Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Nghiên cứu - Trao đổi 17:33 | 05/10/2026
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt, sự phát triển kinh tế du lịch thực chất không chỉ đo lường bằng lượng khách hay doanh thu tổng thể, mà được quyết định bởi khả năng chuyển hóa các dòng chi tiêu thành thu nhập, việc làm và nâng cao năng lực kinh doanh tại chỗ.

ThS. Nguyễn Thị Huệ

Trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến từ góc nhìn chuỗi giá trị và quản trị điểm đến. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, tổng hợp tài liệu học thuật, báo cáo quốc tế và dữ liệu thứ cấp chính thức của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh thực hiện 5 chức năng gồm: giữ lại chi tiêu, kiến tạo trải nghiệm bản địa, mở rộng sinh kế, thúc đẩy đổi mới và tăng sức chống chịu. Mặc dù vậy, khu vực này phải đối mặt với nghịch lý trung tâm - ngoại vi: giữ vai trò trung tâm trong trải nghiệm du khách nhưng thường đứng ngoài dữ liệu, xúc tiến, tài chính và ra quyết định. Nghiên cứu đề xuất chuyển từ hỗ trợ từng cơ sở sang kiến tạo hệ sinh thái kinh doanh địa phương có liên kết, tiêu chuẩn tương xứng, năng lực số và cơ chế đại diện thực chất.

Từ khóa: Doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh, kinh tế điểm đến, quản trị điểm đến, chuỗi giá trị địa phương

Abstract

This study examines the role of small businesses and household businesses in destination economic development from the perspectives of value chains and destination governance. A qualitative approach is employed, drawing on academic literature, international reports, and official secondary data from Viet Nam. The findings indicate that small businesses and household businesses perform five key functions: retaining local tourism expenditure, creating authentic local experiences, expanding livelihoods, fostering innovation, and strengthening resilience. However, these businesses face a center–periphery paradox: while they are central to the visitor experience, they often remain peripheral to data systems, destination promotion, finance, and decision-making processes. The study therefore proposes a shift from supporting individual businesses toward building an interconnected local business ecosystem, supported by proportionate standards, digital capabilities, and meaningful representation mechanisms.

Keywords: Small businesses, household businesses, destination economy, destination governance, local value chains

GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt, sự phát triển kinh tế du lịch thực chất không chỉ đo lường bằng lượng khách hay doanh thu tổng thể, mà được quyết định bởi khả năng chuyển hóa các dòng chi tiêu thành thu nhập, việc làm và nâng cao năng lực kinh doanh tại chỗ. Một điểm đến có thể ghi nhận sự bùng nổ về số lượng du khách nhưng vẫn rơi vào tình trạng “tăng trưởng không lan tỏa” nếu chuỗi cung ứng đầu vào, quyền sở hữu tài sản và hệ thống phân phối phần lớn thuộc về các chủ thể ngoại vi. Do đó, chất lượng của kinh tế điểm đến phụ thuộc cốt lõi vào cấu trúc chuỗi giá trị và năng lực tái lưu chuyển lợi ích trong cộng đồng bản địa. Nằm ở trung tâm của mạng lưới này là các doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh - lực lượng hiện diện rộng khắp tại hầu hết các điểm chạm trong hành trình trải nghiệm của du khách, từ lưu trú, ẩm thực, vận chuyển đến thủ công mỹ nghệ và dịch vụ văn hóa. Minh chứng thực tiễn cho thấy, năm 2025, Việt Nam đón khoảng 21,5 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 135,5 triệu lượt khách nội địa và tổng thu từ du lịch lần đầu tiên vượt mốc 1 triệu tỷ đồng (Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, 2025); khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm gần 98% trong tổng số hơn 940.000 doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước (Chính phủ, 2025). Với tỷ trọng áp đảo này, sức khỏe và hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế vi mô chính là bệ phóng quyết định chất lượng tăng trưởng chung của toàn ngành. Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạch định và quản lý, khu vực doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh thường đối mặt với định kiến xem đây là đối tượng cần trợ cấp hơn là một cấu phần chiến lược của năng lực cạnh tranh điểm đến. Nghiên cứu tiếp cận doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh như một dạng “hạ tầng kinh tế mềm” có chức năng kết nối tài nguyên bản địa với thị trường, kiến tạo trải nghiệm và phân phối lợi ích. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng nhằm tối ưu hóa vai trò của khu vực kinh tế này trong tiến trình phát triển du lịch bền vững.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Điểm đến như một mạng lưới tạo giá trị

