0.708

1

GTKT1

Tôi quan tâm đến chi phí đầu tư ban đầu lắp đặt của hệ thống điện mặt trời áp mái

.441

.670

2

GTKT2

Tôi quan tâm đến chi phí vận hành của hệ thống điện mặt trời áp mái

.397

.688

3

GTKT3

Tôi tin rằng hệ thống điện mặt trời áp mái giúp tiết kiệm chi phí tiền điện hằng tháng

.487

.651

4

GTKT4

Tôi tin rằng hệ thống điện mặt trời áp mái an toàn và ổn định

.477

.655

5

GTKT5

Tôi cảm thấy yên tâm về tuổi thọ và hiệu suất của hệ thống điện mặt trời áp mái

.525

.635

Cronbach’s Alpha tổng của biến độc lập “Nhận thức về môi trường”: 0.713

1

NTMT1

Tôi quan tâm đến các vấn đề biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường

.534

.623

2

NTMT2

Tôi cho rằng sử dụng điện mặt trời áp mái giúp bảo vệ môi trường

.575

.576

3

NTMT3

Tôi muốn đóng góp vào phát triển năng lượng sạch, bền vững

.492

.670

Cronbach’s Alpha tổng của biến độc lập “Ảnh hưởng của xã hội”: 0.733

1

AHXH1

Gia đình, bạn bè hoặc hàng xóm đã sử dụng điện mặt trời áp mái khuyến khích tôi lắp đặt

.557

.646

2

AHXH2

Tôi tham khảo ý kiến từ người quen trước khi quyết định lắp điện mặt trời áp mái

.566

.634

3

AHXH3

Tôi bị ảnh hưởng bởi xu hướng của cộng đồng xung quanh trong việc sử dụng năng lượng sạch

.545

.659

Cronbach’s Alpha tổng của biến độc lập “Nhận thức về thương hiệu”: 0.784

1

NTTH1

Tôi chọn thương hiệu thiết bị pin năng lượng mặt trời áp mái có thị phần lớn trên thị trường

.611

.723

2

NTTH2

Tôi ưu tiên lựa chọn thương hiệu của DN có uy tín thi công/lắp đặt

.578

.739

3

NTTH3

Tôi ưu tiên lựa chọn thương hiệu của DN được nhiều người đánh giá cao

.572

.741

4

NTTH4

Tôi ưu tiên lựa chọn thương hiệu của DN có chính sách bảo hành rõ ràng

.605

.724

Cronbach’s Alpha tổng của biến độc lập “Chính sách hỗ trợ của Chính phủ ”: 0.760

1

CSCP1

Tôi biết đến các chính sách khuyến khích sử dụng điện mặt trời áp mái của Chính phủ

.494

.729

2

CSCP2

Chính sách hỗ trợ gói vay ưu đãi từ Chính phủ giúp tôi cân nhắc lắp đặt điện mặt trời áp mái

.495

.730

3

CSCP3

Chính sách hỗ trợ tiền đầu tư ban đầu cho các hộ gia đình giúp tôi cân nhắc lắp đặt điện mặt trời áp mái

.579

.699

4

CSCP4

Điện lực địa phương hỗ trợ gia đình về kỹ thuật trong quá trình đầu tư, lắp đặt giúp tôi cân nhắc lắp đặt điện mặt trời áp mái

.504

.725

5

CSCP5

Điện lực địa phương hỗ trợ gia đình về kỹ thuật trong quá trình vận hành khai thác giúp tôi cân nhắc lắp đặt điện mặt trời áp mái

.573

.702

Cronbach’s Alpha tổng của biến phụ thuộc “Ý định sử dụng điện mặt trời áp mái của hộ gia đình Việt Nam”: 0.601

1

YD1

Tôi có ý định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái cung cấp điện sử dụng sinh hoạt cho gia đình

.459

.426

2

YD2

Tôi có ý định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái cung cấp điện sử dụng cho một số thiết bị trong gia đình (như bình tắm nóng, quạt…)

.351

.587

3

YD3

Tôi cảm thấy hệ thống điện mặt trời áp là một lựa chọn đáng đầu tư cho hộ gia đình

.421

.483

Tổng 23 biến quan sát

Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm tác giả

Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Thực hiện phân tích EFA được sử dụng để đưa những biến liên quan về chung một nhóm. Tất cả các biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố Factor Loading > 0.3 và hệ số KMO có giá trị = 0.833 < 1.00 và Sig. < 0.05 (Bảng 2). Kết quả phân tích EFA cho mô hình nghiên cứu mới được trích rút từ EFA còn 4 nhân tố. Trong đó, 3 nhân tố là Nhận thức về thương hiệu (NTTH), Giá trị kinh tế (GTKT) và Chính sách của Chính phủ (CSCP) được giữ nguyên, còn Nhận thức về môi trường (NTMT) và Ảnh hưởng của xã hội (AHXH) sẽ được gộp lại và đặt tên là: Nhận thức về môi trường và ảnh hưởng của xã hội (MTXH) gồm 6 biến quan sát bao gồm AHXH1, AHXH2, AHXH3, NTMT1, NTMT2, NTMT3.

