Chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển sản phẩm nhựa thân thiện môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam
Dương Thị Phương Anh, Nguyễn Ngọc Phát, Bùi Vũ Ngọc Anh
Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, Email: [email protected]
Nguyễn Minh Khoa
Chuyên gia độc lập
Phan Tiến Thành, Nguyễn Trường Huynh
Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Tóm tắt
Phát triển sản phẩm nhựa thân thiện với môi trường là xu hướng tất yếu trong bối cảnh khủng hoảng ô nhiễm nhựa hiện nay. Các quốc gia đã thiết lập hệ thống chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển sản phẩm nhựa thân thiện môi trường. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy sự kết hợp giữa các quy định pháp lý, động lực kinh tế, hỗ trợ thị trường và cung cấp thông tin góp phần tạo môi trường thuận lợi cho các chủ thể, trong đó ưu đãi tài chính giúp doanh nghiệp giảm chi phí chuyển đổi, tăng khả năng tiếp cận vốn và khuyến khích đầu tư công nghệ, từ đó thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng sản phẩm nhựa thân thiện môi trường.
Từ khóa: Sản phẩm nhựa thân thiện môi trường, chính sách ưu đãi, nhựa sinh học, hàm lượng nhựa tái chế
Abstract
The development of environmentally friendly plastic products has become an inevitable trend in response to the current global plastic pollution crisis. Many countries have established policy frameworks offering incentives and support to promote the development of such products. International experience indicates that combining regulatory measures, economic incentives, market support, and information provision can create a favorable environment for relevant stakeholders. In particular, financial incentives help businesses reduce transition costs, improve access to capital, and encourage investment in advanced technologies. These measures can contribute to accelerating the production and consumption of environmentally friendly plastic products.
Keywords: Environmentally friendly plastic products, incentive policies, bioplastics, recycled plastic content
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ô nhiễm nhựa ngày càng nghiêm trọng do lượng chất thải gia tăng và những tác động môi trường phát sinh trong suốt vòng đời sản phẩm. Trước thực trạng đó, nhiều quốc gia chuyển từ quản lý chất thải sang quản lý nhựa theo tiếp cận vòng đời và kinh tế tuần hoàn. Các công cụ chính sách được kết hợp gồm hạn chế sản phẩm nhựa sử dụng một lần; quy định về hàm lượng nhựa tái chế và thiết kế sản phẩm; trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR); cơ chế điều chỉnh phí EPR; mua sắm công xanh (GPP); nhãn sinh thái; cùng các ưu đãi tài chính và hỗ trợ nghiên cứu, phát triển (R&D). Trong đó, ưu đãi tài chính giúp doanh nghiệp giảm chi phí chuyển đổi, còn GPP góp phần tạo thị trường cho sản phẩm nhựa thân thiện với môi trường (TTMT).
Tại Việt Nam, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định lộ trình hạn chế nhựa dùng một lần, bao bì nhựa khó phân hủy sinh học, EPR, mua sắm xanh cùng các ưu đãi, hỗ trợ sản phẩm thân thiện với môi trường (TTMT). Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế giúp xác định hướng hoàn thiện và tăng cường tính liên kết giữa các công cụ chính sách nhằm tháo gỡ rào cản về vốn, công nghệ và thị trường, qua đó thúc đẩy phát triển sản phẩm nhựa TTMT.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SẢN PHẨM NHỰA TTMT VÀ CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI, HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN
Sản phẩm nhựa TTMT
Sản phẩm nhựa TTMT có thể được hiểu là sản phẩm sử dụng nhựa làm vật liệu nhưng có khả năng giảm tác động tiêu cực đến môi trường tại một hoặc một số công đoạn trong vòng đời so với sản phẩm thay thế có cùng công dụng, đồng thời bảo đảm các yêu cầu về môi trường và sức khỏe con người (Quốc hội Việt Nam, 2020) (OECD, 2006). Tại Việt Nam, sản phẩm thân thiện với môi trường được xác định theo các tiêu chí nhãn sinh thái, được cơ quan có thẩm quyền chứng nhận hoặc doanh nghiệp tự công bố sản phẩm đáp ứng tiêu chí nhãn sinh thái (Chính phủ Việt Nam, 2026).
