Một số kiến nghị giúp lao động làng nghề tiếp cận hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay

Nghiên cứu - Trao đổi 07:58 | 05/02/2026
Bài viết khái quát thực trạng tiếp cận an sinh xã hội của lao động trong các làng nghề, từ đó đề xuất một số giải pháp liên quan.

Bùi Thị Nhung

NCS Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Tóm tắt

Hệ thống an sinh xã hội không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ, chia sẻ rủi ro, mà còn là động lực thúc đẩy tăng trưởng bao trùm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và củng cố niềm tin xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, sự phát triển nhanh của nền kinh tế thị trường, quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa và những biến động kinh tế - xã hội toàn cầu đã và đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với việc hoàn thiện cơ chế đảm bảo an sinh xã hội. Bài viết khái quát thực trạng tiếp cận an sinh xã hội của lao động trong các làng nghề, từ đó đề xuất một số giải pháp liên quan.

Từ khóa: An sinh xã hội, người lao động, làng nghề truyền thống

Summary

The social security system not only serves as a mechanism for support and risk sharing but also acts as a driver of inclusive growth, the improvement of human capital quality, and the strengthening of social trust. However, in practice, the rapid development of the market economy, the process of industrialization and modernization, and global socio-economic fluctuations have posed new challenges to the improvement of social security mechanisms. The paper provides an overview of the current state of access to social security among workers in traditional craft villages, thereby proposing several relevant policy solutions.

Keywords: Social security, workers, traditional craft villages

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm qua, cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và phát triển kinh tế làng nghề, việc mở rộng hệ thống an sinh xã hội nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động nói chung, người lao động ở các làng nghề đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ như tăng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm xã hội (BHXH) và triển khai trợ giúp xã hội cho các nhóm yếu thế, thì việc đảm bảo cho lao động làng nghề tiếp cận an sinh xã hội vẫn còn tồn tại những thách thức đáng kể. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải củng cố, mở rộng và nâng cao chất lượng hệ thống an sinh xã hội theo hướng toàn diện, linh hoạt, đa tầng và lấy người lao động, trong đó có người lao động ở các làng nghề, làm trung tâm.

THỰC TRẠNG TIẾP CẬN AN SINH XÃ HỘI CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở CÁC LÀNG NGHỀ

Cả nước hiện có 5.407 làng nghề đang hoạt động, trong đó có 1.748 làng nghề truyền thống, thu hút khoảng 11 triệu lao động và mang lại kim ngạch xuất khẩu khoảng 1,7 tỷ USD/năm (Thùy Lê, 2024). Mặc dù BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình là một trong những chính sách an sinh xã hội có ý nghĩa quan trọng giúp người lao động tự do, người có thu nhập thấp có thể bảo đảm cuộc sống khi không còn khả năng lao động, nhưng nhìn chung, tỷ lệ tham gia BHXH, BHYT của lao động trong các làng nghề còn thấp. Theo số liệu của BHXH Việt Nam (2023), tỷ lệ lao động làng nghề tham gia BHXH tự nguyện chỉ đạt dưới 10%, trong khi nhóm lao động trong khu công nghiệp có tỷ lệ tham gia BHXH bắt buộc cao hơn nhiều (trên 85%). Bên cạnh BHXH, thì việc tham gia BHYT chủ yếu vẫn dừng lại ở hình thức hộ gia đình, ít gắn với quan hệ lao động chính thức. Điều này dẫn đến nguy cơ lọt lưới an sinh khi người dân hết tuổi lao động, tạo gánh nặng cho con cái, cộng đồng khi về già. Ví dụ như, xã Quảng Phú Cầu (huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội trước đây), nơi nổi tiếng với nghề làm tăm hương truyền thống, có 7.379 người trong độ tuổi lao động, với mức thu nhập bình quân là 72 triệu đồng/năm/lao động, nhưng tính đến năm 2024 chỉ có 88 người tham gia BHXH tự nguyện. Trong thực tế, có người sẵn sàng chi cả chục triệu đồng một năm để tham gia bảo hiểm thương mại, nhưng lại cân nhắc số tiền vài trăm ngàn đồng hoặc hơn 1 triệu đồng để tham gia BHXH tự nguyện (tùy thuộc vào nhóm đối tượng và tỷ lệ hỗ trợ từ ngân sách). Lý do chính là họ chưa hiểu chính xác về về chính sách an sinh xã hội của Nhà nước (Ngân Anh và Thu Hường, 2024). Trong khi đó, tại Chuyên Mỹ (huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội trước đây) - xã có nghề truyền thống, 7/7 thôn được UBND TP. Hà Nội công nhận làng nghề, 100% người có nhu cầu lao động tại địa phương được đào tạo nghề và có việc làm ổn định, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động làng nghề tham gia BHXH tự nguyện còn thấp (Minh Hương, 2024).

