Kinh tế tuần hoàn trong xử lý phụ phẩm nông nghiệp: Kinh nghiệm từ mô hình Biomass Town của Nhật Bản
Phạm Tường Linh
La Trobe University; Email: [email protected]
Vũ Mạc Yến Nhi
Trường Đại học Thương Mại; Email: [email protected]
Bùi Thị Hồng Hà
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; Email:[email protected]
Hà Mai Yên Thanh
Email: [email protected]
Nguyễn Lê Hạnh Ngân
Email: [email protected]
Trường Đại học Ngoại Thương
Tóm tắt
Hàng năm, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tạo ra lượng lớn rơm rạ có tiềm năng sinh khối nhưng chưa được khai thác hiệu quả theo định hướng kinh tế tuần hoàn. Nghiên cứu đánh giá khả năng vận dụng mô hình Biomass Town của Nhật Bản vào quản lý rơm rạ tại ĐBSCL bằng phương pháp phân tích tài liệu định tính, kết hợp nguyên lý dòng thác giá trị và lý thuyết chuyển giao chính sách. Kết quả cho thấy rào cản chủ yếu nằm ở cơ chế tổ chức và điều phối chuỗi giá trị sinh khối hơn là công nghệ xử lý. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất chuyển giao theo hướng mô phỏng có điều chỉnh, kế thừa 3 nguyên tắc cốt lõi của Biomass Town nhằm cung cấp cơ sở tham chiếu cho chính sách quản lý rơm rạ theo định hướng kinh tế tuần hoàn ở ĐBSCL.
Từ khóa: Kinh tế tuần hoàn, Biomass Town, chuyển giao chính sách, Đồng bằng sông Cửu Long
Abstract
Each year, the Mekong Delta generates a substantial volume of rice straw with considerable biomass potential, yet this resource remains underutilized within a circular economy framework. This study assesses the applicability of Japan’s Biomass Town model to rice straw management in the Mekong Delta using qualitative document analysis, combined with the value cascading principle and policy transfer theory. The findings suggest that the main barriers lie in the organization and coordination of the biomass value chain rather than in processing technologies. Accordingly, the study proposes an adapted emulation approach to policy transfer that retains three core principles of the Biomass Town model, providing a reference framework for the development of circular economy-oriented rice straw management policies in the Mekong Delta.
Keywords: Circular economy, biomass town, policy transfer, Mekong Delta
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi theo hướng phát thải thấp nhằm đồng thời thực hiện cam kết đưa phát thải ròng về 0 vào năm 2050 và đáp ứng những tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe từ các thị trường xuất khẩu lớn. Trong bối cảnh đó, phụ phẩm nông nghiệp được nhìn nhận như một nguồn sinh khối có thể tái sử dụng thay vì chất thải. Chính vì vậy, kinh tế tuần hoàn (KTTH) trong xử lý phụ phẩm nông nghiệp đã trở thành một ưu tiên quan trọng trong chính sách phát triển nông nghiệp quốc gia, được cụ thể hóa thông qua Kế hoạch hành động quốc gia về KTTH đến năm 2035 ban hành theo Quyết định số 222/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Đề án một triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại ĐBSCL ban hành theo Quyết định số 1490/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Là vùng sản xuất lúa lớn nhất cả nước, đóng góp khoảng 90% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam, mỗi năm ĐBSCL phát sinh khoảng 24-28 triệu tấn rơm rạ (MARD & IRRI, 2023). Tuy nhiên, việc tận dụng nguồn sinh khối này vẫn còn hạn chế, khiến một lượng lớn rơm rạ chưa được đưa vào các chuỗi giá trị tuần hoàn. Điều này không chỉ làm thất thoát nguồn tài nguyên sinh khối, mà còn tạo áp lực đối với mục tiêu giảm phát thải của ngành lúa gạo.
Một kinh nghiệm quốc tế đáng chú ý là mô hình Biomass Town của Nhật Bản, được triển khai nhằm tổ chức thu gom, chuyển hóa và sử dụng sinh khối ở cấp địa phương theo định hướng KTTH (MAFF, 2013a). Mô hình này cũng từng được thí điểm tại huyện Củ Chi với rơm rạ là một trong những nguồn sinh khối trọng tâm (MAFF, 2013b), cho thấy đây là trường hợp tham chiếu phù hợp để xem xét khả năng vận dụng cho ĐBSCL.