Xét theo đặc tính môi trường của nhựa nguyên liệu, có thể phân chia thành hai nhóm sản phẩm nhựa TTMT: (i) Nhựa phân hủy sinh học (có thể được sản xuất từ nguyên liệu có nguồn gốc sinh học hoặc từ nguyên liệu có nguồn gốc hóa thạch (European Bioplastics, 2022)); (ii) Nhựa tái chế (nguồn nguyên liệu có thể là nhựa sau tiêu dùng hoặc nhựa trước tiêu dùng (Soomro, S.S. và cộng sự, 2025)).
Chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển sản phẩm nhựa TTMT
Chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển sản phẩm nhựa TTMT có thể được phân thành ba nhóm chính:
- Công cụ pháp lý - hành chính: tác động chủ yếu thông qua việc thiết lập các yêu cầu, nghĩa vụ, điều kiện và thủ tục mà các chủ thể phải tuân thủ. Nhóm này bao gồm các quy định bắt buộc về hàm lượng nhựa tái chế, khả năng tái chế, thiết kế sản phẩm, hạn chế/cấm sản phẩm nhựa sử dụng một lần cũng như các yêu cầu về đăng ký, chứng nhận,… (OECD, 2007) (Watkins, E. và cộng sự, 2019).
- Công cụ kinh tế - thị trường: tác động thông qua giá cả, chi phí và các động cơ kinh tế, nhằm khuyến khích các chủ thể chuyển sang lựa chọn có lợi hơn cho môi trường. Các công cụ gồm thuế, phí, ưu đãi đầu tư, hỗ trợ tài chính, tín dụng, hỗ trợ R&D, EPR, GPP,… (OECD, 2007) (OECD, 2025) (Watkins, E. và cộng sự, 2019).
- Công cụ thông tin: tác động thông qua cung cấp, chuẩn hóa và xác nhận thông tin về đặc tính môi trường của sản phẩm, qua đó giảm bất đối xứng thông tin và hỗ trợ thay đổi hành vi của các chủ thể trong chuỗi giá trị nhựa. Nhóm này gồm nhãn sinh thái, công bố thông tin về hàm lượng nhựa tái chế, khả năng tái chế, hướng dẫn phân loại,… (Watkins, E. và cộng sự, 2019) (U.S. EPA, 2022).
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM NHỰA TTMT
Liên minh châu Âu (EU)
Quy định của EU về bao bì và chất thải bao bì (PPWR) được áp dụng từ ngày 12/8/2026 (European Parliament and Council of the EU, 2025). Theo lộ trình của PPWR, từ năm 2030, bao bì đưa ra thị trường phải đáp ứng các yêu cầu về khả năng tái chế; đồng thời, các bộ phận bằng nhựa của bao bì phải đạt mức hàm lượng nhựa tái chế tối thiểu theo từng loại bao bì (European Parliament and Council of the EU, 2025).
Bảng 1: Mức tối thiểu hàm lượng nhựa tái chế từ chất thải nhựa sau tiêu dùng theo PPWR của EU
|
Phân loại bao bì nhựa |
Mục tiêu bắt buộc từ 2030 |
Mục tiêu bắt buộc từ 2040 |
|
Bao bì nhạy cảm tiếp xúc mà PET là thành phần chính |
30% |
50% |
|
Bao bì nhạy cảm tiếp xúc mà nhựa khác PET là thành phần chính |
10% |
25% |
|
Chai nhựa đựng đồ uống dùng một lần |
30% |
65% |
|
Bao bì nhựa khác |
35% |
65% |
Nguồn: European Parliament and Council of the EU, 2025
PPWR quy định mức đóng góp EPR có thể được điều chỉnh theo hàm lượng nhựa tái chế, qua đó tạo động lực thiết kế bao bì bền vững hơn (European Parliament and Council of the EU, 2025).
EU thúc đẩy GPP thông qua việc đưa các tiêu chí môi trường có thể kiểm chứng vào quá trình mua sắm của khu vực công (EC, 2026a). PPWR quy định lộ trình thực hiện ghi nhãn bao bì nhằm cung cấp thông tin về thành phần vật liệu, hỗ trợ người tiêu dùng phân loại bao bì sau sử dụng; sử dụng mã QR hoặc phương tiện lưu trữ dữ liệu số tiêu chuẩn hóa, mở để cung cấp thêm thông tin. Bên cạnh đó là nhãn sinh thái EU, một hệ thống tự nguyện, được xây dựng theo từng nhóm sản phẩm và xem xét các tiêu chí như độ bền, khả năng tái sử dụng, tái chế và sử dụng nguyên liệu tái chế (European Parliament and Council of the EU, 2010) (EC, 2026b).