Điểm đến du lịch không phải một doanh nghiệp đơn lẻ mà là một hệ thống sản xuất trải nghiệm, trong đó nhiều chủ thể độc lập cùng tham gia. Buhalis (2000) nhấn mạnh tính đa chủ thể và yêu cầu phối hợp lợi ích giữa cư dân, doanh nghiệp, cơ quan quản lý và du khách. Crouch và Ritchie (1999) cho rằng, năng lực cạnh tranh không chỉ nằm ở tài nguyên sẵn có mà còn ở khả năng huy động, quản trị và làm gia tăng giá trị từ tài nguyên. Vì thế, chất lượng điểm đến là kết quả tổng hợp của nhiều giao dịch và tương tác hơn là kết quả của một nhà cung cấp riêng lẻ.

Cách tiếp cận mạng lưới giúp giải thích vị trí của doanh nghiệp nhỏ. Mỗi cơ sở là một nút kết nối giữa tài nguyên địa phương và nhu cầu thị trường. Giá trị toàn hệ thống phụ thuộc vào năng lực từng nút, đồng thời phụ thuộc vào mật độ liên kết, mức độ tin cậy, tốc độ chia sẻ thông tin và khả năng phối hợp tiêu chuẩn. Baggio và Cooper (2010) chỉ ra rằng, cấu trúc mạng lưới ảnh hưởng đến chuyển giao tri thức trong điểm đến. Khi mạng lưới phân mảnh, dữ liệu khách hàng và cơ hội hợp tác thường tập trung ở một số chủ thể lớn, còn cơ sở nhỏ phản ứng chậm và cạnh tranh chủ yếu bằng giá.

Chuỗi giá trị địa phương và phát triển bao trùm

Từ góc nhìn phát triển địa phương, vấn đề không chỉ là du khách chi bao nhiêu mà còn là bao nhiêu giá trị được giữ lại, tái lưu chuyển và phân phối tại chỗ. Mitchell và Ashley (2010) phân tích, các con đường du lịch tác động tới người nghèo, gồm việc làm trực tiếp, cung ứng hàng hóa - dịch vụ và các hiệu ứng động đối với kinh tế địa phương. Khi cơ sở du lịch mua nguyên liệu, thuê lao động và sử dụng dịch vụ địa phương, một đồng chi tiêu có thể tạo nhiều vòng thu nhập. Nếu đầu vào và quyền sở hữu nằm ngoài địa phương, rò rỉ kinh tế tăng lên.

Doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh thường gắn chặt với nơi cư trú, sử dụng tri thức bản địa và tái đầu tư gần nơi kinh doanh. Điều này tạo điều kiện cho phụ nữ, người trẻ, lao động bán thời gian và các nhóm ít có khả năng di chuyển tham gia thị trường. Tuy nhiên, sở hữu địa phương không mặc nhiên bảo đảm công bằng. Scheyvens (1999) cho rằng, phát triển du lịch chỉ có ý nghĩa khi cộng đồng được tăng cường quyền lực kinh tế, xã hội, tâm lý và chính trị. Vì vậy, cần đánh giá không chỉ số cơ sở tham gia mà còn vị trí của họ trong chuỗi giá trị và khả năng ảnh hưởng đến quyết định.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính dựa trên tài liệu và dữ liệu thứ cấp, không tiến hành khảo sát. Nguồn phân tích gồm các công trình về năng lực cạnh tranh điểm đến, mạng lưới, chuỗi giá trị và trao quyền cộng đồng; báo cáo của OECD, UNEP, World Tourism Organization; cùng dữ liệu chính thức của Việt Nam.

Quy trình gồm mã hóa cơ chế tạo giá trị, đối chiếu bằng chứng quốc tế với Việt Nam và tổng hợp hàm ý quản trị. Năm trụ cột được sử dụng là giữ lại giá trị, kiến tạo bản sắc, phân phối sinh kế, đổi mới và sức chống chịu. Cách tiếp cận phù hợp với xây dựng luận cứ chính sách nhưng không thay thế đo lường tại từng điểm đến.

Bảng: Khung phân tích vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh

Trụ cột

Cơ chế tạo giá trị

Chỉ báo quản trị gợi ý

Giữ lại giá trị

Chuyển chi tiêu thành doanh thu, tiền lương, mua đầu vào và tái đầu tư tại địa phương.

Tỷ lệ mua hàng và lao động địa phương; doanh thu giữ lại.

Bản sắc trải nghiệm

Chuyển tri thức, ẩm thực, nghề thủ công và lối sống thành sản phẩm khác biệt.

Tỷ trọng sản phẩm bản địa; mức đa dạng trải nghiệm.

Phân phối sinh kế

Mở cơ hội thị trường cho hộ gia đình, nhóm yếu thế và khu vực ngoài trung tâm.

Cơ cấu chủ cơ sở; phân bố doanh thu theo không gian.

Đổi mới linh hoạt

Thử nghiệm nhanh sản phẩm, giá, kênh bán và mô hình phục vụ.

Sản phẩm mới; ứng dụng số; hợp tác kinh doanh.

Sức chống chịu

Tạo mạng lưới cung ứng đa dạng và khả năng thích ứng trước biến động.

Đa dạng thị trường; dự phòng tài chính; thời gian phục hồi.

Nguồn: Tác giả tổng hợp và đề xuất

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Giữ lại chi tiêu và tạo hiệu ứng lan tỏa

Vai trò trực tiếp nhất của các cơ sở nhỏ là chuyển chi tiêu du lịch thành thu nhập địa phương. Homestay, quán ăn, vận tải nhỏ, cửa hàng đặc sản, xưởng thủ công và nông hộ cung cấp trải nghiệm thường sử dụng lao động và đầu vào tại chỗ. Một khoản chi cho lưu trú có thể tiếp tục đi vào thực phẩm, giặt là, sửa chữa, vận chuyển và sản phẩm nông nghiệp. Vì vậy, khu vực này là cầu nối giữa du lịch với nông nghiệp, thủ công và dịch vụ dân sinh.

Số lượng cơ sở không phản ánh đầy đủ mức giữ lại giá trị. Một hộ kinh doanh có thể phụ thuộc vào nền tảng đặt phòng, nguyên liệu nhập ngoài và tín dụng chi phí cao. Dupeyras và MacCallum (2013) cho rằng, đo lường năng lực cạnh tranh cần vượt khỏi chỉ tiêu tăng trưởng. Điểm đến nên theo dõi tỷ lệ mua hàng, lao động địa phương, chi phí trung gian và tái đầu tư; tức không chỉ hỏi du khách chi bao nhiêu mà còn hỏi giá trị còn lại và thuộc về ai.

Kiến tạo bản sắc và độ dày của trải nghiệm

Sản phẩm điểm đến được hình thành trong các tương tác cụ thể: bữa ăn, câu chuyện của chủ nhà, cách phục vụ, nhịp sống chợ địa phương và sản phẩm thủ công. Doanh nghiệp nhỏ có khả năng chuyển hóa tài nguyên vô hình thành trải nghiệm có thể mua và ghi nhớ. Họ cũng phù hợp với thị trường ngách như lớp học nấu ăn, tour nghề truyền thống, món ăn theo mùa hoặc lưu trú trong kiến trúc bản địa. Mỗi sản phẩm có quy mô nhỏ nhưng tổng hợp lại tạo độ dày, giúp kéo dài thời gian lưu trú và tăng chi tiêu.

Bản sắc không nên bị đồng nhất với tự phát. Thiếu hướng dẫn có thể dẫn tới sao chép, sân khấu hóa văn hóa và khai thác quá mức tài nguyên. UNEP và World Tourism Organization (2005) nhấn mạnh yêu cầu cân bằng mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường. Điểm đến vì thế cần duy trì không gian sáng tạo nhưng đặt giới hạn chung về an toàn, môi trường, quyền sở hữu văn hóa và sức chứa.

Phân phối sinh kế nhưng không tự động bảo đảm bao trùm

Do yêu cầu vốn ban đầu thấp hơn và có thể tận dụng tài sản gia đình, hộ kinh doanh tạo ngưỡng gia nhập thị trường thấp hơn dự án lớn. Thu nhập từ phòng ở, món ăn, vận chuyển, bán hàng hoặc trải nghiệm nông nghiệp giúp cư dân đa dạng hóa sinh kế. Các cơ sở nhỏ còn có thể phát triển ngoài khu trung tâm, đưa dòng khách tới làng xã, tuyến phố và cụm nghề ít được hưởng lợi từ các điểm tham quan chính.

Tuy nhiên, cơ hội gia nhập không đồng nghĩa với kết quả công bằng. Hộ có vị trí thuận lợi, vốn, kỹ năng số và quan hệ với doanh nghiệp lữ hành thường hưởng lợi trước. Nhóm yếu thế có thể chỉ tham gia lao động thời vụ hoặc bán nguyên liệu giá thấp. Theo Mitchell và Ashley (2010), tác động giảm nghèo phụ thuộc vào con đường phân phối lợi ích chứ không chỉ vào quy mô ngành. Vì vậy, cần thiết kế các cơ chế như hợp tác xã dịch vụ, luân phiên cung ứng, quỹ cộng đồng, ưu tiên mua hàng địa phương và tiêu chí tham gia minh bạch.

Đổi mới linh hoạt và sức chống chịu

Quy mô nhỏ cho phép điều chỉnh nhanh thực đơn, giờ phục vụ, gói trải nghiệm, giá và kênh truyền thông. Nhiều sản phẩm mới của điểm đến bắt đầu từ thử nghiệm nhỏ, sau đó được thị trường xác nhận và lan tỏa. Mạng lưới nhiều nhà cung cấp còn tạo tính đa dạng và khả năng thay thế khi một cơ sở gặp sự cố hoặc một phân khúc khách suy giảm.

OECD (2025) cho rằng, điểm đến có sức chống chịu cần nền kinh tế đa dạng, quản trị phối hợp và bằng chứng cho quyết định; OECD (2026) nhấn mạnh thêm dữ liệu, công cụ số và phối hợp đa cấp. Tuy nhiên, cơ sở nhỏ thường ít dự phòng, thiếu bảo hiểm và phụ thuộc mùa vụ. Hỗ trợ cần tập trung vào quản trị dòng tiền, mua chung, chia sẻ dữ liệu và kế hoạch ứng phó khủng hoảng.

Nghịch lý trung tâm - ngoại vi

Doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh ở trung tâm trải nghiệm nhưng lại ở ngoại vi quản trị. Họ ít tham gia lập kế hoạch, khó tiếp cận dữ liệu và yếu thế trước nền tảng số. Cơ quan quản lý vì thế thiếu thông tin vi mô về công suất, chất lượng và biến động cầu; còn doanh nghiệp đầu tư chủ yếu dựa vào kinh nghiệm.

Bài toán vì vậy không phải lựa chọn giữa doanh nghiệp lớn và nhỏ. Doanh nghiệp lớn có ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường và chuẩn hóa; cơ sở nhỏ có ưu thế về độ bám địa phương, tính đa dạng và cá nhân hóa. Năng lực cạnh tranh hình thành khi 2 khu vực được kết nối bằng quan hệ cung ứng minh bạch, tiêu chuẩn hợp lý và chia sẻ dữ liệu. Một điểm đến có thể có dự án lớn, nhưng khó bền vững nếu mạng lưới doanh nghiệp địa phương yếu.

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

Chuyển từ hỗ trợ rời rạc sang kiến tạo hệ sinh thái

Chính sách cần chuyển trọng tâm từ tập huấn hoặc cho vay từng cơ sở sang tổ chức hệ sinh thái doanh nghiệp địa phương. Cơ quan quản lý điểm đến cần xây dựng cơ sở dữ liệu theo ngành, vị trí, năng lực, mùa hoạt động và nhu cầu hỗ trợ; đồng thời xác định vai trò của từng nhóm trong chuỗi giá trị. Mỗi cụm điểm đến nên có đầu mối phát triển doanh nghiệp địa phương để kết nối cơ sở nhỏ với doanh nghiệp dẫn dắt, trường đại học, tổ chức tài chính và nền tảng công nghệ.

Cách tiếp cận cụm ngành của Porter (1998) gợi ý rằng, năng suất và đổi mới tăng khi doanh nghiệp tiếp cận được nhà cung cấp, tri thức và thể chế hỗ trợ ở gần. Vì vậy, thay vì duy trì trạng thái nhỏ lẻ, chính sách cần tạo các dịch vụ dùng chung như chụp ảnh sản phẩm, phiên dịch, kế toán cơ bản, tư vấn pháp lý, kiểm định chất lượng, đặt chỗ và xử lý chất thải.

Lập bản đồ chuỗi giá trị và đo phần giá trị giữ lại

Các địa phương cần lập bản đồ dòng chi tiêu từ lưu trú, ăn uống, vận tải, tham quan và mua sắm tới nhà cung cấp đầu vào. Công cụ này giúp nhận diện khâu rò rỉ lớn, nhóm cơ sở chưa tiếp cận thị trường và cơ hội thay thế đầu vào bên ngoài. Bộ chỉ tiêu nên bổ sung tỷ lệ lao động địa phương, tỷ lệ mua sắm tại chỗ, số cơ sở nhỏ tham gia chuỗi, tỷ trọng doanh thu ngoài trung tâm và thời gian phục hồi sau biến động.

Áp dụng tiêu chuẩn tương xứng và lộ trình nâng cấp

Quy mô nhỏ không mặc nhiên đồng nghĩa với bền vững. Hoạt động manh mún có thể dẫn tới cạnh tranh phá giá, chất lượng không đồng đều, ô nhiễm phân tán và sử dụng lao động thiếu ổn định. Tuy nhiên, áp dụng ngay tiêu chuẩn thiết kế cho doanh nghiệp lớn cũng có thể đẩy cơ sở nhỏ ra khỏi thị trường. Cần một bộ chuẩn tối thiểu ngắn gọn đối với vệ sinh, an toàn, môi trường, niêm yết giá và bảo vệ người tiêu dùng; sau đó là các bậc nâng cấp tự nguyện gắn với lợi ích cụ thể.

Số hóa để tăng quyền lực thị trường, không chỉ tăng hiện diện

Chuyển đổi số nên được thực hiện theo 3 tầng. Tầng cơ bản gồm thanh toán số, bản đồ và thông tin đa ngôn ngữ. Tầng quản trị gồm theo dõi doanh thu, công suất, chi phí và hồ sơ khách hàng. Tầng liên kết gồm hệ thống đặt dịch vụ chung, gói sản phẩm nhiều nhà cung cấp và chia sẻ dữ liệu tổng hợp. Hỗ trợ chỉ có ý nghĩa khi cơ sở dùng công nghệ để ra quyết định, không chỉ để đăng bài trên mạng xã hội.

Tài liệu tham khảo:

1. Baggio, R., & Cooper, C. (2010). Knowledge transfer in a tourism destination: The effects of a network structure.The Service Industries Journal, 30(10), 1757-1771. https://doi.org/10.1080/02642060903580649

2. Buhalis, D. (2000). Marketing the competitive destination of the future. Tourism Management, 21(1), 97-116. https://doi.org/10.1016/S0261-5177(99)00095-3

3. Chính phủ (2025). Thường trực Chính phủ làm việc với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, ngày 27/2/2025.

4. Crouch, G. I., & Ritchie, J. R. B. (1999). Tourism, competitiveness, and societal prosperity. Journal of Business Research, 44(3), 137-152. https://doi.org/10.1016/S0148-2963(97)00196-3

5. Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam (2025). Thông tin du lịch nổi bật năm 2024: Du lịch Việt Nam hoàn thành chỉ tiêu tăng trưởng, là điểm sáng trong phát triển kinh tế - xã hội.

6. Dupeyras, A., & MacCallum, N. (2013). Indicators for measuring competitiveness in tourism: A guidance document (OECD Tourism Papers, No. 2013/02). OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/5k47t9q2t923-en

7. Mitchell, J., & Ashley, C. (2010). Tourism and poverty reduction: Pathways to prosperity. Earthscan.

8. OECD (2025). Building strong and resilient tourism destinations (OECD Tourism Papers). OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/a57c343d-en

9. OECD (2026). OECD tourism trends and policies 2026. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/3fd3cd75-en

10. Porter, M. E. (1998). Clusters and the new economics of competition. Harvard Business Review, 76(6), 77-90.

11. Scheyvens, R. (1999). Ecotourism and the empowerment of local communities. Tourism Management, 20(2), 245-249. https://doi.org/10.1016/S0261-5177(98)00069-7

12. United Nations Environment Programme, & World Tourism Organization (2005). Making tourism more sustainable: A guide for policy makers. UNEP & WTO.

Ngày nhận bài: 7/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 25/9/2026; Ngày duyệt đăng: 5/10/2026

Các tin khác

Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tại Việt Nam, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về tín dụng xanh, quản lý rủi ro môi trường, xã hội và quản trị ngân hàng nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện môi trường, xã hội và quản trị. Các quy định này góp phần thúc đẩy tín dụng xanh, nâng cao tính minh bạch, cải thiện quản trị và tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế của các ngân hàng thương mại.
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Qua phân tích chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại công ty MEDIA, nhóm tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực của Công ty trong thời gian tới.
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh là yêu cầu khách quan đối với các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, nhằm hướng tới giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp thương mại điện tử. Hai chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của chiến lược quản trị quan hệ khách hàng là lòng trung thành thương hiệu và giá trị vòng đời khách hàng.
Đảm bảo an ninh năng lượng thông qua dự trữ xăng dầu quốc gia tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường thế giới biến động

Đảm bảo an ninh năng lượng thông qua dự trữ xăng dầu quốc gia tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường thế giới biến động

Dự trữ năng lượng, đặc biệt là dự trữ xăng dầu và dầu thô, đóng vai trò như một tấm đệm giúp quốc gia ứng phó với các cú sốc nguồn cung, biến động giá cả và rủi ro địa chính trị trên thị trường quốc tế.
Kinh tế tuần hoàn trong xử lý phụ phẩm nông nghiệp: Kinh nghiệm từ mô hình Biomass Town của Nhật Bản

Kinh tế tuần hoàn trong xử lý phụ phẩm nông nghiệp: Kinh nghiệm từ mô hình Biomass Town của Nhật Bản

Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi theo hướng phát thải thấp nhằm đồng thời thực hiện cam kết đưa phát thải ròng về 0 vào năm 2050 và đáp ứng những tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe từ các thị trường xuất khẩu lớn.
Quản trị phát triển kỹ năng số nhằm nâng cao năng suất lao động trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Quản trị phát triển kỹ năng số nhằm nâng cao năng suất lao động trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Dệt may là ngành xuất khẩu và tạo việc làm quan trọng của Việt Nam, nhưng lợi thế dựa vào lao động dồi dào, gia công và chi phí thấp đang chịu sức ép từ tăng tiền lương, giao hàng nhanh, truy xuất nguồn gốc, sản xuất xanh và tự động hóa.
Ứng dụng Blockchain vào chuỗi cung ứng trong ngành thực phẩm tại Việt Nam

Ứng dụng Blockchain vào chuỗi cung ứng trong ngành thực phẩm tại Việt Nam

Trên thế giới, công nghệ này đã được ứng dụng trong các nền tảng truy xuất thực phẩm. Tại Việt Nam, blockchain cũng ngày càng được quan tâm trong quản lý và truy xuất nguồn gốc nông sản.
Trí tuệ nhân tạo tạo sinh và triển vọng chuyển đổi thị trường lao động Việt Nam

Trí tuệ nhân tạo tạo sinh và triển vọng chuyển đổi thị trường lao động Việt Nam

Khác với các làn sóng tự động hóa trước đây vốn tập trung vào các nhiệm vụ thủ công, lặp lại, GenAI có khả năng hỗ trợ hoặc thay thế các nhiệm vụ nhận thức và xử lý thông tin, vốn là nhóm nhiệm vụ gắn liền với lao động văn phòng và trình độ cao.
Thực trạng quản lý các cơ sở giáo dục nghề nghiệp của chính quyền cấp tỉnh Nghệ An trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp

Thực trạng quản lý các cơ sở giáo dục nghề nghiệp của chính quyền cấp tỉnh Nghệ An trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp

Giáo dục nghề nghiệp giữ vị trí đặc biệt trong hệ thống phát triển nguồn nhân lực bởi đây là khu vực trực tiếp chuyển hóa nhu cầu kỹ năng của nền kinh tế thành năng lực nghề nghiệp của người lao động.