Bảng 2: Kết quả KMO và kiểm định Barlett

Kiểm định KMO

.833

Kiểm định Bartlett

Chi bình phương xấp xỉ

1794.414

Df

190

Sig.

.000

Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm tác giả

Phân tích hồi quy

Thực hiện phân tích tương quan nhằm xác định mối quan hệ tuyến tính giữa biến phụ thuộc và biến độc lập và kết quả cho thấy các nhân tố MTXH và NTTH có hệ số tương quan Pearson < 0.2 và Sig > 0.05. Do đó, 2 nhân tố MTXH và NTTH không có tương quan với biến phụ thuộc và không đưa vào tiếp tục phân tích hồi quy. Hai nhân tố còn lại là GTKT và CSCP có hệ số tương quan Pearson > 0.2 và Sig. = 0.000 < 0.05, nên tương quan với biến phụ thuộc là Ý định mua sử dụng điện mặt trời áp mái. Do vậy, 2 nhân tố này được giữ lại và tiếp tục đưa vào phân tích hồi quy (Bảng 3).

Bảng 3: Hệ số tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc

YD

MTXH

GTKT

NTTH

CSCP

YD

Pearson Correlation

1

.050

.755**

.088

.608**

Sig. (2-tailed)

.408

.000

.143

.000

N

278

278

278

278

278

MTXH

Pearson Correlation

.050

1

.248**

.555**

.154*

Sig. (2-tailed)

.408

.000

.000

.010

N

278

278

278

278

278

GTKT

Pearson Correlation

.755**

.248**

1

.097

.481**

Sig. (2-tailed)

.000

.000

.107

.000

N

278

278

278

278

278

NTTH

Pearson Correlation

.088

.555**

.097

1

-.060

Sig. (2-tailed)

.143

.000

.107

.321

N

278

278

278

278

278

CSCP

Pearson Correlation

.608**

.154*

.481**

-.060

1

Sig. (2-tailed)

.000

.010

.000

.321

N

278

278

278

278

278

**. Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed).

*. Correlation is significant at the 0.05 level (2-tailed).

Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm tác giả qua sử dụng SPSS 20.0

Kết quả Bảng 4 cho hệ số R2 hiệu chỉnh = 0.645 cho thấy, độ thích hợp của mô hình là 64.5%, hay nói cách khác là mô hình hồi quy giải thích được 64.5%, còn lại sẽ được giải thích bằng các nhân tố khác ngoài mô hình. Giá trị Dubin-Watson (DW) đánh giá hiện tượng tương quan chuỗi bậc nhất = 1.651, trong khoảng 1.5 đến 2.5, nên kết quả không vi phạm giả định tự tương quan chuỗi bậc nhất.

Bảng 4: Mức độ phù hợp của mô hình

Model

R

R2

R2 hiệu chỉnh

Sai số chuẩn

Durbin-Watson

1

.805a

.648

.645

.28566

1.651

a. Biến độc lập: (Constant), CSCP, GTKT

b. Biến phụ thuộc: YD

Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm tác giả qua sử dụng SPSS 20

Kết quả kiểm định ANOVA ở Bảng 5 cho thấy, giá trị Sig. = 0.000 < 0.01 có thể kết luận, các biến các biến độc lập có tương quan tuyến tính với biến phụ thuộc với mức độ tin cậy là 99%.

Bảng 5: Phân tích ANOVA

Model

Tổng bình phương

df

Trung bình bình phương

F

Sig.

1

Hồi quy

41.298

2

20.649

253.042

.000b

Phần dư

22.441

275

.082

Tổng

63.738

277

a. Biến phụ thuộc: YD

b. Biến độc lập: (Constant), CSCP, GTKT

Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm tác giả qua sử dụng SPSS 20

Bảng 6: Kết quả phân tích hồi quy

Model

Hệ số hồi quy chưa chuẩn hóa

Hệ số hồi quy chuẩn hóa

t

Sig.