Hoa Kỳ
Hoa Kỳ sử dụng kết hợp các công cụ liên bang và cấp bang. Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) đánh giá từng quy trình tái chế nhựa cho bao bì tiếp xúc thực phẩm theo điều kiện sử dụng cụ thể (U.S. FDA, 2026); cách tiếp cận này nhấn mạnh yêu cầu xác minh an toàn và chất lượng vật liệu. California áp dụng EPR đối với bao bì và đồ dùng dịch vụ thực phẩm bằng nhựa dùng một lần theo SB54 năm 2022; đặt mục tiêu đến năm 2032 gồm giảm 25%, đạt tỷ lệ tái chế 65% và bảo đảm 100% có khả năng tái chế hoặc ủ phân (CalRecycle, 2026a) (CalRecycle, 2026b).
Hoa Kỳ cung cấp hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ thực hiện R&D công nghệ vật liệu và tái chế mới để thương mại hóa thông qua chương trình cụ thể (U.S. SBA, 2026). Sử dụng chính sách GPP để tạo thị trường với việc xác định các nhóm sản phẩm có hàm lượng vật liệu thu hồi và đưa ra mức hàm lượng khuyến nghị (U.S. EPA, 2026a). Đồng thời, xây dựng các khuyến nghị về tiêu chuẩn, thông số kỹ thuật và nhãn sinh thái cho mua sắm liên bang; hiện có hơn 60 tiêu chuẩn và nhãn sinh thái của khu vực tư nhân trong hơn 40 nhóm hàng hóa mua sắm (U.S. EPA, 2026b).
Hoa Kỳ ban hành hướng dẫn năm 2012 đối với các tuyên bố về khả năng tái chế, hàm lượng tái chế, khả năng phân hủy sinh học, tránh các tuyên bố môi trường chung chung hoặc thiếu căn cứ có thể gây hiểu nhầm như “xanh” hay “TTMT” (Green Guides) (FTC, 2012).
Nhật Bản
Nhật Bản ban hành Luật thúc đẩy tuần hoàn tài nguyên đối với nhựa có hiệu lực từ tháng 4/2022 nhằm thúc đẩy nguyên tắc 3R kết hợp với sử dụng nguồn tài nguyên tái tạo (MOE, Japan, 2022). Theo đó, Nhật Bản xây dựng hướng dẫn thiết kế và cơ chế chứng nhận đối với các thiết kế sản phẩm nhựa đặc biệt xuất sắc; tiêu chí xem xét bao gồm giảm sử dụng nhựa, tái sử dụng, tái chế, sử dụng nhựa tái chế và nhựa sinh học (MOE, Japan, 2026a). Các thiết kế được chứng nhận có thể được thúc đẩy thông qua mua sắm xanh và các chương trình hỗ trợ thiết bị tái chế (MOE, Japan, 2026a) (METI, Japan, 2026). Nhật Bản áp dụng thu phí đối với túi nhựa tại các cơ sở bán lẻ từ ngày 1/7/2020 (MOE, Japan, 2020).
Nhật Bản yêu cầu cơ quan nhà nước ưu tiên hàng hóa, dịch vụ TTMT trong Luật Mua sắm xanh (MOE, Japan, 2026b). Hệ thống EPR đối với bao bì được thực hiện thông qua Hiệp hội Tái chế Bao bì và Vật chứa Nhật Bản (JCPRA) (JCPRA, 2026). Nhật Bản đồng thời triển khai các chương trình hỗ trợ mô hình xã hội về tuần hoàn tài nguyên nhựa, bao gồm giảm sản phẩm nhựa sử dụng một lần, thiết kế sinh thái, tái chế và sử dụng nhựa sinh khối (MOE, Japan, 2026c).
Nhãn Eco Mark được vận hành theo hệ thống nhãn sinh thái loại I phù hợp ISO 14024; tiêu chí đối với bao bì thực phẩm, đồ uống và mỹ phẩm yêu cầu tỷ lệ nhựa tái chế tối thiểu và nhựa có nguồn gốc sinh học (Eco Mark Office, 2026).