Các nghiên cứu trước đã khẳng định tiềm năng của KTTH trong xử lý phụ phẩm nông nghiệp và phân tích mô hình Biomass Town như một điển hình về quản lý sinh khối. Tuy nhiên, 2 hướng nghiên cứu này chưa được kết nối trong cùng một khung phân tích để đánh giá khả năng vận dụng Biomass Town vào quản lý rơm rạ tại ĐBSCL. Vì vậy, nghiên cứu tập trung làm rõ 3 vấn đề: (1) thực trạng và rào cản quản lý rơm rạ tại ĐBSCL; (2) cơ chế chính sách và tổ chức của mô hình Biomass Town; và (3) khả năng chuyển giao mô hình này cho ĐBSCL dưới góc nhìn KTTH và lý thuyết chuyển giao chính sách. Thông qua phân tích tài liệu thứ cấp dưới góc nhìn kết hợp giữa KTTH và lý thuyết chuyển giao chính sách, nghiên cứu hướng tới đề xuất một khung tham chiếu chính sách có cơ sở thực tiễn cho địa phương
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Kinh tế tuần hoàn trong xử lý phụ phẩm nông nghiệp
Thuật ngữ KTTH lần đầu được sử dụng bởi Pearce và Turner (1990) và từ đó phát triển với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Trong nghiên cứu này, KTTH được hiểu theo định nghĩa của Ellen MacArthur Foundation (2013) là một hệ thống có tính khôi phục và tái tạo theo chủ đích, thay thế khái niệm “kết thúc vòng đời” bằng khôi phục tài nguyên và hướng tới loại bỏ chất thải ngay từ khâu thiết kế.
Trong nông nghiệp, cách tiếp cận này đặc biệt có ý nghĩa đối với quản lý phụ phẩm (phần vật chất còn lại sau quá trình thu hoạch và chế biến nông sản chính). Gontard và cộng sự (2018) chỉ ra rằng, phụ phẩm nông nghiệp có thể vừa là gánh nặng kinh tế - môi trường vừa là nguồn tài nguyên sinh khối lớn nếu không được quản lý hợp lý, đồng thời nhấn mạnh khả năng chuyển hóa phụ phẩm thành năng lượng sinh học và sản phẩm có nguồn gốc sinh học thông qua các quy trình chuyển đổi theo tầng trong khuôn khổ KTTH. Việc tận dụng hiệu quả các vật liệu sau thu hoạch không chỉ góp phần giảm ô nhiễm môi trường và phát thải khí nhà kính mà còn gia tăng giá trị kinh tế, tạo thêm thu nhập cho người sản xuất và thúc đẩy phát triển các chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững (MARD và IRRI, 2023). Trong số các phụ phẩm nông nghiệp tại Việt Nam, rơm rạ là nguồn sinh khối có quy mô lớn và tiềm năng tận dụng cao nhưng vẫn còn nhiều dư địa để khai thác.
Dòng thác giá trị cho sinh khối (cascade use)
Theo mô hình “sơ đồ cánh bướm”, EMF (2019) phân chia dòng vật chất thành vòng kỹ thuật và vòng sinh học. Là một dạng sinh khối nông nghiệp, rơm rạ thuộc vòng sinh học; vì vậy, nghiên cứu sử dụng nguyên lý dòng thác giá trị của chu trình này làm cơ sở phân tích. Sinh khối theo đó được ưu tiên khai thác qua nhiều tầng giá trị trước khi hoàn trả dinh dưỡng cho sinh quyển. Mục tiêu của việc khai thác theo tầng là tối ưu hóa hiệu quả sử dụng tài nguyên và giảm tác động đến môi trường (Keegan và cộng sự, 2013), nhằm trì hoãn các giai đoạn cuối cùng của việc thu hồi và xử lý năng lượng bằng cách khai thác sinh khối cho các ứng dụng có giá trị cao ở các cấp độ khai thác theo tầng cao hơn trong thời gian dài hơn (Kalverkamp và cộng sự, 2017). Trên cơ sở đó, nghiên cứu sử dụng nguyên lý thác giá trị cascade làm tiêu chí để đánh giá các phương thức quản lý rơm rạ tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Bảng 1: Bảng các tầng sinh khối theo nguyên lý thác giá trị