Nguyên nhân sâu xa của tình trạng này bắt nguồn từ đặc thù phi chính thức của thị trường lao động trong làng nghề. Phần lớn lao động làm việc theo hộ gia đình hoặc các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, không ký hợp đồng lao động, không ràng buộc bởi quan hệ pháp lý với người sử dụng lao động. Ngoài ra, một trong những nguyên nhân khiến người lao động ở các làng nghề chưa mặn mà với BHXH, BHYT là do tình trạng việc làm của lao động thiếu ổn định, thu nhập thấp và điều kiện lao động không đảm bảo. Thu nhập trung bình của mỗi lao động tại các làng nghề đạt từ 4,5-5 triệu đồng/người/tháng; một số lao động có tay nghề cao trong các lĩnh vực mộc, chế tác đá, bông vải sợi… có thu nhập cao hơn, ở mức từ 8-10 triệu đồng/người/tháng. Tuy nhiên, lao động ở các làng nghề truyền thống thường làm việc theo thời vụ và thu nhập không thường xuyên (Lê Minh Long, 2024). Thu nhập bấp bênh khiến lao động làng nghề khó tiếp cận dịch vụ xã hội chất lượng cao, đồng thời hạn chế khả năng “tự an sinh” thông qua tích lũy hoặc tham gia BHXH, BHYT.

Bên cạnh đó, một trong những điểm nghẽn quan trọng trong việc mở rộng diện bao phủ an sinh xã hội cho lao động ở các làng nghề truyền thống chính là công tác tuyên truyền còn hạn chế, chưa đi vào chiều sâu và chưa phù hợp với đặc thù lao động phi chính thức. Khác với lao động trong các khu công nghiệp - nơi có hệ thống công đoàn cơ sở, hội nghị người lao động định kỳ và kênh truyền thông tập trung thì lao động làng nghề phân tán, chủ yếu làm việc tại các hộ gia đình hoặc xưởng nhỏ lẻ, thiếu quan hệ lao động chính thức, do đó ít có cơ hội tiếp cận thông tin chính thống về chính sách an sinh.

Đặc biệt, hiện nay còn thiếu cơ chế tài chính khuyến khích linh hoạt phù hợp với đặc thù làng nghề. Nguồn lực hiện hành chưa tính đến tính mùa vụ và thu nhập không ổn định của lao động làng nghề, nên chưa có những chính sách hữu hiệu hỗ trợ lao động làng nghề tham gia BHXH, BHYT.