Hàn Quốc
Hàn Quốc hạn chế sử dụng và cung cấp miễn phí một số sản phẩm nhựa dùng một lần tại các cơ sở thuộc phạm vi điều chỉnh (Republic of Korea, 2026a). Tuy nhiên, túi và ống hút nhựa phân hủy sinh học được loại khỏi phạm vi hạn chế đến ngày 31/12/2028 (MCEE, Korea, 2025). Từ năm 2026, các nhà sản xuất sử dụng từ 5.000 tấn PET/năm trở lên để sản xuất chai nước đóng chai và đồ uống không cồn phải sử dụng tối thiểu 10% nhựa tái chế (K-eco, 2026a). Doanh nghiệp thuộc diện trách nhiệm tái chế được yêu cầu tự đánh giá khả năng tái chế của bao bì, sau đó Tổng công ty Môi trường Hàn Quốc (K-eco) kiểm tra và xác nhận; bao bì được phân thành bốn mức về khả năng tái chế, trong đó bao bì khó tái chế phải thể hiện thông tin tương ứng (K-eco, 2026b). Hàn Quốc áp dụng cơ chế ghi nhãn tỷ lệ sử dụng vật liệu tái chế; một số mức tối thiểu được quy định như 10% đối với chai PET thực phẩm, 20% đối với sản phẩm điện, điện tử và 10% đối với các sản phẩm, vật chứa khác thuộc phạm vi (K-eco, 2026d).
Trong hệ thống EPR, sản phẩm và bao bì thuộc phạm vi điều chỉnh phải thực hiện nghĩa vụ tái chế, doanh nghiệp không hoàn thành nghĩa vụ tái chế phải thực hiện đóng góp tài chính (K-eco, 2026c). Đối với chai PET đạt mức khả năng tái chế tốt nhất, doanh nghiệp có thể được hoàn lại 50% khoản đóng góp tái chế (MOE, Korea, 2022).
Luật thúc đẩy mua sắm sản phẩm xanh tạo cơ sở cho việc mua sắm sản phẩm xanh của các cơ quan công quyền (Republic of Korea, 2025). Nhãn sinh thái Hàn Quốc (Korea Eco-Label) là một trong những hệ thống chứng nhận được sử dụng để thực hiện GPP (KEITI, 2026); tiêu chí nhãn sinh thái được cập nhật định kỳ theo từng nhóm sản phẩm (Republic of Korea, 2026b).
Trung Quốc
Năm 2020, Trung Quốc ban hành chính sách tăng cường kiểm soát ô nhiễm nhựa, trong đó hạn chế và từng bước loại bỏ một số sản phẩm nhựa khó phân hủy sinh học, như cấm túi nhựa siêu mỏng có độ dày dưới 0,025 mm và màng phủ nông nghiệp PE dưới 0,01 mm. Chính sách đồng thời khuyến khích sử dụng sản phẩm thay thế, thiết kế sinh thái, nhựa tái chế và nghiên cứu phát triển vật liệu thay thế (NDRC & MEE, China, 2020).
Bao bì được xác định là một trong bốn nhóm sản phẩm ưu tiên triển khai EPR; mục tiêu đến năm 2025 tỷ lệ sử dụng nguyên liệu tái chế đối với các sản phẩm trọng điểm đạt 20% và tỷ lệ thu hồi, tái chế sản phẩm sau thải bỏ bình quân đạt 50% (State Council, China, 2016); đến năm 2030 sản lượng nhựa tái chế đạt trên 19,5 triệu tấn/năm (NDRC, China, 2025).
Điểm đáng chú ý của Trung Quốc là sử dụng ưu đãi thuế trực tiếp. Đối với các sản phẩm nhựa tái chế từ chất thải nhựa đủ điều kiện, doanh nghiệp có thể được hoàn ngay 70% thuế giá trị gia tăng (STA, China, 2022a); ngoài ra, thu nhập từ một số sản phẩm thuộc diện sử dụng tổng hợp tài nguyên được tính bằng 90% khi xác định thu nhập chịu thuế (STA, China, 2022b).
Trung Quốc cũng sử dụng GPP đối với sản phẩm có nhãn môi trường, triển khai từ năm 2007 (MF&SEPA, China, 2006). Yêu cầu kỹ thuật đối với bao bì nhựa có nhãn môi trường (HJ 209-2017) quy định các yêu cầu về nguyên liệu, quá trình sản xuất, khả năng phân hủy, hàm lượng than sinh học, in ấn và ghi nhãn (MEE, China, 2017).