|
Tầng |
Nhóm ứng dụng |
Bản chất |
|---|---|---|
|
Tầng 1 |
Dược phẩm, hóa chất tinh, vật liệu giá trị cao |
Giá trị/đơn vị cao, khối lượng nhỏ |
|
Tầng 2 |
Thực phẩm, thức ăn chăn nuôi |
Nuôi dưỡng con người/vật nuôi |
|
Tầng 3 |
Vật liệu, hóa chất nền, sản phẩm công nghiệp gốc sinh học |
Nguyên liệu công nghiệp |
|
Tầng 4 |
Năng lượng (nhiên liệu sinh học, điện, nhiệt) |
Giá trị/đơn vị thấp, khối lượng lớn |
|
(Nền) |
Hoàn trả dinh dưỡng cho đất |
Tái tạo vốn tự nhiên |
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Lý thuyết chuyển giao chính sách (Policy Transfer)
Lý thuyết chuyển giao chính sách của Dolowitz và Marsh (2000) định nghĩa, chuyển giao chính sách là quá trình trong đó tri thức về chính sách, thể chế hành chính, thiết chế và ý tưởng ở một hệ thống chính trị (trong quá khứ hoặc hiện tại) được sử dụng để phát triển chính sách, thể chế và thiết chế ở một hệ thống chính trị khác. Dolowitz và Marsh (2000) phân biệt 4 mức độ chuyển giao, từ sao chép nguyên vẹn, mô phỏng nguyên lý, kết hợp nhiều nguồn, đến chỉ lấy cảm hứng để mở ra hướng đi mới.
Bên cạnh đó, khung lý thuyết này cũng chỉ ra rằng quá trình chuyển giao chịu chi phối bởi nhiều yếu tố ràng buộc về nguồn lực và thể chế, đồng thời xác định ba dạng thất bại điển hình: chuyển giao thiếu thông tin, chuyển giao không hoàn chỉnh khi các cấu phần cốt yếu không được chuyển theo, và chuyển giao không phù hợp khi khác biệt bối cảnh giữa hai nơi không được tính đến đầy đủ. Trong khuôn khổ nghiên cứu, Lý thuyết chuyển giao chính sách được sử dụng làm khung phân tích nhằm đánh giá khả năng vận dụng mô hình Biomass Town vào quản lý rơm rạ tại ĐBSCL.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu định tính nhằm đánh giá khả năng vận dụng mô hình Biomass Town của Nhật Bản vào quản lý rơm rạ tại ĐBSCL. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ các nguồn tài liệu thứ cấp, bao gồm: văn bản chính sách của Việt Nam về KTTH và quản lý phụ phẩm nông nghiệp; tài liệu chính thức của Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản Nhật Bản (MAFF) về Chiến lược Biomass Nippon và mô hình Biomass Town; báo cáo của MARD, IRRI và các tổ chức quốc tế; cùng các nghiên cứu học thuật liên quan.
Việc phân tích được thực hiện dựa trên 2 khung lý thuyết. Dòng thác giá trị của KTTH được sử dụng để đánh giá các phương thức quản lý và tận dụng rơm rạ, trong khi Lý thuyết chuyển giao chính sách được sử dụng để phân tích khả năng chuyển giao các thành tố của mô hình Biomass Town vào bối cảnh ĐBSCL. Các kết quả được đối chiếu giữa nhiều nguồn tài liệu nhằm nâng cao tính tin cậy của phân tích.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Thực trạng và rào cản quản lý rơm rạ tại Đồng bằng sông Cửu Long
Trong 24-28 triệu tấn rơm rạ mỗi năm phát sinh tại ĐBSCL, chỉ khoảng 30% được thu gom để tái sử dụng, trong khi khoảng 70% còn lại bị đốt hoặc vùi trực tiếp xuống ruộng (MARD & IRRI, 2023). Dù đã có nhiều phương thức được áp dụng nhưng phần lớn dòng sinh khối này vẫn chưa vận hành theo định hướng KTTH.