Thống kê đa cộng tuyến

B

Sai số chuẩn

Beta

Tolerance

VIF

1

(Constant)

-.081

.201

-.402

.688

GTKT

.680

.046

.602

14.745

.000

.769

1.301

CSCP

.340

.044

.318

7.800

.000

.769

1.301

a. Biến phụ thuộc: YD

Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm tác giả qua sử dụng SPSS 20

Kết quả phân tích trong Bảng 6 cho thấy, yếu tố Giá trị kinh tế (GTKT) và nhân tố Chính sách hỗ trợ của Chính phủ (CSCP) đều có hệ số Sig. < 0.05, VIF < 2, nên không khả năng xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến. Bên cạnh đó, dựa vào hệ số hồi quy chuẩn hóa đều có giá trị dương, nên GTKT và CSCP đều có quan hệ cùng chiều đến biến phụ thuộc Ý định sử dụng điện năng lượng mặt trời áp mái. Trong đó, yếu tố Giá trị kinh tế (GTKT) có hệ số hồi quy Beta = 0.602 và yếu tố Chính sách hỗ trợ của Chính phủ (CSCP) có hệ số hồi quy Beta = 0.318. Như vậy, yếu tố Giá trị kinh tế (GTKT) có tác động mạnh hơn đến Ý định sử dụng điện mặt trời áp mái so với nhân tố Chính sách hỗ trợ của Chính phủ (CSCP).

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý

Kết luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 2 yếu tố Giá trị kinh tế và Chính sách hỗ trợ của Chính phủ có tác động tích cực đến Ý định sử dụng điện mặt trời áp mái. Trong đó, nhân tố Giá trị kinh tế có tác động mạnh hơn.

Một số hàm ý

- Về giá trị kinh tế: Các doanh nghiệp không chỉ cung cấp cho khách hàng sản phẩm chất lượng tốt, mà có những biện pháp để tiết giảm chi phí đầu tư ban đầu cho các hộ gia đình. Đối với chất lượng sản phẩm, hiện nay các dự án điện mặt trời áp mái hộ gia đình chủ yếu tuân thủ theo yêu cầu kỹ thuật hòa lưới của EVN và lựa chọn thiết bị đạt tiêu chuẩn IEC/UL. Tuy nhiên, Việt Nam cần xây dựng và ban hành bộ tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng thiết bị và đặc biệt là quy trình lắp đặt điện mặt trời áp mái. Cơ quan quản lý nhà nước có cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm nhằm tránh tình trạng lừa đảo hoặc bán thiết bị kém chất lượng giúp cho khách hàng hộ gia đình yên tâm trong việc lựa chọn sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp.

Hiện tại chi phí lắp đặt điện mặt trời áp mái còn cao cũng là rào cản cho việc sử dụng điện mặt trời áp mái của các hộ gia đình. Điều này đặt ra việc các doanh nghiệp tiếp tục đẩy mạnh đầu tư phát triển công nghiệp để chủ động sản xuất trong nước tấm pin, inverter, hệ thống lưu trữ thay thế cho việc nhập khẩu giúp giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tính chủ động trong cung cấp sản phẩm cho khách hàng tại thị trường Việt Nam. Doanh nghiệp gia tăng tư vấn bài toán về chi phí đầu tư ban đầu, chi phí bảo trì định kỳ, chi phí sửa chữa thay thế suy giảm hiệu suất của tấm pin theo thời gian và phân tích lợi ích kinh tế cho khách hàng khi sử dụng điện mặt trời áp mái đặc biệt là những khách hàng tiêu thụ mức điện lớn trong tháng. Doanh nghiệp cung cấp và lắp đặt điện mặt trời áp mái quan tâm đến hoạt động chăm sóc khách hàng: cam kết thực hiện đúng và chất lượng đối với dịch vụ hậu mãi, như: bảo hành dài hạn, hỗ trợ giám sát vận hành qua ứng dụng công nghệ, gia tăng dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật như kịp thời tư vấn, bảo trì, sửa chữa hệ thống điện mặt trời áp mái trong quá trình sử dụng của các hộ gia đình.

- Về chính sách hỗ trợ của Chính phủ bao gồm cả yếu tố thuộc về tài chính cũng như yếu tố thuộc về kỹ thuật và cả việc truyền thông của Chính phủ. Do đó, Chính phủ và cả doanh nghiệp cần đẩy mạnh các chương trình truyền thông qua báo chí, truyền hình, mạng xã hội để giới thiệu về hiệu quả kinh tế, lợi ích môi trường của điện mặt trời và những những chính sách của Chính phủ đối với việc lắp đặt sử dụng điện năng lượng mặt trời áp mái cho các hộ gia đình. Tổ chức các hội thảo, hội chợ công nghệ năng lượng tái tạo để người dân có cơ hội tiếp cận thông tin và thiết bị thực tế nâng cao kiến thức của người dân về nguồn năng lượng điện mặt trời áp mái.