Một số quốc gia ASEAN
Thái Lan ưu tiên phát triển vật liệu và hóa chất sinh học trong đó có nhựa sinh học trong khuôn khổ mô hình kinh tế Sinh học - Tuần hoàn - Xanh (BCG). Ủy ban Đầu tư Thái Lan (TBOI) phân loại hoạt động sản xuất nhựa sinh học hoặc sản phẩm từ nhựa sinh học theo quy trình liên tục trong cùng một dự án vào nhóm A2, được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 8 năm; trong khi sản xuất sản phẩm từ nhựa sinh học thuộc nhóm A3, được miễn 5 năm. Các dự án còn có thể được miễn thuế nhập khẩu máy móc theo điều kiện của chương trình (TBOI, 2025). Đối với hoạt động R&D, các dự án đáp ứng ngưỡng đầu tư hoặc chi phí R&D theo quy định có thể được hưởng thêm thời gian miễn thuế thu nhập doanh nghiệp; đối với một số nhóm dự án, tổng thời gian ưu đãi có thể lên tới 13 năm (TBOI, 2025).
Thái Lan đồng thời hạn chế sản phẩm nhựa sử dụng một lần tại các khu vực nhạy cảm. Từ năm 2022, một số sản phẩm nhựa sử dụng một lần và hộp xốp bị cấm trong các vườn quốc gia (DNP, Thailand, 2022). Nhãn xanh Thái Lan (Thai Green Label) là nhãn sinh thái loại I theo ISO 14024, được sử dụng để nhận diện sản phẩm đáp ứng tiêu chí môi trường (TEI, 2024).
Philippines ban hành Luật về EPR năm 2022 đối với chất thải bao bì nhựa yêu cầu các doanh nghiệp thuộc diện chịu trách nhiệm đối với bao bì nhựa cứng hoặc mềm phải thu hồi hoặc bù trừ (recover or offset) một phần khối lượng bao bì nhựa đưa ra thị trường trong năm trước, theo lộ trình tăng dần từ 20% vào ngày 31/12/2023 lên 80% từ ngày 31/12/2028 (Republic of the Philippines, 2022).
MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Tại Việt Nam, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã tạo cơ sở pháp lý cho phát triển sản phẩm TTMT, tuy nhiên, việc phát triển các sản phẩm này vẫn gặp những rào cản nhất định. Kinh nghiệm quốc tế gợi mở hướng hoàn thiện và tăng cường tính liên kết giữa các công cụ chính sách. Trên cơ sở đó, một số khuyến nghị chính sách cho Việt Nam được đề xuất như sau:
Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý về sản phẩm nhựa TTMT. Kinh nghiệm Nhật Bản cho thấy một khung pháp lý riêng về thúc đẩy tuần hoàn tài nguyên nhựa giúp quản lý nhựa theo vòng đời từ thiết kế, sản xuất, sử dụng đến thu hồi, tái chế.
Thứ hai, xây dựng lộ trình và yêu cầu tối thiểu về hàm lượng nhựa tái chế đối với các nhóm sản phẩm, bao bì ưu tiên theo cách tiếp cận của EU và Hàn Quốc để giúp doanh nghiệp có thời gian đầu tư công nghệ và phát triển nguồn cung.
Thứ ba, áp dụng tiêu chí thiết kế sinh thái đối với các nhóm sản phẩm, bao bì ưu tiên, hướng tới giảm vật liệu, tăng khả năng tái sử dụng, phân loại, tái chế và sử dụng nhựa tái chế. Kinh nghiệm Nhật Bản và EU cho thấy thiết kế cần được coi là điểm can thiệp sớm của chính sách.
Thứ tư, hoàn thiện cơ chế ưu đãi thuế và hỗ trợ tài chính có mục tiêu đối với doanh nghiệp đầu tư, sản xuất sản phẩm nhựa TTMT tương tự Trung Quốc và Thái Lan nhưng cần gắn với tiêu chí kỹ thuật và cơ chế kiểm chứng rõ ràng, phù hợp.
Thứ năm, hoàn thiện cơ chế điều chỉnh phí EPR, theo đó mức đóng góp EPR cần phản ánh đặc tính môi trường của sản phẩm và bao bì tương tự EU, trong đó có thể xem xét hàm lượng nhựa tái chế, khả năng tái chế.