Cùng với đó, vai trò của doanh nghiệp, hiệp hội làng nghề và cộng đồng chưa phát huy mạnh mẽ trong việc giúp người lao động tiếp cận với hệ thống an sinh xã hội. Trong khi khu vực doanh nghiệp đã có sự gắn kết tương đối chặt chẽ với hệ thống an sinh xã hội thông qua việc ký kết hợp đồng lao động, tham gia BHXH bắt buộc và thực hiện các hội nghị người lao động định kỳ, thì khu vực làng nghề lại cho thấy một khoảng trống lớn về sự tham gia của các chủ thể trung gian. Thực tế, hầu hết lao động làng nghề làm việc trong các hộ gia đình, xưởng nhỏ lẻ, ít chịu sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật lao động, nên thiếu vắng các thiết chế trung gian như công đoàn cơ sở, hiệp hội ngành nghề hoặc chính quyền cấp xã làm đầu mối gắn kết chính sách với người lao động.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP

Nhằm tháo gỡ điểm nghẽn về cơ chế, chính sách, từ ngày 1/7/2025, khi Luật BHXH năm 2024 có hiệu lực, sẽ có 4 chế độ BHXH mà những đối tượng tham gia BHXH tự nguyện được hưởng bao gồm: Trợ cấp thai sản; Hưu trí; Tử tuất; Bảo hiểm tai nạn lao động theo quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015. Trước đó, Luật BHXH 2014 quy định BHXH tự nguyện chỉ được hưởng 2 chế độ là hưu trí và tử tuất. Như vậy, Luật BHXH 2024 đã bổ sung 2 chế độ mới là trợ cấp thai sản và bảo hiểm tai nạn lao động cho người lao động khi tham gia BHXH tự nguyện. Cùng với bổ sung chế độ được hưởng, theo Luật BHXH năm 2024, người tham gia BHXH được hưởng chế độ hưu trí khi đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định và có thời gian đóng BHXH từ đủ 15 năm trở lên.

Nhìn chung, Luật BHXH 2024 được kỳ vọng sẽ là nhân tố tích cực để đẩy mạnh lưới an sinh xã hội thông qua chính sách BHXH cho lao động làng nghề nói riêng và lao động phi chính thức nói chung. Tuy nhiên nếu không có chính sách hỗ trợ đặc thù thêm, thì lao động làng nghề cũng vẫn rất khó có thể vào lưới an sinh xã hội. Vì vậy, nhằm đảm bảo an sinh xã hội cho người lao động trong các làng nghề truyền thống trong thời gian tới, theo tác giả, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, bên cạnh việc thiết kế các gói đóng BHXH tự nguyện linh hoạt hơn, tăng tính hấp dẫn về quyền lợi, cần có chính sách hỗ trợ một phần cho người lao động làng nghề đóng BHXH tự nguyện trong thời gian đầu để khuyến khích họ tham gia vào lưới an sinh của BHXH. Ngoài chính sách hỗ trợ như hiện nay, Nhà nước nên có chính sách hỗ trợ đặc thù cho người lao động trong các làng nghề hoặc hỗ trợ thêm cho các thành viên trong cùng một gia đình làng nghề khi cùng tham gia BHXH tự nguyện như giảm trừ mức đóng cho người thứ hai, thứ ba khi tham gia BHXH tự nguyện, tương tự như khi tham gia BHYT hộ gia đình. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần nghiên cứu, xem xét có chính sách nghỉ hưu riêng cho nhóm lao động trong các làng nghề khi tham gia BHXH tự nguyện, chú trọng các tiêu chí về thời gian đóng, tuổi đủ điều kiện nghỉ hưu, nhất là đối với những người lao động làng nghề làm những công việc nặng nhọc, độc hại…

Hai là, tích hợp chính sách an sinh xã hội với chiến lược phát triển kinh tế làng nghề. Theo đó, cần xây dựng một mô hình phát triển làng nghề “đa mục tiêu”, trong đó các can thiệp về BHYT, BHYT và trợ giúp xã hội được lồng ghép chặt chẽ với chính sách khuyến công, OCOP, du lịch làng nghề và hỗ trợ tín dụng. Việc tạo sinh kế ổn định và nâng cao thu nhập cho người dân chính là nền tảng bền vững để mở rộng phạm vi bao phủ của hệ thống an sinh xã hội, thay vì chỉ trông đợi vào các gói trợ cấp ngắn hạn.