Tài liệu tham khảo:

1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179–211.

2. Davis, F. D. (1986). A Technology Acceptance Model for Empirically Testing New End-User Information Systems: Theory and Results. Doctoral dissertation: MIT Sloan School of Management, Cambridge, MA.

3. Lê Trần Thanh Liêm và Phạm Ngọc Nhàn (2020). Các yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng mô hình điện năng lượng mặt trời trên mái nhà của hộ gia đình tại Cà Mau, Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, 56(2), 161-167.

4. Phạm Ngọc Dưỡng và Hồ Quang Ái Nhân (2021). Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng hệ thống điện mặt trời mái nhà của người dân thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, số 21, tháng 9/2021.

5. Wang, W., Guan, X., Jin, S., Wang, X., Qin, X., Lu, N., Zhu, G., Li, D. (2022). Social network and villagers’ willingness to adopt residentialrooftop PV products: A multiple mediating model based on TAM/PR theory. Front. Environ. Sci., 10.

6. Waris, I., Hameed, I., Ali, R. (2023). Predicting household sign up for solar energy: An empirical study based on the extended theory of planned behavior. Int. J. Energy Sect. Manag, 17, 455-473.

Ngày nhận bài: 25/11/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 8/1/2026; Ngày duyệt đăng: 16/1/2026

Các tin khác

Chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển sản phẩm nhựa thân thiện môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam

Chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển sản phẩm nhựa thân thiện môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam

Tại Việt Nam, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã tạo cơ sở pháp lý cho phát triển sản phẩm thân thiện với môi trường, tuy nhiên, việc phát triển các sản phẩm này vẫn gặp những rào cản nhất định. Kinh nghiệm quốc tế gợi mở hướng hoàn thiện và tăng cường tính liên kết giữa các công cụ chính sách.
Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Sự hài lòng trong công việc phản ánh cách người lao động đánh giá và trải nghiệm công việc đang đảm nhận. Trong doanh nghiệp sản xuất, việc nhận diện những phương diện gắn với sự hài lòng có thể giúp nhà quản trị xác định nội dung cần rà soát trong tổ chức công việc và chính sách nhân sự. Tuy nhiên, các yếu tố được đề cập trong lý thuyết không nhất thiết có mức đóng góp giống nhau ở mọi doanh nghiệp. Muốn áp dụng kết quả từ bối cảnh khác cho một đơn vị cụ thể thì cần có dữ liệu tại chính đơn vị đó.
Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Khả năng sinh lời của ngân hàng phụ thuộc vào chất lượng khoản vay và năng lực đáp ứng nghĩa vụ thanh toán. Nợ không được thu hồi đúng hạn có thể làm giảm thu nhập và gây thiếu hụt dòng tiền. Nguồn lực thanh khoản giúp hạn chế nhu cầu huy động khẩn cấp nhưng cũng phát sinh chi phí cơ hội. Vì vậy, đánh giá lợi nhuận tách rời hai loại rủi ro có thể dẫn đến nhận định thiếu đầy đủ (Arif và Anees, 2012; Imbierowicz và Rauch, 2014).
Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi

Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi

Ẩm thực đường phố là một trong những thành phần trải nghiệm du lịch hấp dẫn và đặc trưng nhất tại nhiều quốc gia châu Á, bao gồm Việt Nam.
Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Thuốc thuộc nhóm hàng hoá mà người mua gần như không thể tự thẩm định chất lượng, ngay cả sau khi đã sử dụng. Đặc tính này khiến cấu trúc kênh phân phối trở thành yếu tố quyết định mức rủi ro thuốc giả, bên cạnh năng lực kiểm nghiệm.
Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tại Việt Nam, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về tín dụng xanh, quản lý rủi ro môi trường, xã hội và quản trị ngân hàng nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện môi trường, xã hội và quản trị. Các quy định này góp phần thúc đẩy tín dụng xanh, nâng cao tính minh bạch, cải thiện quản trị và tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế của các ngân hàng thương mại.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt, sự phát triển kinh tế du lịch thực chất không chỉ đo lường bằng lượng khách hay doanh thu tổng thể, mà được quyết định bởi khả năng chuyển hóa các dòng chi tiêu thành thu nhập, việc làm và nâng cao năng lực kinh doanh tại chỗ.
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Qua phân tích chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại công ty MEDIA, nhóm tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực của Công ty trong thời gian tới.
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh là yêu cầu khách quan đối với các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, nhằm hướng tới giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp thương mại điện tử. Hai chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của chiến lược quản trị quan hệ khách hàng là lòng trung thành thương hiệu và giá trị vòng đời khách hàng.