Đảm bảo an ninh năng lượng thông qua dự trữ xăng dầu quốc gia tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường thế giới biến động

Nghiên cứu - Trao đổi 17:18 | 05/10/2026
Dự trữ năng lượng, đặc biệt là dự trữ xăng dầu và dầu thô, đóng vai trò như một tấm đệm giúp quốc gia ứng phó với các cú sốc nguồn cung, biến động giá cả và rủi ro địa chính trị trên thị trường quốc tế.

ThS. Trần Nhật Ánh

Chuyên viên Cục Dự trữ Nhà nước

Email: [email protected]

Tóm tắt

Trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, thị trường thế giới có nhiều biến động, an ninh năng lượng nói chung và an ninh dự trữ xăng dầu nói riêng đang trở thành vấn đề cấp thiết đối với Việt Nam. Nghiên cứu phân tích thực trạng dự trữ xăng dầu, dầu thô quốc gia của Việt Nam. Kết quả cho thấy, mặc dù Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, quy hoạch nhằm nâng quy mô dự trữ lên khoảng 90 ngày nhập ròng vào năm 2030 theo tiêu chuẩn khuyến nghị của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), song quy mô dự trữ quốc gia hiện nay vẫn còn khá khiêm tốn (khoảng 7 ngày sử dụng, tương đương 0,12% GDP), thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới, trong khi mức độ phụ thuộc vào một số thị trường nhập khẩu nhất định vẫn còn cao. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp, hàm ý chính sách nhằm hoàn thiện thể chế, đẩy nhanh đầu tư hạ tầng kho chứa, đa dạng hóa nguồn cung và nâng cao năng lực ứng phó với biến động của thị trường năng lượng thế giới.

Từ khóa: Dự trữ xăng dầu, an ninh năng lượng, Việt Nam, dự trữ quốc gia

Abstract

In the context of an increasingly market-oriented economy and deeper international integration, with considerable fluctuations in global markets, energy security in general and petroleum reserve security in particular are becoming urgent issues for Viet Nam. The study analyzes the current situation of Viet Nam’s national petroleum and crude oil reserves. The results show that, although the Government has issued various policies and plans to increase the scale of national reserves to approximately 90 days of net imports by 2030, in accordance with the standard recommended by the International Energy Agency (IEA), the current scale of national reserves remains relatively modest, at approximately seven days of consumption, equivalent to 0.12% of GDP. This level is significantly lower than that of countries in the region and around the world, while the degree of dependence on certain import markets remains high. On this basis, the study proposes several solutions and policy implications to improve the institutional framework, accelerate investment in storage infrastructure, diversify supply sources, and enhance the capacity to respond to fluctuations in the global energy market.

Keywords: Petroleum reserves, energy security, Viet Nam, national reserves

GIỚI THIỆU

Năng lượng là đầu vào thiết yếu cho mọi hoạt động sản xuất và đời sống, do đó bảo đảm an ninh năng lượng luôn là ưu tiên hàng đầu của mọi quốc gia. Theo cách tiếp cận phổ biến hiện nay, an ninh năng lượng được hiểu là trạng thái quốc gia có thể tiếp cận nguồn năng lượng một cách đầy đủ, ổn định, với giá cả hợp lý và theo hướng bền vững, tương tự khái niệm an ninh lương thực mà Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) đã đưa ra đối với lương thực. Trong đó, dự trữ năng lượng, đặc biệt là dự trữ xăng dầu và dầu thô, đóng vai trò như một tấm đệm giúp quốc gia ứng phó với các cú sốc nguồn cung, biến động giá cả và rủi ro địa chính trị trên thị trường quốc tế.

Ngày 20/8/2025, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, thay thế Nghị quyết số 55-NQ/TW ban hành năm 2020. Nghị quyết số 70-NQ/TW khẳng định năng lượng phải đi trước một bước để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đồng thời đặt mục tiêu đến năm 2030 nâng mức dự trữ xăng dầu quốc gia lên khoảng 90 ngày nhập ròng, tiệm cận tiêu chuẩn khuyến nghị của IEA (Bộ Chính trị, 2025).