Ba là, phát huy vai trò trung gian của các tổ chức hội, đoàn thể cơ sở. Mô hình tổ chức dịch vụ thu BHXH tự nguyện thông qua các tổ chức xã hội như: Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh ở đã chứng minh hiệu quả trong việc rút ngắn khoảng cách giữa chính sách và người dân. Với hệ thống làng nghề gắn bó cộng đồng cao và có cấu trúc sản xuất hộ gia đình phổ biến, việc trao quyền cho các tổ chức trung gian trong truyền thông, tư vấn và thu nộp BHXH/BHYT là giải pháp phù hợp, dễ chấp nhận và có tính lan tỏa cao. Đây là cách tiếp cận “phân quyền mềm” giúp chính sách đi vào đời sống, mà không làm tăng chi phí hành chính.

Bốn là, áp dụng cơ chế tín dụng liên kết với chính sách an sinh xã hội. Thái Lan đã áp dụng hiệu quả mô hình tín dụng ưu tiên cho hộ sản xuất hoặc người lao động có tham gia BHXH, BHYT. Việt Nam có thể triển khai mô hình “tín dụng kèm điều kiện” với Ngân hàng Chính sách xã hội hoặc các quỹ khuyến công, trong đó người lao động hoặc chủ hộ làng nghề được ưu tiên xếp hạng tín dụng nếu chứng minh tham gia BHXH hoặc có kế hoạch tham gia trong tương lai. Cơ chế này vừa thúc đẩy sự tự nguyện tham gia, vừa nâng cao chất lượng tín dụng, đảm bảo tài chính bền vững cho cả hệ thống.

Năm là, cơ quan BHXH các địa phương, chính quyền cơ sở và truyền thông, gần nhất là Hội Người cao tuổi, Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ của từng thôn xóm cần tích cực truyền thông cho người lao động ở các làng nghề hiểu, điều quan trọng nhất là nếu tham gia BHXH thì khi về già sẽ không tạo gánh nặng cho con cháu, được hưởng hưu, ốm đau khi đi khám được hỗ trợ chi trả…

Sáu là, thúc đẩy chính sách đào tạo nghề gắn với bảo hiểm. Giống như mô hình đào tạo thủ công tre ở Thái Lan hay chương trình truyền nghề ở Nhật Bản, Việt Nam cần xây dựng các chương trình đào tạo kỹ năng có liên kết với chính sách an sinh xã hội: ví dụ học viên tham gia học nghề được miễn/giảm chi phí khi đăng ký BHXH tự nguyện, hoặc được giới thiệu vào cơ sở có tham gia BHXH/BHYT đầy đủ. Điều này giúp bảo vệ người lao động ngay từ khi bước vào thị trường, thay vì chỉ “vá lỗ hổng” khi đã gặp rủi ro.

Tài liệu tham khảo:

1. BHXH Việt Nam (2023). Báo cáo tổng kết công tác năm 2023.

2. Lê Minh Long (2024). Giải pháp thu hút lao động làng nghề vào lưới an sinh thông qua chính sách bảo hiểm xã hội? Bài 1: Câu chuyện từ những làng nghề. https://daidoanket.vn/giai-phap-thu-hut-lao-dong-lang-nghe-vao-luoi-an-sinh-thong-qua-chinh-sach-bao-hiem-xa-hoi-bai-1-cau-chuyen-tu-nhung-lang-nghe-10293244.html

3. Minh Hương (2024). Tỉ lệ lao động làng nghề tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện còn thấp. https://laodong.vn/cong-doan/ti-le-lao-dong-lang-nghe-tham-gia-bao-hiem-xa-hoi-tu-nguyen-con-thap-1343423.ldo.

4. Ngân Anh, Thu Hường (2024). Giúp lao động làng nghề tiếp cận an sinh xã hội. https://nhandan.vn/giup-lao-dong-lang-nghe-tiep-can-an-sinh-xa-hoi-post810624.html.

5. Quốc hội (2024). Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15, ngày 29/6/2024.

6. Thùy Lê (2024). Tăng tính hấp dẫn về quyền lợi để thu hút lao động ở các làng nghề tham gia bảo hiểm xã hội. http://baokiemtoan.vn/tang-tinh-hap-dan-ve-quyen-loi-de-thu-hut-lao-dong-o-cac-lang-nghe-tham-gia-bao-hiem-xa-hoi-32551.html.

7. Tổng cục Thống kê (2023). Tình hình thị trường lao động Việt Nam năm 2023.

Ngày nhận bài: 15/11/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 20/1/2026; Ngày duyệt đăng: 3/2/2026

Các tin khác

Chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển sản phẩm nhựa thân thiện môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam

Chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển sản phẩm nhựa thân thiện môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam

Tại Việt Nam, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã tạo cơ sở pháp lý cho phát triển sản phẩm thân thiện với môi trường, tuy nhiên, việc phát triển các sản phẩm này vẫn gặp những rào cản nhất định. Kinh nghiệm quốc tế gợi mở hướng hoàn thiện và tăng cường tính liên kết giữa các công cụ chính sách.
Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Sự hài lòng trong công việc phản ánh cách người lao động đánh giá và trải nghiệm công việc đang đảm nhận. Trong doanh nghiệp sản xuất, việc nhận diện những phương diện gắn với sự hài lòng có thể giúp nhà quản trị xác định nội dung cần rà soát trong tổ chức công việc và chính sách nhân sự. Tuy nhiên, các yếu tố được đề cập trong lý thuyết không nhất thiết có mức đóng góp giống nhau ở mọi doanh nghiệp. Muốn áp dụng kết quả từ bối cảnh khác cho một đơn vị cụ thể thì cần có dữ liệu tại chính đơn vị đó.
Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Khả năng sinh lời của ngân hàng phụ thuộc vào chất lượng khoản vay và năng lực đáp ứng nghĩa vụ thanh toán. Nợ không được thu hồi đúng hạn có thể làm giảm thu nhập và gây thiếu hụt dòng tiền. Nguồn lực thanh khoản giúp hạn chế nhu cầu huy động khẩn cấp nhưng cũng phát sinh chi phí cơ hội. Vì vậy, đánh giá lợi nhuận tách rời hai loại rủi ro có thể dẫn đến nhận định thiếu đầy đủ (Arif và Anees, 2012; Imbierowicz và Rauch, 2014).
Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi

Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi

Ẩm thực đường phố là một trong những thành phần trải nghiệm du lịch hấp dẫn và đặc trưng nhất tại nhiều quốc gia châu Á, bao gồm Việt Nam.
Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Thuốc thuộc nhóm hàng hoá mà người mua gần như không thể tự thẩm định chất lượng, ngay cả sau khi đã sử dụng. Đặc tính này khiến cấu trúc kênh phân phối trở thành yếu tố quyết định mức rủi ro thuốc giả, bên cạnh năng lực kiểm nghiệm.
Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tại Việt Nam, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về tín dụng xanh, quản lý rủi ro môi trường, xã hội và quản trị ngân hàng nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện môi trường, xã hội và quản trị. Các quy định này góp phần thúc đẩy tín dụng xanh, nâng cao tính minh bạch, cải thiện quản trị và tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế của các ngân hàng thương mại.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt, sự phát triển kinh tế du lịch thực chất không chỉ đo lường bằng lượng khách hay doanh thu tổng thể, mà được quyết định bởi khả năng chuyển hóa các dòng chi tiêu thành thu nhập, việc làm và nâng cao năng lực kinh doanh tại chỗ.
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Qua phân tích chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại công ty MEDIA, nhóm tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực của Công ty trong thời gian tới.
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh là yêu cầu khách quan đối với các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, nhằm hướng tới giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp thương mại điện tử. Hai chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của chiến lược quản trị quan hệ khách hàng là lòng trung thành thương hiệu và giá trị vòng đời khách hàng.