Thứ sáu, tăng cường hỗ trợ đổi mới công nghệ, R&D sản phẩm, vật liệu nhựa TTMT như ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp tương tự Thái Lan, trong đó ưu tiên công nghệ tái chế nâng cao chất lượng vật liệu, công nghệ sử dụng nhựa tái chế, vật liệu sinh học.
Thứ bảy, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn, tiêu chí kỹ thuật và nhãn sinh thái đối với các loại sản phẩm nhựa TTMT. Cần quy định phương pháp xác định, tính toán, thử nghiệm và xác minh hàm lượng nhựa tái chế cùng các đặc tính môi trường liên quan; xây dựng tiêu chí, tổ chức chứng nhận Nhãn sinh thái Việt Nam và kiểm tra việc duy trì đáp ứng tiêu chí. Kinh nghiệm EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và Thái Lan cho thấy nhãn sinh thái có thể đồng thời hỗ trợ người tiêu dùng và phục vụ GPP.
Thứ tám, tăng cường sử dụng GPP để cơ quan nhà nước ưu tiên sản phẩm nhựa đáp ứng tiêu chí môi trường, tạo thị trường cho doanh nghiệp chuyển đổi sản xuất.
Thứ chín, xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu về sản phẩm nhựa TTMT, bao gồm thông tin thống nhất về sản phẩm, doanh nghiệp, tiêu chí, chứng nhận và các đặc tính kỹ thuật - môi trường; tăng cường minh bạch thông tin thông qua ghi nhãn về thành phần vật liệu, hàm lượng nhựa tái chế, khả năng tái chế và các đặc tính môi trường khác của sản phẩm. Thông tin cần được chuẩn hóa nhằm hạn chế các tuyên bố môi trường chung chung, khó kiểm chứng hoặc gây hiểu nhầm; kết hợp mã QR hoặc các phương thức nhận diện số để thuận tiện truy xuất thông tin. Kinh nghiệm Hoa Kỳ và Hàn Quốc cho thấy yêu cầu về thông tin phải đi cùng tiêu chí và phương pháp xác minh.
Thứ mười, tăng cường truyền thông, hướng dẫn và nâng cao năng lực thực hiện chính sách về sản phẩm nhựa TTMT cho doanh nghiệp, cơ quan quản lý, cơ quan mua sắm và người tiêu dùng.
KẾT LUẬN
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy chính sách phát triển sản phẩm nhựa TTMT được xây dựng theo hệ thống công cụ liên kết trên cơ sở vòng đời sản phẩm. Do đó, bài học kinh nghiệm cho Việt Nam là cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách theo hướng tăng cường tính liên kết. Trong đó, tiêu chí là nền tảng xác định đặc tính môi trường sản phẩm; nhãn sinh thái là công cụ xác nhận; các ưu đãi tài chính và cơ chế điều chỉnh phí EPR tạo động lực kinh tế; GPP tạo cầu thị trường; hệ thống thông tin giúp doanh nghiệp, cơ quan quản lý và người tiêu dùng nhận diện và giám sát sản phẩm. Trong giai đoạn đầu, nên ưu tiên một số nhóm sản phẩm và đặc tính có khả năng xác định, đo lường và kiểm chứng rõ ràng, đặc biệt là hàm lượng nhựa tái chế, khả năng tái chế và thiết kế sản phẩm.
Tài liệu tham khảo:
1. CalRecycle (2026a). Packaging Extended Producer Responsibility. Retrieved August 30, 2026, from https://calrecycle.ca.gov/packaging/packaging-epr/
2. CalRecycle (2026b). [Archives] SB 54 Plastic Pollution Prevention and Packaging Producer Responsibility Act Permanent Regulations. Retrieved September 8, 2026, from https://calrecycle.ca.gov/laws/rulemaking/sb54regulations/
3. Chính phủ Việt Nam (2026). Nghị quyết số 66.19/2026/NQ-CP ngày 18/5/2026 về cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
4. Department of National Parks, Wildlife and Plant Conservation (DNP), Thailand. (2022). Annual Report 2022.
5. European Commission (EC) (2026a). Green Public Procurement. Retrieved August 30, 2026, from https://green-forum.ec.europa.eu/green-business/green-public-procurement_en
6. European Commission (EC) (2026b). Product Groups and Criteria. Retrieved August 30, 2026, from https://environment.ec.europa.eu/topics/circular-economy-topics/eu-ecolabel/product-groups-and-criteria_en