Bảng 2: Các phương thức quản lý rơm rạ tại ĐBSCL theo thác giá trị cascade
|
Tầng |
Nhóm ứng dụng |
Phương thức áp dụng |
Tiềm năng tiếp tục chuỗi giá trị |
Mức độ triển khai |
|---|---|---|---|---|
|
Tầng 1 |
Dược phẩm, hóa chất tinh, vật liệu giá trị cao |
Không áp dụng cho rơm rạ |
|
|
|
Tầng 2 |
Thực phẩm, thức ăn chăn nuôi |
Trồng nấm rơm |
Bã nấm có thể tiếp tục được sử dụng làm phân bón hữu cơ |
30% tổng lượng rơm rạ được thu gom. |
|
Rơm cuộn làm thức ăn cho gia súc |
Phân bò tiếp tục kết hợp cùng rơm/bã nấm để sản xuất phân bón |
25% tổng lượng rơm rạ được thu gom; |
||
|
Tầng 3 |
Vật liệu, hóa chất nền, sản phẩm công nghiệp gốc sinh học |
Giá thể che phủ gốc cây, đệm lót đóng gói nông sản |
|
35% tổng lượng rơm rạ được thu gom |
|
Tầng 4 |
Năng lượng (nhiên liệu sinh học, điện, nhiệt) |
Thí điểm nghiên cứu Ethanol sinh học, khí sinh học, phát điện từ rơm |
|
Đang ở mức nghiên cứu/thí điểm, chưa thương mại hóa |
|
(Nền) |
Hoàn trả dinh dưỡng cho đất |
Ủ phân hữu cơ từ rơm |
|
Vẫn còn hạn chế; dưới 10% |
|
Vùi có xử lý |
|
|||
|
Ngoài vòng |
Thất thoát, không thu hồi giá trị |
Đốt đồng, vùi rơm tươi không xử lý |
|
Phổ biến, chiếm đến 70% tổng số lượng rơm rạ phát sinh |
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp
Bảng 2 cho thấy các phương thức tận dụng rơm rạ tại ĐBSCL đã xuất hiện ở nhiều tầng giá trị nhưng chủ yếu phân tán và quy mô nhỏ, phần lớn vẫn nằm ngoài chuỗi giá trị được định hướng. Điều này cho thấy nhận thức và thực tiễn áp dụng KTTH trong xử lý rơm rạ đã bước đầu hình thành tuy nhiên các hoạt động này mới khai thác từng mắt xích riêng lẻ, trong khi các ứng dụng ở tầng năng lượng và hoàn trả dinh dưỡng vẫn chưa được triển khai rộng rãi. Do đó, dòng sinh khối vẫn chưa được tổ chức thành một chuỗi sử dụng nối tầng hoàn chỉnh theo nguyên lý cascade. Theo ước tính của MARD và IRRI (2023), nếu rơm rạ được quản lý theo hướng bền vững hơn, lượng phát thải liên quan có thể giảm khoảng 36%, tương đương hơn 2 triệu tấn CO₂e mỗi năm.
Khoảng cách giữa thực trạng và mục tiêu KTTH xuất phát từ 3 nhóm rào cản chính: kinh tế, hạ tầng và tổ chức. Về kinh tế, việc thu gom rơm rạ chưa tạo động lực đủ lớn do chi phí nhân công và cơ giới hóa cao, trong khi lợi nhuận còn thấp; chu kỳ sản xuất liên tục cũng khiến nông dân ưu tiên giải phóng đồng ruộng nhanh hơn là thu gom rơm. Quy mô sản xuất nhỏ lẻ càng làm giảm hiệu quả đầu tư máy cuộn rơm và các thiết bị thu gom do thời gian thu hồi vốn dài và tỷ suất sinh lời chưa hấp dẫn. (Báo Nhân Dân, 2024). Về hạ tầng, đặc tính cồng kềnh, phân tán của rơm rạ làm tăng chi phí thu gom, vận chuyển và lưu trữ, trong khi độ ẩm cao sau thu hoạch dễ làm giảm chất lượng nguyên liệu. Về tổ chức, sự liên kết giữa nông hộ, hợp tác xã và doanh nghiệp còn lỏng lẻo, thiếu cơ chế điều phối và hợp đồng tiêu thụ ổn định. Các kết quả này tương đồng với ý kiến của Vu (2025); Nguyen và cộng sự (2016); Demont, M. và cộng sự (2020). Do đó, nút thắt của ĐBSCL không nằm ở nguồn sinh khối hay công nghệ xử lý, mà ở việc thiếu một hệ thống quản lý và thị trường đủ mạnh để tạo động lực duy trì dòng lưu chuyển của rơm rạ qua các tầng giá trị.
Cơ chế chính sách và tổ chức của mô hình Biomass Town
Khác với cách tiếp cận xem phụ phẩm nông nghiệp là chất thải cần xử lý, mô hình Biomass Town của Nhật Bản coi sinh khối là nguồn tài nguyên của địa phương và tổ chức khai thác theo chuỗi giá trị nhằm tối đa hóa giá trị sử dụng trước khi hoàn trả về môi trường. Mô hình được triển khai trong khuôn khổ Chiến lược Biomass Nippon từ năm 2005; đến năm 2011, gần 300 kế hoạch Biomass Town đã được xây dựng trên toàn Nhật Bản (MAFF, 2013a). Điểm cốt lõi của Biomass Town không nằm ở một công nghệ xử lý cụ thể mà ở cơ chế quản trị giúp duy trì dòng lưu chuyển của sinh khối trong nền KTTH.
Thứ nhất, chính quyền địa phương giữ vai trò điều phối trung tâm. Trên cơ sở đánh giá nguồn sinh khối sẵn có, chính quyền xây dựng kế hoạch sử dụng tổng thể, xác định các hướng ưu tiên, huy động nguồn lực và kết nối nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp, viện nghiên cứu cùng các tổ chức liên quan (MAFF, 2013a). Nhờ đó, sinh khối không còn được quản lý thông qua các dự án riêng lẻ mà trở thành một chuỗi giá trị thống nhất từ thu gom đến chế biến và tiêu thụ.
Thứ hai, thiết kế dựa trên nguồn sinh khối bản địa. Mỗi địa phương lựa chọn phương án phù hợp với lợi thế riêng, ví dụ vùng chăn nuôi ưu tiên khí sinh học và phân hữu cơ, vùng lúa khai thác rơm rạ cho trồng nấm, thức ăn chăn nuôi, vật liệu hoặc nhiên liệu sinh học. Cách tiếp cận này giảm chi phí vận chuyển và phù hợp với nguyên lý sử dụng nối tầng.
Thứ ba, thúc đẩy liên kết đa chủ thể, hình thành cơ chế phối hợp giữa khu vực công, doanh nghiệp và cộng đồng nhằm bảo đảm đầu vào, đầu ra và chia sẻ lợi ích. Theo MAFF (2013a), cơ chế này giúp nâng cao tỷ lệ sử dụng sinh khối, giảm phụ phẩm thải bỏ và tạo thêm giá trị kinh tế cho nông thôn.
Một minh chứng đáng chú ý là dự án Biomass Town tại huyện Củ Chi (TP. Hồ Chí Minh), được triển khai trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam - Nhật Bản. Dự án xác định rơm rạ là một trong những nguồn sinh khối trọng tâm, phía Nhật Bản đã hỗ trợ máy móc thiết bị và đề xuất nhiều hướng giải pháp như trồng nấm, sản xuất thức ăn chăn nuôi và nghiên cứu sản xuất ethanol sinh học (MAFF, 2013b). Kết quả cho thấy hơn 90% lượng rơm rạ ở Củ Chi đã được khai thác theo định hướng KTTH nhưng một số hạng mục, đặc biệt là sản xuất ethanol, vẫn chưa được thương mại hóa do chi phí cao, quy trình phức tạp và thiếu cơ chế tài chính phù hợp.
Khả năng chuyển giao mô hình Biomass Town cho Đồng bằng sông Cửu Long
Đối chiếu 2 bối cảnh cho thấy điểm nghẽn của ĐBSCL và thế mạnh của Biomass Town hội tụ ở cùng một chiều: cơ chế quản trị chuỗi giá trị. Dưới góc nhìn chuyển giao chính sách, vấn đề vì vậy không phải sao chép mô hình, mà xác định thành tố nào có thể vận dụng và ở mức độ nào.
Trước hết, vai trò điều phối của chính quyền địa phương là thành tố có khả năng chuyển giao cao nhất. Thay vì trực tiếp đầu tư hay vận hành các dự án sinh khối, chính quyền cần đóng vai trò quy hoạch, kết nối nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, đồng thời tạo cơ chế khuyến khích hình thành thị trường rơm rạ. Điều này đặc biệt phù hợp với thực trạng ĐBSCL, nơi chuỗi giá trị còn phân tán và thiếu đầu mối điều phối.
Bên cạnh đó, nguyên tắc phát triển dựa trên nguồn sinh khối bản địa cũng có thể vận dụng cho ĐBSCL. Với lợi thế là vùng sản xuất lúa lớn nhất cả nước, rơm rạ nên được xác định là dòng sinh khối ưu tiên. Tuy nhiên, thay vì đầu tư đồng thời vào nhiều công nghệ, cần ưu tiên mở rộng các hướng sử dụng đã có thị trường như trồng nấm, thức ăn chăn nuôi và vật liệu sinh học; các công nghệ như ethanol sinh học hoặc phát điện từ rơm chỉ nên phát triển khi bảo đảm hiệu quả kinh tế và nguồn nguyên liệu ổn định.
Ngoài ra, cơ chế liên kết đa chủ thể cũng cần được điều chỉnh để phù hợp với điều kiện Việt Nam. Khác với Nhật Bản, sản xuất lúa ở ĐBSCL vẫn chủ yếu dựa trên các nông hộ nhỏ lẻ, trong khi thị trường tiêu thụ rơm rạ chưa ổn định. Do đó, bên cạnh việc tăng cường vai trò của hợp tác xã, cần bổ sung các cơ chế hỗ trợ như hợp đồng bao tiêu, cơ giới hóa thu gom và chia sẻ lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị nhằm tạo động lực duy trì dòng lưu chuyển của sinh khối.
Tuy nhiên, chuyển giao chính sách luôn có những giới hạn. Trường hợp huyện Củ Chi (TP. Hồ Chí Minh) là biểu hiện của chuyển giao không hoàn chỉnh, khi công nghệ được tiếp nhận nhưng thiếu các điều kiện hỗ trợ đi kèm. Áp dụng nguyên trạng mô hình Nhật Bản cũng có nguy cơ trở thành chuyển giao không phù hợp do khác biệt về quy mô sản xuất và năng lực quản trị. Vì vậy, Biomass Town nên được coi là một khung quản trị hơn là một mô hình công nghệ; hướng chuyển giao phù hợp cho ĐBSCL là mô phỏng có điều chỉnh, kế thừa 3 nguyên tắc cốt lõi và thiết kế lại theo điều kiện thể chế, thị trường Việt Nam.
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH
Kết luận
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng ĐBSCL sở hữu nguồn sinh khối rơm rạ vô cùng dồi dào, tuy nhiên phần lớn chưa được khai thác hiệu quả theo định hướng KTTH, với khoảng 70% lượng rơm rạ phát sinh vẫn bị đốt hoặc vùi trực tiếp ngoài đồng ruộng. Các phương thức tận dụng hiện hữu (như trồng nấm, làm thức ăn chăn nuôi, hay làm giá thể) mới chỉ dừng lại ở các mắt xích rời rạc, chưa hình thành được một chuỗi sử dụng nối tầng hoàn chỉnh.
Kết quả phân tích khẳng định rằng, rào cản lớn nhất đối với quản lý rơm rạ tại ĐBSCL không nằm ở năng lực công nghệ hay sự thiếu hụt nguồn sinh khối, mà xuất phát từ những điểm nghẽn về kinh tế, hạ tầng và đặc biệt là cơ chế tổ chức, điều phối chuỗi giá trị. Việc nghiên cứu và vận dụng mô hình Biomass Town của Nhật Bản dưới lăng kính lý thuyết chuyển giao chính sách cho thấy, bài học cốt lõi không nằm ở việc sao chép nguyên trạng các giải pháp kỹ thuật, mà nằm ở phương thức quản trị hệ thống. Hướng tiếp cận “mô phỏng có điều chỉnh” là phương án khả thi nhất, trong đó kế thừa 3 nguyên tắc nền tảng của Nhật Bản gồm: vai trò điều phối trung tâm của chính quyền địa phương, phát huy tối đa lợi thế sinh khối bản địa, và thúc đẩy liên kết chặt chẽ đa chủ thể.
Hàm ý chính sách
Dựa trên những kết quả nghiên cứu trên, nhóm tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy quản lý rơm rạ theo hướng KTTH tại ĐBSCL như sau:
Đối với vai trò điều phối của chính quyền địa phương
Chính quyền các cấp tại ĐBSCL cần đóng vai trò là “nhạc trưởng” trong việc kiến tạo không gian thể chế và quy hoạch tổng thể chuỗi giá trị sinh khối.
Thay vì can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất, cần tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu về nguồn sinh khối rơm rạ theo từng tiểu vùng sinh thái, từ đó định hướng các dự án đầu tư và kết nối cung - cầu hiệu quả.
Đối với việc tối ưu hóa chuỗi giá trị theo nguyên lý cascade
Cần ưu tiên phân bổ nguồn lực cho các tầng ứng dụng đã có sẵn thị trường thương mại và tính khả thi cao như trồng nấm rơm, sản xuất thức ăn chăn nuôi (rơm cuộn) và vật liệu sinh học.
Đối với các công nghệ đòi hỏi vốn đầu tư lớn và kỹ thuật phức tạp như năng lượng sinh học (điện sinh khối, ethanol), chỉ nên triển khai thí điểm có chọn lọc và thương mại hóa khi đã hình thành được vùng nguyên liệu tập trung, ổn định.
Đối với cơ chế liên kết đa chủ thể và hỗ trợ thị trường
Thúc đẩy mô hình liên kết chặt chẽ giữa “4 nhà” (Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp - Nông dân/Hợp tác xã), trong đó các hợp tác xã nông nghiệp đóng vai trò là đầu mối tập kết và thương lượng.
Hoàn thiện khung pháp lý và ban hành các cơ chế tài chính hỗ trợ như: trợ giá thiết bị cơ giới hóa thu gom rơm rạ, hỗ trợ tín dụng xanh cho các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ chế biến phụ phẩm, và xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch giữa các bên tham gia chuỗi giá trị nhằm giảm thiểu tình trạng đứt gãy nguồn cung.
Tài liệu tham khảo:
1. David W. Pearce, & R. Kerry Turner (1990). Economics of Natural Resources and the Environment. Harvester Wheatsheaf.
2. Demont, M., et al. (2020). Rice straw value chains and case study on straw mushroom in Vietnam’s Mekong River Delta. In M. Gummert, N. Hung, P. Chivenge, & B. Douthwaite (Eds.), Sustainable Rice Straw Management. Springer. https://doi.org/10.1007/978-3-030-32373-8-11
3. Dolowitz, D. P., & Marsh, D. (2000). Learning from abroad: The role of policy transfer in contemporary policy-making. Governance, 13(1), 5-23. https://doi.org/10.1111/0952-1895.00121
4. Ellen MacArthur Foundation (2013). Towards the circular economy: Economic and business rationale for an accelerated transition. Ellen MacArthur Foundation.
5. Ellen MacArthur Foundation (2019). The butterfly diagram: Visualising the circular economy. https://www.ellenmacarthurfoundation.org/circular-economy-diagram
6. Kalverkamp, M., Pehlken, A., & Wuest, T. (2017). Cascade use and the management of product lifecycles. Sustainability, 9(9), 1540. https://doi.org/10.3390/su9091540
7. Keegan, D., et al. (2013). Cascading use: A systematic approach to biomass beyond the energy sector. Biofuels, Bioproducts and Biorefining, 7(2), 193-206. https://doi.org/10.1002/bbb.1379
8. Ministry of Agriculture and Rural Development (MARD), & International Rice Research Institute (IRRI) (2023). Sổ tay quản lý rơm rạ theo hướng kinh tế tuần hoàn và phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
9. Ministry of Agriculture, Forestry and Fisheries of Japan - MAFF (2013a). The guidebook for promoting Biomass Town concept. https://www.maff.go.jp/e/pdf/contents.pdf
10. Ministry of Agriculture, Forestry and Fisheries of Japan - MAFF (2013b). Biomass Town Plan: Cu Chi District, Ho Chi Minh City, Vietnam. https://www.maff.go.jp/e/pdf/part3-3.pdf
11. Nguyen, V. H., et al. (2016). Energy efficiency, greenhouse gas emissions, and cost of rice straw collection in the Mekong River Delta of Vietnam. Field Crops Research, 198, 16-22. https://doi.org/10.1016/j.fcr.2016.08.024
12. Vu, T. H. T. (2025). Integrating circular economy principles into rice value chain in the Mekong Delta, Vietnam. International Journal of Sustainable Development and Planning, 20(12), 5413-5426. https://doi.org/10.18280/ijsdp.201232
| Ngày nhận bài: 6/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 25/9/2026; Ngày duyệt đăng: 5/10/2026 |
Các tin khác
Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn
Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị
Đảm bảo an ninh năng lượng thông qua dự trữ xăng dầu quốc gia tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường thế giới biến động
Quản trị phát triển kỹ năng số nhằm nâng cao năng suất lao động trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
Ứng dụng Blockchain vào chuỗi cung ứng trong ngành thực phẩm tại Việt Nam
Trí tuệ nhân tạo tạo sinh và triển vọng chuyển đổi thị trường lao động Việt Nam