Trong giai đoạn 2023-2025, thị trường xăng dầu, dầu thô thế giới liên tục biến động do tác động của chính sách sản lượng của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ và đồng minh (OPEC+), các yếu tố địa chính trị và biến động tỷ giá, trong khi nhu cầu tiêu thụ trong nước của Việt Nam tiếp tục gia tăng. Việc vẫn phải nhập khẩu một tỷ trọng đáng kể xăng dầu và dầu thô phục vụ sản xuất, tiêu dùng, năng lực dự trữ còn mỏng khiến Việt Nam dễ chịu tác động bất lợi mỗi khi nguồn cung hoặc giá cả thế giới biến động mạnh. Thực tế đó đòi hỏi phải nhìn nhận, đánh giá lại một cách hệ thống thực trạng dự trữ xăng dầu quốc gia trong giai đoạn vừa qua.

Diễn biến gần đây trên thị trường dầu mỏ thế giới càng khẳng định tính cấp thiết của vấn đề. Đầu năm 2026, xung đột tại Trung Đông leo thang khiến vận tải dầu mỏ qua eo biển Hormuz bị gián đoạn nghiêm trọng, đẩy giá dầu thế giới tăng mạnh và buộc các nước thành viên IEA phải phối hợp xả kho dự trữ chiến lược để ổn định thị trường (VnEconomy, 2026). Đây là minh chứng thời sự rằng nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu có thể phát sinh bất kỳ lúc nào.

Xuất phát từ bối cảnh nêu trên, nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng dự trữ xăng dầu, dầu thô quốc gia của Việt Nam trong giai đoạn 2023-2025, đánh giá những kết quả đạt được và hạn chế còn tồn tại, từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia.

THỰC TRẠNG DỰ TRỮ XĂNG DẦU, DẦU THÔ QUỐC GIA

Khung khổ pháp lý và quy hoạch phát triển hệ thống dự trữ

Kể từ khi ban hành Quy hoạch phát triển hệ thống dự trữ dầu thô và các sản phẩm xăng dầu của Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 (Thủ tướng Chính phủ, 2017), Việt Nam đã xác lập lộ trình dự trữ theo 2 giai đoạn: giai đoạn 2017-2025 đạt khoảng 20 ngày nhập ròng (gồm 6 ngày dự trữ dầu thô và 14 ngày dự trữ sản phẩm xăng dầu), tầm nhìn đến năm 2035 nâng dần quy mô dự trữ thương mại tối thiểu lên 2,5-3 triệu tấn.

Tiếp đó, Quy hoạch hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu, khí đốt quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Thủ tướng Chính phủ, 2023) đã quy hoạch hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu, khí đốt quốc gia đặt mục tiêu xây dựng thêm hệ thống kho chứa riêng cho dự trữ quốc gia, nâng năng lực dự trữ đáp ứng khoảng 15-20 ngày nhập khẩu ròng vào năm 2030 và 25-30 ngày sau năm 2030; đồng thời đặt mục tiêu dài hạn đưa tổng dự trữ dầu thô và sản phẩm xăng dầu cả nước (bao gồm dự trữ sản xuất, thương mại và quốc gia) đạt 75-80 ngày, phấn đấu đạt 90 ngày nhập ròng, tương đương tiêu chí khuyến nghị của IEA (Thủ tướng Chính phủ, 2023).

Bước ngoặt quan trọng nhất là Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị, chính thức đặt mục tiêu đến năm 2030 dự trữ xăng dầu đạt khoảng 90 ngày nhập ròng, đồng thời yêu cầu xây dựng hệ thống kho dự trữ dầu thô, xăng dầu cả trên đất liền và trên biển, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và an ninh năng lượng quốc gia (Anh Nguyễn, 2026). Trên tinh thần của Nghị quyết số 70-NQ/TW, Quốc hội khóa XV cũng đã thông qua nghị quyết về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026-2030, có hiệu lực từ ngày 1/3/2026. Đồng thời, Chính phủ đang phối hợp hoàn thiện chính sách thực thi Luật Dự trữ quốc gia (sửa đổi năm 2025), làm cơ sở pháp lý đẩy nhanh xây dựng hệ thống kho dự trữ theo quy hoạch.

Cơ cấu và quy mô dự trữ xăng dầu hiện nay

Theo Bộ Công Thương, nguồn dự trữ xăng dầu của Việt Nam hiện được hình thành từ 3 lớp: (i) Dự trữ sản xuất tại các nhà máy lọc dầu, duy trì tối thiểu 15 ngày sản xuất đối với dầu thô và 10 ngày đối với sản phẩm xăng dầu trong điều kiện vận hành bình thường; (ii) Dự trữ thương mại của các doanh nghiệp đầu mối, ổn định ở mức tối thiểu 30 ngày nhu cầu tiêu thụ; (iii) Dự trữ quốc gia do Nhà nước quản lý, chỉ được huy động khi thực sự cấp bách (Bảng 1).

Bảng 1: Mục tiêu quy mô dự trữ xăng dầu, dầu thô của Việt Nam qua các giai đoạn quy hoạch

Loại hình dự trữ

Giai đoạn 2017-2025

(Quyết định số 1030/QĐ-TTg)

Đến năm 2030

(Quyết định số 861/QĐ-TTg)

Mục tiêu dài hạn

(Nghị quyết số 70-NQ/TW)

Dự trữ sản xuất (tại nhà máy lọc dầu)

6 ngày dầu thô + 14 ngày sản phẩm

15 ngày SX dầu thô, 10 ngày SX sản phẩm

Duy trì ổn định, liên tục

Dự trữ thương mại (doanh nghiệp đầu mối)

Tối thiểu 30 ngày nhu cầu (khoảng 35 ngày nhập ròng)

Tối thiểu 30 ngày nhu cầu; nâng dần lên 2,5-3 triệu tấn

Góp phần vào tổng 90 ngày

Dự trữ quốc gia (Nhà nước quản lý)

Chưa quy định cụ thể

15-20 ngày nhập khẩu ròng

90 ngày nhập ròng vào năm 2030

Tổng dự trữ toàn hệ thống

20-35 ngày nhập ròng

75-80 ngày, phấn đấu 90 ngày

90 ngày nhập ròng (chuẩn IEA)

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

So với mục tiêu đề ra, thực tế triển khai còn khá chậm. Riêng nguồn dự trữ quốc gia hiện nay mới chỉ đáp ứng khoảng 7 ngày sử dụng (Phương Dung – Thi Hà, 2026), thấp hơn nhiều so với mục tiêu 15-20 ngày đến năm 2030 theo Quyết định 861/QĐ-TTg và càng cách xa mục tiêu 90 ngày theo Nghị quyết 70-NQ/TW. Về quy mô tài chính, dự trữ quốc gia năm 2025 mới đạt khoảng 0,12% GDP, trong khi mục tiêu đến năm 2030 là 0,8-1% GDP (Anh Nguyễn, 2026).

Năng lực sản xuất trong nước và mức độ phụ thuộc nhập khẩu

Về năng lực sản xuất trong nước, Việt Nam hiện có hai nhà máy lọc dầu chủ lực: Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, công suất thiết kế 6,5 triệu tấn dầu thô/năm, đi vào vận hành từ năm 2009 và Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn, công suất thiết kế 10 triệu tấn dầu thô/năm, vận hành thương mại từ năm 2018 (Nguyên Hà, 2018; Minh Sỹ, 2017). Hai nhà máy này hiện đáp ứng khoảng 68%-90% nhu cầu tiêu thụ xăng dầu trong nước tùy thời điểm, phần còn lại phải nhập khẩu (CafeF, 2026; Nguyên Hà, 2018).

Đáng chú ý, nguồn nguyên liệu dầu thô đầu vào cho 2 nhà máy lọc dầu trong nước vẫn phụ thuộc lớn vào chuỗi cung ứng toàn cầu: Nghi Sơn nhập khoảng 70-80% dầu thô từ Kuwait, còn Dung Quất nhập khoảng 30-35% từ khu vực Tây Phi, Địa Trung Hải, Mỹ và một phần Trung Đông. Nếu Việt Nam muốn đạt mục tiêu dự trữ tương đương 90 ngày nhập khẩu theo khuyến nghị của IEA, ước tính cần dự trữ khoảng 2,4-2,5 triệu tấn xăng dầu, tương đương khoảng 1,7 tỷ USD tính theo giá nhập khẩu năm 2025 (CafeF, 2026).

Bảng 2: Nhập khẩu dầu thô và xăng dầu thành phẩm của Việt Nam các năm 2023-2025

Năm 2023

Năm 2024

Năm 2025

Số lượng (nghìn tấn)

Kim ngạch (triệu USD)

Tỷ trọng (%)

Số lượng (nghìn tấn)

Kim ngạch (triệu USD)

Tỷ trọng (%)

Số lượng (nghìn tấn)

Kim ngạch (triệu USD)

Tỷ trọng (%)

Dầu thô

11.201

7.080

2,2

13.441

8.115

2,1

14.153

7.743

1,7

Xăng dầu thành phẩm

10.058

8.366

2,6

10.420

7.984

2,1

9.958

6.820

1,5

Nguồn: Bộ Công Thương (2024-2026)

Số liệu Bảng 2 phản ánh 2 xu hướng đáng chú ý trong giai đoạn 2023-2025. Đối với dầu thô, khối lượng nhập khẩu liên tục tăng, từ 11.201 nghìn tấn (năm 2023) lên 14.153 nghìn tấn (năm 2025), trong khi đó kim ngạch tăng lên 8.115 triệu USD năm 2024 rồi giảm còn 7.743 triệu USD năm 2025, chủ yếu do giá dầu thô thế giới hạ nhiệt trong phần lớn năm 2025. Đối với xăng dầu thành phẩm, cả khối lượng và kim ngạch nhập khẩu đều có xu hướng giảm dần sau khi đạt đỉnh năm 2024 (10.420 nghìn tấn, 7.984 triệu USD), xuống còn 9.958 nghìn tấn và 6.820 triệu USD năm 2025. Đồng thời, tỷ trọng của cả 2 nhóm hàng này trong tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước đều giảm dần qua các năm (dầu thô từ 2,2% xuống 1,7%; xăng dầu thành phẩm từ 2,6% xuống 1,5%), hàm ý quy mô nhập khẩu hàng hóa nói chung của Việt Nam tăng nhanh hơn tốc độ tăng nhập khẩu xăng dầu, dầu thô.

Riêng đối với dầu thô phục vụ chế biến, năm 2024 Việt Nam nhập khẩu khoảng 11,7 triệu tấn từ Kuwait (kim ngạch xấp xỉ 7 tỷ USD, tăng khoảng 30% về lượng so với năm trước), tương đương khoảng 87% tổng lượng dầu thô nhập khẩu của cả nước trong năm; mức độ tập trung vào một thị trường cung ứng duy nhất như vậy là rất cao.

Xét theo cơ cấu thị trường cung ứng xăng dầu thành phẩm, giai đoạn 2023-2025 có sự dịch chuyển đáng kể giữa các đối tác. Năm 2023, Hàn Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất với 3.920,1 nghìn tấn (3.428,4 triệu USD), tiếp đến là Singapore (2.171,5 nghìn tấn), Malaysia (1.945,0 nghìn tấn), Thái Lan (1.007,1 nghìn tấn) và Trung Quốc (960,6 nghìn tấn), trong khi Nhật Bản chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ (29,5 nghìn tấn) (Bộ Công Thương, 2024).

Bước sang năm 2024, xu hướng có sự đảo chiều khi Hàn Quốc, vốn là thị trường dẫn đầu nhiều năm liền, giảm mạnh 18,5% về lượng và 27,5% về kim ngạch, nhường vị trí dẫn đầu cho Singapore (tăng thêm 33,5% về lượng, đạt 2.902,6 nghìn tấn); Malaysia và Trung Quốc tiếp tục tăng nhẹ, trong khi Thái Lan giảm tiếp 15,2% về lượng (Bộ Công Thương, 2025). Đến năm 2025, Singapore chính thức củng cố vị trí thị trường cung ứng xăng dầu thành phẩm lớn nhất của Việt Nam, đạt 3.358 nghìn tấn (2.341,4 triệu USD, tương đương khoảng 34% tổng lượng nhập khẩu xăng dầu cả nước), trong khi Hàn Quốc lùi xuống vị trí thứ hai (2.756 nghìn tấn, giảm 13,7%). Thái Lan giảm mạnh nhất trong nhóm (giảm 49,0% về lượng, giảm 51,7% về kim ngạch), gần như bị thu hẹp vai trò nhà cung cấp; ngược lại, Trung Quốc tiếp tục xu hướng tăng (tăng 28,7% về lượng), vươn lên vị trí thứ ba (Bộ Công Thương, 2026).

Sự vươn lên của Singapore phần lớn bắt nguồn từ vị thế trung tâm lọc dầu, pha trộn và trung chuyển xăng dầu hàng đầu châu Á, thường được ví như “Houston của châu Á”. Nhờ hệ thống cảng biển, kho chứa và logistics hiện đại, Singapore có thể linh hoạt điều tiết nguồn cung cho các thị trường lân cận mỗi khi chuỗi cung ứng toàn cầu biến động. Sự phụ thuộc ngày càng lớn vào một trung tâm trung chuyển khu vực duy nhất đối với nguồn cung xăng dầu thành phẩm, cùng với sự phụ thuộc vào Kuwait đối với dầu thô đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đa dạng hóa nguồn cung để giảm rủi ro gián đoạn chuỗi cung ứng.

So sánh quốc tế về quy mô dự trữ dầu chiến lược

Bảng 3: So sánh quy mô dự trữ dầu chiến lược của một số quốc gia

Quốc gia/Tổ chức

Quy mô/số ngày dự trữ

tương đương

Ghi chú

Trung Quốc

Khoảng 1,4 tỷ thùng (lớn nhất thế giới)

Lớn hơn tổng dự trữ của Mỹ, Nhật Bản, EU (OECD), Saudi Arabia, Hàn Quốc, Iran, UAE và Ấn Độ cộng lại

Phần Lan

292 ngày (chuẩn IEA)

Cao nhất trong nhóm nước thành viên IEA

Nhật Bản

254 ngày tiêu thụ nội địa (214 ngày chuẩn IEA)

Xây dựng luật dự trữ dầu mỏ riêng từ năm 1975, sau cú sốc dầu mỏ

Hàn Quốc

200 ngày

-

Anh

124 ngày

-

Tây Ban Nha

98 ngày

-

Việt Nam

Dự trữ quốc gia khoảng 7 ngày; tổng hệ thống ước 20-35 ngày

Mục tiêu đến 2030: 90 ngày nhập ròng (NQ 70-NQ/TW); Việt Nam chưa là thành viên IEA

Bình quân các nước IEA

141 ngày

-

Chuẩn tối thiểu của IEA

90 ngày nhập ròng

Áp dụng bắt buộc với các nước thành viên

Nguồn: Tổng hợp từ VnEconomy (2026); Ngọc Trang (2026); Phương Dung - Thi Hà (2026).

Số liệu ở Bảng 3 cho thấy, quy mô dự trữ hiện tại của Việt Nam còn cách khá xa so với các nước phát triển, thậm chí thấp hơn cả tiêu chuẩn tối thiểu mà IEA khuyến nghị. Nước ta hiện chưa phải là thành viên IEA nên không bắt buộc tuân thủ quy định dự trữ 90 ngày, tuy nhiên việc chủ động hướng theo chuẩn mực này vẫn là cần thiết khi nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu và phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn cung năng lượng nhập khẩu.

Những vấn đề đặt ra

Thứ nhất, tốc độ đầu tư hạ tầng kho dự trữ còn chậm so với quy hoạch. Quy mô dự trữ quốc gia đạt 0,12% GDP năm 2025 được đánh giá là khá khiêm tốn so với mục tiêu 0,8%-1% GDP vào năm 2030 (Anh Nguyễn, 2026), đòi hỏi phải có sự bứt phá mạnh mẽ trong năm năm tới.

Thứ hai, nguồn vốn đầu tư công cho dự trữ quốc gia còn hạn hẹp, trong khi việc huy động nguồn lực xã hội hóa dù đã được đề cập trong chủ trương chính sách nhưng vẫn còn thiếu khung pháp lý đầy đủ để triển khai trên diện rộng.

Thứ ba, cơ cấu nguồn nhập khẩu dầu thô và xăng dầu thành phẩm còn thiếu đa dạng, dầu thô phụ thuộc lớn vào Kuwait và xăng dầu thành phẩm phụ thuộc lớn vào Singapore làm gia tăng rủi ro khi các thị trường này gặp biến động hoặc gián đoạn.

Thứ tư, công tác dự báo, cảnh báo sớm biến động thị trường quốc tế và truyền thông, ổn định tâm lý thị trường trong nước còn hạn chế; khi thị trường xuất hiện tin đồn hoặc lo ngại về nguy cơ thiếu hụt nguồn cung, tâm lý đổ xô mua tích trữ trong dân cư có thể dễ dàng xảy ra, gây xáo trộn cục bộ ngay cả khi nguồn cung vật lý chưa thực sự thiếu hụt.

Thứ năm, năng lực lọc hóa dầu trong nước, dù đã có bước phát triển đáng kể qua 2 nhà máy Dung Quất và Nghi Sơn, vẫn chưa đủ đáp ứng toàn bộ nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng của nền kinh tế, khiến Việt Nam thường xuyên ở trạng thái nhập siêu xăng dầu.

MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

Một là, cần khẩn trương hoàn thiện khung khổ pháp lý về dự trữ năng lượng. Trên cơ sở Luật Dự trữ quốc gia (sửa đổi năm 2025), Nghị quyết số 70-NQ/TW và các quy hoạch có liên quan, cần tiếp tục cụ thể hóa các quy định về quản lý, vận hành và sử dụng dự trữ xăng dầu quốc gia. Bộ Công Thương cần phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan quy định rõ điều kiện, thẩm quyền, trình tự nhập kho, xuất kho và bổ sung lượng dự trữ sau khi sử dụng. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa 3 lớp dự trữ gồm dự trữ sản xuất tại các nhà máy lọc dầu, dự trữ thương mại của doanh nghiệp đầu mối và dự trữ quốc gia do Nhà nước quản lý.

Hai là, đẩy nhanh tiến độ đầu tư và hiện đại hóa hệ thống kho dự trữ xăng dầu quốc gia. Cần rà soát tiến độ các dự án kho chứa trong Quy hoạch tại Quyết định số 861/QĐ-TTg, xác định rõ danh mục ưu tiên, nguồn vốn, thời hạn và trách nhiệm thực hiện. Hệ thống kho cần được bố trí hợp lý tại các vùng kinh tế trọng điểm, gần cảng nhập khẩu, nhà máy lọc dầu và trung tâm tiêu thụ lớn để thuận lợi cho tiếp nhận và phân phối khi có sự cố. Bên cạnh mở rộng dung tích, đầu tư kho dự trữ cần gắn với hiện đại hóa công nghệ quản lý tồn kho, kiểm soát chất lượng, phòng cháy chữa cháy và bảo vệ môi trường. Như vậy, mục tiêu không chỉ là tăng lượng dự trữ mà còn phải bảo đảm khả năng huy động nhanh và hiệu quả khi cần thiết.

Ba là, thúc đẩy xã hội hóa đầu tư cơ sở hạ tầng dự trữ và logistics xăng dầu. Cần hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm thu hút doanh nghiệp tham gia đầu tư, xây dựng và vận hành kho chứa theo các hình thức phù hợp. Nhà nước có thể quy định các tiêu chuẩn về dung tích, chất lượng, an toàn và khả năng huy động, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp khai thác hợp lý phần công suất thương mại. Tuy nhiên, dự trữ chiến lược vẫn cần được đặt dưới sự quản lý và điều phối của Nhà nước. Cần phân định rõ dung tích dành cho dự trữ quốc gia, dự trữ bắt buộc và hoạt động kinh doanh thương mại, kèm theo cơ chế kiểm tra thường xuyên.

Bốn là, đa dạng hóa nguồn nhập khẩu dầu thô và xăng dầu thành phẩm nhằm giảm rủi ro tập trung nguồn cung. Việt Nam cần mở rộng hợp tác với các nhà cung cấp tại Đông Nam Á, Trung Đông, châu Mỹ và các khu vực khác phù hợp với yêu cầu kỹ thuật của hệ thống lọc dầu trong nước. Các doanh nghiệp đầu mối cần xây dựng danh mục nhà cung cấp thay thế, đồng thời đa dạng hóa tuyến vận tải, cảng tiếp nhận và hình thức hợp đồng. Khi điều kiện thị trường thuận lợi, có thể chủ động bổ sung dự trữ để giảm tác động của các đợt tăng giá hoặc đứt gãy nguồn cung bất thường.

Năm là, nâng cao năng lực lọc hóa dầu trong nước và khả năng tự chủ nguồn cung. Cần tiếp tục nâng cấp, mở rộng công suất và nâng cao hiệu quả vận hành các cơ sở hiện hữu, đồng thời bảo đảm nguồn dầu thô đầu vào ổn định. Đặc biệt, cần nâng cao khả năng kỹ thuật của các nhà máy trong việc tiếp nhận và xử lý nhiều loại dầu thô từ các thị trường khác nhau, qua đó hỗ trợ mục tiêu đa dạng hóa nguồn nhập khẩu. Đối với các dự án lọc hóa dầu mới, cần đánh giá thận trọng hiệu quả kinh tế, nguồn nguyên liệu, yêu cầu môi trường và xu hướng chuyển dịch năng lượng.

Sáu là, nâng cao năng lực dự báo, điều hành thị trường và truyền thông về nguồn cung xăng dầu. Cơ quan quản lý cần xây dựng hệ thống theo dõi thường xuyên các yếu tố có thể tác động đến nguồn cung như giá dầu thế giới, chính sách sản lượng của các nước xuất khẩu lớn, vận tải biển, tồn kho quốc tế, tỷ giá và các rủi ro địa chính trị. Trên cơ sở thông tin cập nhật, có thể chủ động lựa chọn thời điểm bổ sung dự trữ, điều chỉnh kế hoạch nhập khẩu hoặc chuẩn bị phương án huy động nguồn dự phòng. Bên cạnh đó, công tác điều hành giá và sử dụng các công cụ bình ổn cần linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường nhưng vẫn bảo đảm nguồn cung cho nền kinh tế. Công tác truyền thông cũng phải kịp thời và minh bạch, nhất là khi xuất hiện thông tin về nguy cơ thiếu hụt.

Bảy là, tăng cường hợp tác khu vực và quốc tế về an ninh năng lượng. Trong điều kiện chuỗi cung ứng xăng dầu mang tính toàn cầu, Việt Nam cần tăng cường trao đổi thông tin và phối hợp với các quốc gia ASEAN cũng như các đối tác năng lượng quan trọng về tình hình cung - cầu, tồn kho, giá cả và các nguy cơ gián đoạn nguồn cung. Đồng thời, có thể nghiên cứu các cơ chế hỗ trợ lẫn nhau trong trường hợp xảy ra khủng hoảng năng lượng khu vực. Việt Nam cũng cần tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế, đặc biệt là IEA, nhằm tiếp thu kinh nghiệm về xác định mức dự trữ tối ưu, quản lý kho chiến lược, luân chuyển hàng hóa và cơ chế xả dự trữ khi thị trường xảy ra biến động lớn.

Tám là, cần xây dựng lộ trình dài hạn cho hệ thống dự trữ xăng dầu trên cơ sở tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của quốc tế. Đối với Việt Nam, mục tiêu khoảng 90 ngày nhập ròng vào năm 2030 cần được cụ thể hóa thành các mốc phù hợp với khả năng tài chính, tiến độ xây dựng kho và nhu cầu tiêu thụ. Việc triển khai theo lộ trình sẽ giúp chuyển từ tư duy ứng phó bị động sang chủ động quản trị rủi ro, qua đó phát huy vai trò của dự trữ xăng dầu như một “tấm đệm” bảo vệ nền kinh tế trước các cú sốc năng lượng.

Tài liệu tham khảo:

1. Anh Nguyễn (2026). Giải pháp hiện thực hóa mục tiêu xây dựng kho dự trữ xăng dầu quốc gia. https://www.vietnamplus.vn/giai-phap-hien-thuc-hoa-muc-tieu-xay-dung-kho-du-tru-xang-dau-quoc-gia-post1106638.vnp

2. Bộ Chính trị (2020). Nghị quyết số 55-NQ/TW về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

3. Bộ Công Thương (2024-2026). Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam các năm, năm 2023, 2024, 2025. Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương.

4. CafeF (2026). Thủ tướng yêu cầu nghiên cứu phương án nâng dự trữ xăng dầu lên 90 ngày nhập khẩu: Việt Nam cần trữ bao nhiêu? https://cafef.vn/thu-tuong-yeu-cau-nghien-cuu-phuong-an-nang-du-tru-xang-dau-len-90-ngay-nhap-khau-viet-nam-can-tru-bao-nhieu-188260314080600067.chn

5. Nguyên Hà (2018). Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn chính thức vận hành thương mại. https://tapchicongthuong.vn/nha-may-loc-hoa-dau-nghi-son-chinh-thuc-van-hanh-thuong-mai-58670.htm

6. Minh Sỹ (2017). Cân đối cung cầu xăng dầu thị trường Việt Nam. https://tapchicongthuong.vn/can-doi-cung-cau-xang-dau-thi-truong-viet-nam-48199.htm

7. Ngọc Trang (2026). Dự trữ dầu chiến lược của Nhật Bản đối mặt thử thách lớn nhất trong nhiều năm. https://vneconomy.vn/du-tru-dau-chien-luoc-cua-nhat-ban-doi-mat-thu-thach-lon-nhat-trong-nhieu-nam.htm

8. Phương Dung - Thi Hà (2026). Việt Nam chưa phải dùng nguồn xăng dầu dự trữ quốc gia. https://vnexpress.net/viet-nam-chua-phai-dung-nguon-xang-dau-du-tru-quoc-gia-5048669.html

9. Thủ tướng Chính phủ (2017). Quyết định số 1030/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống dự trữ dầu thô và các sản phẩm xăng dầu của Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035.

10. Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 861/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu, khí đốt quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

10. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 768/QĐ-TTg về Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

11. VnEconomy (2026). Dự trữ dầu của Trung Quốc lớn hơn tổng dự trữ của Mỹ, Nhật Bản và nhiều nước lớn. https://vneconomy.vn/du-tru-dau-cua-trung-quoc-lon-hon-tong-du-tru-cua-my-nhat-ban-va-nhieu-nuoc-lon.htm

Ngày nhận bài: 8/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 28/9/2026; Ngày duyệt đăng: 2/10/2026

Các tin khác

Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tại Việt Nam, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về tín dụng xanh, quản lý rủi ro môi trường, xã hội và quản trị ngân hàng nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện môi trường, xã hội và quản trị. Các quy định này góp phần thúc đẩy tín dụng xanh, nâng cao tính minh bạch, cải thiện quản trị và tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế của các ngân hàng thương mại.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt, sự phát triển kinh tế du lịch thực chất không chỉ đo lường bằng lượng khách hay doanh thu tổng thể, mà được quyết định bởi khả năng chuyển hóa các dòng chi tiêu thành thu nhập, việc làm và nâng cao năng lực kinh doanh tại chỗ.
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Qua phân tích chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại công ty MEDIA, nhóm tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực của Công ty trong thời gian tới.
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh là yêu cầu khách quan đối với các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, nhằm hướng tới giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp thương mại điện tử. Hai chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của chiến lược quản trị quan hệ khách hàng là lòng trung thành thương hiệu và giá trị vòng đời khách hàng.
Kinh tế tuần hoàn trong xử lý phụ phẩm nông nghiệp: Kinh nghiệm từ mô hình Biomass Town của Nhật Bản

Kinh tế tuần hoàn trong xử lý phụ phẩm nông nghiệp: Kinh nghiệm từ mô hình Biomass Town của Nhật Bản

Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi theo hướng phát thải thấp nhằm đồng thời thực hiện cam kết đưa phát thải ròng về 0 vào năm 2050 và đáp ứng những tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe từ các thị trường xuất khẩu lớn.
Quản trị phát triển kỹ năng số nhằm nâng cao năng suất lao động trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Quản trị phát triển kỹ năng số nhằm nâng cao năng suất lao động trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Dệt may là ngành xuất khẩu và tạo việc làm quan trọng của Việt Nam, nhưng lợi thế dựa vào lao động dồi dào, gia công và chi phí thấp đang chịu sức ép từ tăng tiền lương, giao hàng nhanh, truy xuất nguồn gốc, sản xuất xanh và tự động hóa.
Ứng dụng Blockchain vào chuỗi cung ứng trong ngành thực phẩm tại Việt Nam

Ứng dụng Blockchain vào chuỗi cung ứng trong ngành thực phẩm tại Việt Nam

Trên thế giới, công nghệ này đã được ứng dụng trong các nền tảng truy xuất thực phẩm. Tại Việt Nam, blockchain cũng ngày càng được quan tâm trong quản lý và truy xuất nguồn gốc nông sản.
Trí tuệ nhân tạo tạo sinh và triển vọng chuyển đổi thị trường lao động Việt Nam

Trí tuệ nhân tạo tạo sinh và triển vọng chuyển đổi thị trường lao động Việt Nam

Khác với các làn sóng tự động hóa trước đây vốn tập trung vào các nhiệm vụ thủ công, lặp lại, GenAI có khả năng hỗ trợ hoặc thay thế các nhiệm vụ nhận thức và xử lý thông tin, vốn là nhóm nhiệm vụ gắn liền với lao động văn phòng và trình độ cao.
Thực trạng quản lý các cơ sở giáo dục nghề nghiệp của chính quyền cấp tỉnh Nghệ An trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp

Thực trạng quản lý các cơ sở giáo dục nghề nghiệp của chính quyền cấp tỉnh Nghệ An trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp

Giáo dục nghề nghiệp giữ vị trí đặc biệt trong hệ thống phát triển nguồn nhân lực bởi đây là khu vực trực tiếp chuyển hóa nhu cầu kỹ năng của nền kinh tế thành năng lực nghề nghiệp của người lao động.