7. Eco Mark Office (2026). Eco Mark Product Category 140: Food, Beverage, Cosmetics and Household Product Packaging.
8. European Bioplastics (2022). What are Bioplastics? Material Types, Terminology, and Labels - An Introduction.
9. European Parliament and Council of the EU. (2010). Regulation (EC) No 66/2010 on the EU Ecolabel.
10. European Parliament and Council of the EU. (2025). Regulation (EU) 2025/40 on Packaging and Packaging Waste.
11. Federal Trade Commission (FTC). (2012). Guides for the Use of Environmental Marketing Claims (Green Guides). Retrieved September 8, 2026, from =https://www.ftc.gov/legal-library/browse/rules/green-guides
12. Japan Containers and Packaging Recycling Association (JCPRA). (2026). Recycling Process. Retrieved September 9, 2026, from https://www.jcpra.or.jp/english/process.html
13. K-eco (2026a). Plastic Recycled Material Use Obligation System. Retrieved September 10, 2026, from https://www.keco.or.kr/web/lay1/S1T183C1544/contents.do
14. K-eco (2026b). Packaging Material and Structure Evaluation. Retrieved September 10, 2026, from https://www.keco.or.kr/web/lay1/S1T183C1055/contents.do
15. K-eco (2026c). Extended Producer Responsibility (EPR). Retrieved September 10, 2026, from https://www.keco.or.kr/en/lay1/S295T386C400/contents.do
16. K-eco (2026d). Recycled Material Use Ratio Labeling. Retrieved September 10, 2026, from https://www.keco.or.kr/web/lay1/S1T183C1467/contents.do
17. Korea Environmental Industry & Technology Institute (KEITI). (2026). Korea Eco-Label. Retrieved September 10, 2026, from: https://keiti.re.kr/site/keiti/02/10203010000002018092810.jsp
18. Ministry of Climate, Energy and Environment (MCEE), Korea. (2025). Notice No. 2025-165 Exclusions from Restrictions on the Use of Disposable Products. Retrieved September 10, 2026, from https://www.law.go.kr/LSW/admRulInfoP.do?admRulSeq=2100000265298&chrClsCd=010201
19. Ministry of Ecology and Environment (MEE), China. (2017). HJ 209-2017 Technical Requirement for Environmental Labeling Products - Plastic Packaging Products. Retrieved September 12, 2026, from https://english.mee.gov.cn/Resources/standards/others1/Technical_Requirement_Labelling/201801/t20180105_429225.shtml
20. Ministry of Economy, Trade and Industry (METI), Japan. (2026). First Certification of Especially Excellent Plastic Product Designs. Retrieved 9 https://www.meti.go.jp/press/2025/02/20260210002/20260210002.html, September
21. Ministry of Finance (MF) & State Environmental Protection Administration (SEPA), China. (2006). Opinion on the Implementation of Government Procurement of Environmental Labeling Products. Retrieved September 12, 2026, from https://english.mee.gov.cn/News_service/news_release/200709/t20070930_109796.shtml
22. Ministry of Environment (MOE), Japan. (2020). Annual Report on the Environment, the Sound Material-Cycle Society and Biodiversity in Japan.
23. Ministry of Environment (MOE), Japan. (2022). Annual Report on the Environment in Japan.
24. Ministry of Environment (MOE), Japan. (2026a). Design Guidelines and Certification under the Act on Promotion of Resource Circulation for Plastics. Retrieved September 9, 2026, from https://plastic-circulation.env.go.jp/pro/seido
25. Ministry of Environment (MOE), Japan. (2026b). Green Purchasing Law and Basic Policy. Retrieved September 9, 2026, from https://www.env.go.jp/policy/hozen/green/g-law/
26. Ministry of Environment (MOE), Japan. (2026c). Support Project for Advanced Plastic Resource Circulation Social Models. Retrieved September 9, 2026, from https://www.env.go.jp/press/press_05165.html
27. Ministry of Environment (MOE), Korea. (2022). Press release: Up to 50% Refund of Contributions for Easily Recyclable Packaging.
28. NDRC & MEE, China. (2020). Opinions on Further Strengthening the Control of Plastic Pollution. No. 80. Retrieved September 12, 2026, from https://www.ndrc.gov.cn/xwdt/tzgg/202001/t20200119_1235969_ext.html
29. National Development and Reform Commission (NDRC), China. (2025). Action Plan for Promoting the Application of Recycled Materials. NDRC [2025] (No. 1681.). Retrieved September 12, 2026, from https://www.ndrc.gov.cn/xxgk/zcfb/tz/202512/t20251231_1402965.html
30. OECD. (2006). Environmental and Energy Products: The Benefits of Liberalising Trade. OECD Publishing.
31. OECD. (2007). Instrument Mixes for Environmental Policy. OECD Publishing.
32. OECD. (2025). Recommendation of the Council on the Use of Economic Instruments in Environmental Policy. OECD/LEGAL/0258.
33. Quốc hội Việt Nam (2020). Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14.
34. Republic of Korea (2025). Act on the Promotion of Purchase of Green Products. Retrieved September 10, 2026, from https://www.law.go.kr/LSW/lsInfoP.do?chrClsCd=010202&lsId=009845&lsiSeq=276711&urlMode=lsInfoP
35. Republic of Korea (2026a). Act on the Promotion of Saving and Recycling of Resources. Retrieved September 10, 2026, from https://www.law.go.kr/LSW/lsInfoP.do?ancNo=21370&ancYd=20260219&efYd=20260820&lsiSeq=283445
36. Republic of Korea (2026b). Notice No. 2026-183. Retrieved September 10, 2026, from https://www.law.go.kr/LSW/admRulInfoP.do?admRulSeq=2100000282526&chrClsCd=010201
37. Republic of the Philippines (2022). Republic Act No. 11898: Extended Producer Responsibility Act of 2022. Retrieved September 13, 2026, from https://lawphil.net/statutes/repacts/ra2022/ra_11898_2022.html
38. Soomro, S.S. et al. (2025). Quantification of Recycled Content in Plastics: A Review. Resources, Conservation and Recycling, 221 (2025) 108426.
39. State Taxation Administration (STA), China. (2022a). VAT Immediate Refund Policy for Resource Comprehensive Utilization Products. Retrieved September 12, 2026, from https://www.chinatax.gov.cn/chinatax/c102166/c5178970/content.html
40. State Taxation Administration (STA), China. (2022b). Policy on the Calculation of Income from Comprehensive Utilization of Resources. Retrieved September 12, 2026, from https://www.chinatax.gov.cn/chinatax/c102166/c5178971/content.html
41. State Council, China. (2016). Plan for Promoting the Extended Producer Responsibility System. Retrieved September 12, 2026, from https://app.www.gov.cn/govdata/gov/201701/03/396279/article.html
42. Thailand Board of Investme Korea Environmental Industry & Technology Institute nt (TBOI). (2025). Investment Promotion Guide 2025. Retrieved September 13, 2026, from https://www.boi.go.th/
43. Thailand Environment Institute (TEI). (2024). Thai Green Label. Retrieved September 13, 2026, from https://greenlabel.tei.or.th/en/about-green-label/
44. U.S. Environmental Protection Agency (U.S. EPA). (2022). Framework for the Assessment of Environmental Performance Standards and Ecolabels for Federal Purchasing. Retrieved September 7, 2026, from https://www.epa.gov/greenerproducts/greener-products-z-list
45. U.S. Environmental Protection Agency (U.S. EPA). (2026a). Comprehensive Procurement Guideline (CPG) Program. Retrieved September 8, 2026, from https://www.epa.gov/smm/comprehensive-procurement-guideline-cpg-program
46. U.S. Environmental Protection Agency (U.S. EPA). (2026b). Recommendations for Specifications, Standards and Ecolabels for Federal Purchasing. Retrieved September 8, 2026, from https://www.epa.gov/greenerproducts/recommendations-specifications-standards-and-ecolabels-federal-purchasing
47. U.S. Food and Drug Administration (U.S. FDA). (2026). Recycled Plastics for Food Contact Applications. Retrieved 9 7, 2026, from https://hfpappexternal.fda.gov/scripts/fdcc/index.cfm?set=RecycledPlastics
48. U.S. Small Business Administration (U.S. SBA). (2026). About SBIR and STTR. Retrieved September 8, 2026, from https://www.sbir.gov/about
49. Watkins, E. et al. (2019). Policy Approaches to Incentivise Sustainable Plastic Design. OECD Environment Working Papers, No. 149, 62.
|
Ngày nhận bài: 30/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 22/9/2026; Ngày duyệt đăng: 3/10/2026 |
Các tin khác
Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP
Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam
Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi
Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách
Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn
Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị