Thực trạng quản lý các cơ sở giáo dục nghề nghiệp của chính quyền cấp tỉnh Nghệ An trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp
Nguyễn Bá Thành
NCS ngành Quản lý kinh tế, Trường Đại học Vinh
Email: [email protected]
Tóm tắt
Bài viết phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp của chính quyền cấp tỉnh Nghệ An giai đoạn 2020-2025 trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp. Trên cơ sở tiếp cận quản trị hệ thống kỹ năng, bài viết làm rõ 3 nội dung: hoạch định chính sách và định hướng phát triển; tổ chức thực hiện chính sách và điều phối hoạt động; thanh tra, kiểm tra và giám sát. Kết quả cho thấy Nghệ An đã có chuyển biến về tái cấu trúc mạng lưới, duy trì quy mô đào tạo, mở rộng liên kết doanh nghiệp và cải thiện tỷ lệ việc làm sau đào tạo. Tuy nhiên, quản lý vẫn nặng chỉ tiêu hành chính, dự báo nhu cầu kỹ năng còn yếu, cơ cấu đào tạo nghiêng về sơ cấp, xã hội hóa thấp và giám sát chưa dựa mạnh trên kết quả đầu ra. Bài viết đề xuất chuyển từ quản lý cơ sở đào tạo sang quản trị hệ sinh thái kỹ năng địa phương dựa trên dữ liệu, chất lượng và trách nhiệm giải trình.
Từ khóa: Giáo dục nghề nghiệp, quản lý nhà nước, Nghệ An, chính quyền địa phương hai cấp, hệ thống kỹ năng
Abstract
This article analyzes the current state of the provincial government of Nghe An's management of vocational education and training institutions during the 2020-2025 period, in the context of organizing local government under the two-tier model. Drawing on a skills system governance approach, the article examines three areas: policy planning and development orientation; policy implementation and activity coordination; and inspection, examination, and monitoring. The results show that Nghe An has made progress in restructuring the institutional network, maintaining training scale, expanding enterprise linkages, and improving post-training employment rates. However, management remains heavily focused on administrative targets; skills demand forecasting remains weak; the training structure is skewed toward elementary-level programs; socialization remains limited; and monitoring is not strongly outcome-based. The article proposes a shift from managing training institutions toward data-, quality-, and accountability-based governance of the local skills ecosystem.
Keywords: Vocational education and training, state management, Nghe An, two-tier local government, skills system
ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) giữ vị trí đặc biệt trong hệ thống phát triển nguồn nhân lực bởi đây là khu vực trực tiếp chuyển hóa nhu cầu kỹ năng của nền kinh tế thành năng lực nghề nghiệp của người lao động. Trong bối cảnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và thay đổi nhanh của thị trường lao động, hiệu quả của GDNN vì vậy không thể chỉ được phản ánh qua quy mô cơ sở đào tạo hay số lượng người học, mà cần được xem xét trên phương diện mức độ đáp ứng nhu cầu kỹ năng, khả năng kết nối với doanh nghiệp, chất lượng chuyển tiếp từ đào tạo sang việc làm và năng lực thích ứng của người học. OECD (2023) nhấn mạnh 4 thuộc tính cốt lõi của một hệ thống GDNN hướng tới tương lai gồm: khả năng phản ứng với thay đổi nhu cầu kỹ năng, tính linh hoạt và bao trùm, hỗ trợ chuyển tiếp vào thị trường lao động và đổi mới dựa trên công nghệ số.
Đối với Nghệ An, yêu cầu này có ý nghĩa rõ nét hơn do quy mô dân số lớn, không gian phát triển rộng và cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, dịch vụ hóa và nâng cao năng suất. Theo đó, quản lý các cơ sở GDNN của chính quyền cấp tỉnh cần được tiếp cận như một bộ phận của quản trị phát triển kinh tế - xã hội và quản trị nguồn nhân lực địa phương, thay vì chỉ giới hạn trong quản lý hoạt động giáo dục. Khung pháp lý mới, đặc biệt Luật GDNN số 124/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, tiếp tục đặt GDNN trong yêu cầu đổi mới và thích ứng với bối cảnh phát triển mới.
Nghiên cứu tiếp cận ở góc độ quản trị hệ thống GDNN theo hướng đáp ứng nhu cầu thị trường lao động. Theo cách tiếp cận này, chính quyền cấp tỉnh không chỉ thực hiện chức năng quản lý hành chính đối với các cơ sở GDNN, mà giữ vai trò kiến tạo, điều phối, phân bổ nguồn lực, cung cấp thông tin và giám sát kết quả của toàn bộ hệ sinh thái kỹ năng. Hiệu quả quản lý do đó được phản ánh qua mức độ gắn kết giữa 3 chủ thể: Nhà nước - cơ sở GDNN - doanh nghiệp, với người học là trung tâm của quá trình đào tạo.
Trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp, vấn đề nghiên cứu càng cần được đặt trong góc nhìn quản trị đa cấp và quản trị dựa trên kết quả. Việc tổ chức lại chức năng, thẩm quyền và phương thức phối hợp đặt ra yêu cầu làm rõ ai quyết định, ai thực hiện, ai chịu trách nhiệm và kết quả được đo lường bằng tiêu chí nào trong quản lý các cơ sở GDNN. Từ khung lý thuyết trên, nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng quản lý của chính quyền cấp tỉnh Nghệ An giai đoạn 2020-2025 trên các phương diện: hoạch định và thể chế; tổ chức thực hiện và phối hợp; quản lý cơ sở GDNN và đội ngũ; phân bổ nguồn lực; liên kết doanh nghiệp và thị trường lao động; chuyển đổi số; kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả. Đây là cơ sở để nhận diện những điểm nghẽn trong quản trị hệ thống GDNN của Tỉnh và mở ra các vấn đề cần tiếp tục giải quyết trong điều kiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN
Thực trạng mạng lưới và năng lực cung ứng giáo dục nghề nghiệp
Giai đoạn 2020-2025, tổng số cơ sở GDNN và cơ sở tham gia GDNN trên địa bàn Nghệ An giảm từ 62 xuống 48 cơ sở. Trong cơ cấu hệ thống, số trường cao đẳng ổn định ở mức 9 trường, số trường trung cấp giảm nhẹ từ 13 xuống 12 trường, nhóm trung tâm GDNN/GDNN-GDTX giảm rất mạnh, từ 22 xuống còn 2 trung tâm, trong khi các cơ sở khác tham gia GDNN tăng từ 18 lên 25 cơ sở (Bảng 1). Diễn biến này phản ánh quá trình sắp xếp, tái cấu trúc mạng lưới và đa dạng hóa chủ thể tham gia đào tạo nghề.
Xu hướng tinh gọn có ý nghĩa tích cực vì giúp giảm phân tán nguồn lực, hạn chế trùng lặp ngành nghề và tạo điều kiện tập trung đầu tư cho các cơ sở có năng lực. Tuy nhiên, giảm số lượng cơ sở không tự động tạo ra chất lượng. Nếu không có bản đồ nhu cầu kỹ năng theo vùng, ngành, khu công nghiệp, cụm công nghiệp và nhóm lao động yếu thế, tái cấu trúc có thể làm xuất hiện khoảng trống tiếp cận học nghề, nhất là ở vùng xa và miền núi. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không phải là giảm bao nhiêu đầu mối, mà là sau sắp xếp, chất lượng đào tạo và khả năng phục vụ thị trường lao động có tăng lên hay không.
Bảng 1: Mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp Nghệ An giai đoạn 2020-2025
|
Chỉ tiêu |
2020 |
2021 |
2022 |
2023 |
2024 |
2025 |
|---|---|---|---|---|---|---|
|
Tổng số cơ sở GDNN và cơ sở tham gia GDNN |
62 |
62 |
62 |
60 |
56 |
48 |
|
Trường cao đẳng |
9 |
9 |
9 |
9 |
9 |
9 |
|
Trường trung cấp |
13 |
13 |
13 |
13 |
12 |
12 |
|
Trung tâm GDNN/GDNN-GDTX |
22 |
22 |
22 |
18 |
10 |
2 |
|
Cơ sở khác tham gia GDNN |
18 |
18 |
18 |
20 |
25 |
25 |
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ hệ thống văn bản chỉ đạo, báo cáo quản lý nhà nước về GDNN của UBND tỉnh Nghệ An và các cơ quan chuyên môn giai đoạn 2020-2025
Quy mô đào tạo và mức độ đáp ứng nhu cầu thị trường lao động
Quy mô đào tạo của Nghệ An có xu hướng tăng. Tổng số người được đào tạo tăng từ 60.000 người năm 2020 lên 74.400 người năm 2025; tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 65,5% lên 71,5%; tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ tăng từ 25,5% lên 31,0%; tỷ lệ có việc làm sau đào tạo tăng từ 78,0% lên 82,0% (Bảng 2). Các chỉ tiêu này cho thấy chính quyền tỉnh đã duy trì được động lực phát triển GDNN trong bối cảnh mạng lưới cơ sở được sắp xếp lại.
Bảng 2: Một số chỉ tiêu phát triển giáo dục nghề nghiệp Nghệ An giai đoạn 2020-2025
|
Chỉ tiêu |
2020 |
2021 |
2022 |
2023 |
2024 |
2025 |
|---|---|---|---|---|---|---|
|
Tổng số người được đào tạo |
60.000 |
62.500 |
65.000 |
67.500 |
70.000 |
74.400 |
|
Cao đẳng |
4.800 |
5.000 |
5.200 |
5.400 |
5.600 |
5.900 |
|
Trung cấp |
9.000 |
9.300 |
9.700 |
10.200 |
10.800 |
10.500 |
|
Sơ cấp và dưới 3 tháng |
46.200 |
48.200 |
50.100 |
51.900 |
53.600 |
58.000 |
|
Lao động qua đào tạo (%) |
65,5 |
66,8 |
67,9 |
68,88 |
70,1 |
71,5 |
|
Có bằng/chứng chỉ (%) |
25,5 |
26,5 |
27,2 |
27,96 |
29,0 |
31,0 |
|
Có việc làm sau đào tạo (%) |
78,0 |
79,0 |
80,0 |
80,5 |
81,0 |
82,0 |
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ hệ thống văn bản chỉ đạo, báo cáo quản lý nhà nước về GDNN của UBND tỉnh Nghệ An và các cơ quan chuyên môn giai đoạn 2020-2025
Dù vậy, cơ cấu đào tạo vẫn nghiêng rõ về sơ cấp và dưới 3 tháng. Năm 2025, nhóm này đạt 58.000 người, cao hơn nhiều so với cao đẳng và trung cấp. Điều này phù hợp với nhu cầu đào tạo nhanh và chuyển đổi nghề của lao động nông thôn, nhưng chưa đủ để hình thành lực lượng lao động kỹ thuật trình độ trung và cao cho các ngành công nghiệp, dịch vụ, logistics và các ngành kinh tế mới. Khoảng cách giữa tỷ lệ lao động qua đào tạo và tỷ lệ có chứng chỉ cũng cho thấy phần lớn kỹ năng chưa được chuẩn hóa bằng văn bằng, chứng chỉ chính thức.
Hoạch định chính sách và phân bổ nguồn lực
Hoạch định chính sách GDNN ở Nghệ An đã có chuyển biến khi Tỉnh chủ động cụ thể hóa chiến lược quốc gia, ban hành kế hoạch, giao chỉ tiêu và đặt GDNN trong tổng thể phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, chất lượng hoạch định còn phụ thuộc nhiều vào chỉ tiêu số lượng như: quy mô tuyển sinh, số người đào tạo, tỷ lệ lao động qua đào tạo và tỷ lệ có việc làm. Đây là các chỉ báo cần thiết nhưng chưa đủ để điều hành hệ thống kỹ năng trong bối cảnh thị trường lao động thay đổi nhanh.
Một hệ thống hoạch định hiện đại phải dự báo được ngành nào thiếu lao động kỹ thuật, kỹ năng nào đang lạc hậu, khu công nghiệp nào cần tuyển dụng lớn, chương trình nào tạo ra việc làm tốt và cơ sở nào đào tạo không còn phù hợp. Trong mô hình chính quyền hai cấp, cấp tỉnh phải trực tiếp hơn trong thu thập, tích hợp và phân tích dữ liệu từ cấp xã, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp, trung tâm dịch vụ việc làm và cơ quan thống kê. Nếu thiếu dữ liệu liên thông, chính sách dễ rơi vào tình trạng giao chỉ tiêu hành chính hoặc chạy theo khả năng tuyển sinh ngắn hạn của từng cơ sở.
Nguồn lực tài chính cho GDNN tăng nhưng chưa tạo đột phá. Nguồn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước tăng từ 250.000 triệu đồng lên 280.000 triệu đồng; vốn đầu tư cơ sở vật chất tăng từ 280.000 triệu đồng lên 330.000 triệu đồng; nguồn xã hội hóa tăng từ 35.000 triệu đồng lên 50.000 triệu đồng. Tuy nhiên, tỷ trọng xã hội hóa năm 2025 mới đạt 15,2%, cho thấy doanh nghiệp và khu vực tư nhân chưa trở thành nhà đầu tư thực chất vào đào tạo nghề (Bảng 3).
Bảng 3: Nguồn lực tài chính và nhân sự giáo dục nghề nghiệp Nghệ An giai đoạn 2020-2025
|
Chỉ tiêu |
2020 |
2021 |
2022 |
2023 |
2024 |
2025 |
|---|---|---|---|---|---|---|
|
Nguồn hỗ trợ từ NSNN (triệu đồng) |
250.000 |
260.000 |
265.000 |
270.000 |
273.470 |
280.000 |
|
Vốn đầu tư cơ sở vật chất (triệu đồng) |
280.000 |
290.000 |
300.000 |
310.000 |
321.400 |
330.000 |
|
Nguồn xã hội hóa (triệu đồng) |
35.000 |
38.000 |
40.000 |
45.000 |
47.930 |
50.000 |
|
Tỷ trọng xã hội hóa (%) |
12,5 |
13,1 |
13,3 |
14,5 |
14,9 |
15,2 |
|
Nhà giáo GDNN (người) |
2.650 |
2.680 |
2.700 |
2.710 |
2.719 |
2.730 |
|
Cán bộ quản lý (người) |
550 |
560 |
565 |
568 |
571 |
575 |
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ hệ thống văn bản chỉ đạo, báo cáo quản lý nhà nước về GDNN của UBND tỉnh Nghệ An và các cơ quan chuyên môn giai đoạn 2020-2025
Về nhân sự, số nhà giáo GDNN tăng từ 2.650 lên 2.730 người; cán bộ quản lý tăng từ 550 lên 575 người. Mức tăng này tương đối ổn định, cho thấy thách thức chính không nằm ở số lượng tuyệt đối mà ở chất lượng đội ngũ: năng lực thực hành nghề, năng lực cập nhật công nghệ, năng lực số, năng lực thiết kế chương trình theo chuẩn đầu ra và năng lực hợp tác với doanh nghiệp. Nếu nhà giáo không được bồi dưỡng thường xuyên trong môi trường sản xuất, khoảng cách giữa đào tạo và việc làm sẽ khó thu hẹp.
Tổ chức thực hiện và liên kết các chủ thể trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp
Tổ chức thực hiện chính sách có xu hướng được tăng cường. Số văn bản chỉ đạo, kế hoạch GDNN tăng từ 12 lên 22; số cơ sở được kiểm tra, hướng dẫn tăng từ 25 lên 38; số lớp tập huấn tăng từ 15 lên 27. Công tác điều phối cũng có tiến bộ: số cơ sở được sắp xếp, sáp nhập tăng từ 0 lên 14; số lượt doanh nghiệp hợp tác với cơ sở GDNN tăng từ 220 lên 330; tỷ lệ cơ sở có liên kết doanh nghiệp tăng từ 55% lên 72%; số cơ sở ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý hoặc đào tạo tăng từ 10 lên 40 (Bảng 4).
Những kết quả trên phản ánh nỗ lực điều hành của chính quyền cấp tỉnh, nhưng cũng cần đánh giá thận trọng. Số văn bản tăng không hẳn làm tăng hiệu quả thực thi; số lượt doanh nghiệp hợp tác tăng không đồng nghĩa với liên kết sâu; số cơ sở ứng dụng chuyển đổi số tăng chưa chắc tạo ra quản trị dữ liệu. Liên kết thực chất đòi hỏi doanh nghiệp tham gia xây dựng chuẩn đầu ra, cập nhật chương trình, hỗ trợ thiết bị, tổ chức thực hành và tuyển dụng sau đào tạo. Chuyển đổi số cũng cần vượt khỏi số hóa hồ sơ để hình thành nền tảng dữ liệu về tuyển sinh, học tập, tốt nghiệp, việc làm, doanh nghiệp và kiểm định chất lượng.
Bảng 4: Triển khai chính sách và điều phối hệ thống giáo dục nghề nghiệp Nghệ An giai đoạn 2020-2025
|
Chỉ tiêu |
2020 |
2021 |
2022 |
2023 |
2024 |
2025 |
|---|---|---|---|---|---|---|
|
Văn bản chỉ đạo/kế hoạch GDNN |
12 |
14 |
16 |
18 |
20 |
22 |
|
Cơ sở được kiểm tra, hướng dẫn |
25 |
28 |
30 |
32 |
35 |
38 |
|
Cơ sở được sắp xếp, sáp nhập |
0 |
2 |
4 |
6 |
10 |
14 |
|
Lượt doanhg nghiệp hợp tác với cơ sở GDNN |
220 |
240 |
265 |
290 |
320 |
330 |
|
Tỷ lệ cơ sở có liên kết DN (%) |
55 |
58 |
62 |
65 |
70 |
72 |
|
Cơ sở ứng dụng chuyển đổi số |
10 |
15 |
20 |
28 |
35 |
40 |
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ hệ thống văn bản chỉ đạo, báo cáo quản lý nhà nước về GDNN của UBND tỉnh Nghệ An và các cơ quan chuyên môn giai đoạn 2020-2025
Kết quả đào tạo và khả năng chuyển tiếp vào thị trường lao động
Tỷ lệ có việc làm sau đào tạo của Nghệ An tăng từ 78,0% năm 2020 lên 81,0% vào giai đoạn 2024-2025. Ở trình độ cao đẳng, tỷ lệ có việc làm đạt 98,4%; trung cấp đạt 97,5%; sơ cấp đạt 78,2% (Bảng 5). Sự phân hóa này cho thấy đào tạo chính quy trình độ cao hơn có khả năng gắn với việc làm ổn định hơn so với đào tạo ngắn hạn. Đây là bằng chứng để chính quyền tỉnh điều chỉnh cơ cấu đào tạo, tăng tỷ trọng trung cấp, cao đẳng và đào tạo lại lao động kỹ thuật.
Tuy nhiên, chỉ tiêu “có việc làm” chưa phản ánh đầy đủ chất lượng việc làm. Người học có việc làm sau đào tạo chưa chắc làm đúng nghề, có thu nhập tốt, có hợp đồng ổn định hoặc có khả năng học nâng bậc. Do đó, đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước cần bổ sung các chỉ tiêu như: tỷ lệ làm đúng nghề, thu nhập sau đào tạo, mức độ hài lòng của doanh nghiệp và tỷ lệ doanh nghiệp tuyển dụng lặp lại từ cùng một cơ sở đào tạo.
Kiểm tra, giám sát và bảo đảm chất lượng giáo dục nghề nghiệp
Hoạt động thanh tra, kiểm tra GDNN trên địa bàn tỉnh có xu hướng được tăng cường trong giai đoạn 2020-2025. Số cuộc thanh tra, kiểm tra tăng từ 18 lên 30 cuộc; số cơ sở được kiểm tra tăng từ 22 lên 36 cơ sở; tỷ lệ thực hiện kiến nghị sau thanh tra tăng từ 65% lên 78%; đồng thời số cơ sở được kiểm định chất lượng tăng từ 5 lên 13 cơ sở (Bảng 5). Những kết quả này phản ánh sự gia tăng về mức độ bao phủ và khả năng theo dõi việc chấp hành quy định của các cơ sở GDNN. Tuy nhiên, sự gia tăng về số lượng hoạt động kiểm tra chưa đồng nghĩa với sự chuyển biến tương ứng về chất lượng quản trị. Thực tế cho thấy công tác thanh tra, kiểm tra vẫn có xu hướng tập trung vào tuân thủ quy trình, hồ sơ và điều kiện hoạt động, trong khi các chỉ báo phản ánh hiệu quả thực chất như chất lượng đầu ra, tỷ lệ làm đúng nghề, thu nhập sau đào tạo, mức độ hài lòng của doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng nguồn lực chưa được đặt ở vị trí tương xứng.
Trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu này trở nên rõ nét hơn do phương thức quản lý cần chuyển từ kiểm soát nhiều tầng nấc sang quản trị trực tiếp, phân định rõ trách nhiệm và giám sát dựa trên dữ liệu và kết quả. Cấp tỉnh giữ vai trò chủ đạo trong xây dựng tiêu chuẩn, cơ sở dữ liệu, phân tích rủi ro và tổ chức kiểm tra cần phải nhận diện sớm các vấn đề về chất lượng khi mà mạng lưới GDNN đã được tái cấu trúc mạnh, trong khi quy mô và đặc điểm nhu cầu đào tạo giữa các khu vực trên địa bàn Tỉnh còn khác biệt.
Bảng 5: Kết quả việc làm và thanh tra, giám sát giáo dục nghề nghiệp Nghệ An giai đoạn 2020-2025
|
Chỉ tiêu |
2020 |
2021 |
2022 |
2023 |
2024 |
2025 |
|---|---|---|---|---|---|---|
|
Có việc làm sau đào tạo (%) |
78,0 |
79,0 |
80,0 |
80,5 |
81,0 |
81,0 |
|
Việc làm sau đào tạo cao đẳng (%) |
96,5 |
97,0 |
97,5 |
98,0 |
98,4 |
98,4 |
|
Việc làm sau đào tạo trung cấp (%) |
95,0 |
96,0 |
96,8 |
97,2 |
97,5 |
97,5 |
|
Việc làm sau đào tạo sơ cấp (%) |
75,0 |
76,0 |
77,0 |
77,8 |
78,2 |
78,2 |
|
Số cuộc thanh tra, kiểm tra GDNN |
18 |
20 |
22 |
25 |
28 |
30 |
|
Cơ sở được thanh tra, kiểm tra |
22 |
25 |
28 |
30 |
34 |
36 |
|
Tỷ lệ thực hiện kiến nghị sau thanh tra (%) |
65 |
68 |
70 |
72 |
75 |
78 |
|
Cơ sở được kiểm định chất lượng |
5 |
6 |
7 |
9 |
11 |
13 |
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ hệ thống văn bản chỉ đạo, báo cáo quản lý nhà nước về GDNN của UBND tỉnh Nghệ An và các cơ quan chuyên môn giai đoạn 2020-2025
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Việc quản lý các cơ sở GDNN ở tỉnh Nghệ An đã có những chuyển biến về tổ chức mạng lưới, quy mô đào tạo, huy động nguồn lực, liên kết doanh nghiệp, chuyển đổi số và kiểm tra, giám sát. Tuy nhiên, những kết quả về số lượng chưa hoàn toàn chuyển hóa thành năng lực quản trị và chất lượng đầu ra tương ứng, cho thấy còn nhiều vấn đề đặt ra đối với chính quyền cấp tỉnh Nghệ An trong quản lý GDNN ở mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Có thể khái quát ở những nội dung chính sau:
Một là, đòi hỏi chuyển từ quản lý theo quy mô sang quản trị dựa trên nhu cầu và kết quả. Các chỉ tiêu đào tạo, tỷ lệ lao động qua đào tạo và tỷ lệ có việc làm đã được cải thiện, nhưng hệ thống thông tin chưa đủ để xác định chính xác ngành nghề thiếu hụt, kỹ năng cần bổ sung, nhu cầu tuyển dụng theo địa bàn và hiệu quả của từng cơ sở. Điều này làm hạn chế khả năng hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng và có thể dẫn tới phân bổ nguồn lực theo chỉ tiêu hành chính thay vì theo nhu cầu thực tế của nền kinh tế.
Hai là, nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Nguồn ngân sách, đầu tư cơ sở vật chất và xã hội hóa đều tăng, nhưng tỷ trọng xã hội hóa mới đạt 15,2% năm 2025; đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý tăng về số lượng nhưng yêu cầu về năng lực công nghệ, kỹ năng số và khả năng phối hợp với doanh nghiệp vẫn chưa được giải quyết tương xứng.
Ba là, chuyển từ liên kết hình thức sang quản trị hệ sinh thái kỹ năng. Tỷ lệ cơ sở có liên kết doanh nghiệp tăng lên 72%, nhưng liên kết cần được đánh giá bằng mức độ doanh nghiệp tham gia xây dựng chuẩn đầu ra, chương trình đào tạo, thực hành và tuyển dụng, thay cho số lượt hợp tác. Tương tự, chuyển đổi số cần vượt khỏi số hóa hồ sơ để hình thành hệ thống dữ liệu liên thông về người học, việc làm, doanh nghiệp và chất lượng đào tạo.
Bốn là, đổi mới phương thức giám sát trong mô hình chính quyền hai cấp. Khi cấp tỉnh giữ vai trò trực tiếp hơn trong hoạch định, điều phối và giám sát, yêu cầu đặt ra là phải phân định rõ trách nhiệm, tăng tính liên thông dữ liệu và chuyển từ kiểm tra tuân thủ sang giám sát theo rủi ro và kết quả. Với Nghệ An, điều này đặc biệt quan trọng khi mạng lưới GDNN vừa được tái cấu trúc, nhu cầu kỹ năng giữa các khu vực còn khác biệt và hiệu quả đào tạo chưa thể hiện đầy đủ qua chỉ tiêu “có việc làm”.
Như vậy, trọng tâm cải cách quản lý GDNN của Nghệ An không còn nằm ở việc mở rộng hay thu hẹp đơn thuần số lượng cơ sở, mà ở khả năng thiết lập một hệ thống quản trị dựa trên dữ liệu, nhu cầu kỹ năng, hiệu quả đầu ra và trách nhiệm giải trình. Đây là nền tảng để chính quyền cấp tỉnh thực hiện tốt hơn vai trò kiến tạo, điều phối và giám sát hệ thống GDNN trong điều kiện chính quyền địa phương hai cấp.
HÀM Ý CHÍNH SÁCH
Để giải quyết các điểm nghẽn cốt lõi trong quản lý nhà nước về GDNN, gắn với yêu cầu phát triển nhân lực và đặc thù tổ chức chính quyền địa phương hai cấp của Nghệ An, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Thứ nhất, quy hoạch lại mạng lưới theo nhu cầu nhân lực thực tế. Sau sắp xếp, Nghệ An cần chuyển từ mục tiêu giảm đầu mối sang tối ưu hóa mạng lưới GDNN theo không gian kinh tế và nhu cầu kỹ năng. Việc tổ chức lại cơ sở phải đồng thời bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực và khả năng tiếp cận đào tạo của khu vực miền núi, vùng xa; hạn chế tình trạng cơ sở tồn tại nhưng quy mô nhỏ, ngành nghề trùng lặp hoặc không đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp.
Thứ hai, chuyển từ giao chỉ tiêu đào tạo sang quản lý theo nhu cầu thị trường lao động. Quy mô đào tạo tăng nhưng cơ cấu vẫn thiên về sơ cấp và dưới 3 tháng, trong khi nhu cầu lao động kỹ thuật trung và cao còn lớn. Vì vậy, Tỉnh cần xây dựng cơ chế dự báo nhu cầu kỹ năng, làm căn cứ xác định ngành nghề, quy mô và trình độ đào tạo; từng bước chuyển từ quản lý số lượng người học sang quản lý chất lượng và khả năng đáp ứng nhu cầu việc làm.
Thứ ba, tái phân bổ nguồn lực theo chất lượng và hiệu quả. Nguồn lực ngân sách và đầu tư tăng nhưng xã hội hóa còn thấp, trong khi chất lượng đội ngũ chưa theo kịp yêu cầu công nghệ và thị trường. Theo đó, đổi mới phân bổ ngân sách theo hướng ưu tiên nguồn lực cho các ngành nghề có nhu cầu cao, cơ sở đào tạo có năng lực và kết quả đẩu ra tốt. Đồng thời, hoàn thiện hành lang chính sách để thu hút mạnh mẽ doanh nghiệp tham gia đầu tư thiết bị, phát triển chương trình và đội ngũ.
Thứ tư, làm sâu sắc liên kết doanh nghiệp và chuyển đổi số. Nâng tầm doanh nghiệp từ đối tượng phối hợp lên vai trò đối tác chiến lược trong đồng thiết kế, đồng đào tạo và tuyển dụng. Xây dựng và vận hành thông suốt cơ sở dữ liệu GDNN gắn kết chặt chẽ với thị trường lao động.
Thứ năm, chuyển kiểm tra hành chính sang giám sát chất lượng và kết quả. Hoạt động thanh tra, kiểm tra tăng nhưng vẫn thiên về tuân thủ hồ sơ, quy trình, trong khi các chỉ tiêu về chất lượng việc làm, hiệu quả sử dụng nguồn lực và mức độ hài lòng của doanh nghiệp chưa được coi là trọng tâm. Cần chuyển sang giám sát theo rủi ro và kết quả, tập trung vào các cơ sở có dấu hiệu chất lượng thấp, việc làm thấp hoặc sử dụng nguồn lực kém hiệu quả.
Thứ sáu, thiết lập cơ chế quản trị phù hợp với chính quyền địa phương hai cấp. Cấp tỉnh cần tập trung vào chiến lược, quy hoạch mạng lưới, dữ liệu, phân bổ nguồn lực, đặt hàng đào tạo và giám sát kết quả; cấp xã cung cấp thông tin về nhu cầu học nghề, nhu cầu lao động và phản hồi từ cơ sở. Qua đó hình thành cơ chế quản lý “Tỉnh điều phối - cơ sở thực hiện - doanh nghiệp đồng hành - xã cung cấp thông tin - dữ liệu hỗ trợ quyết định”, thay cho phương thức quản lý nặng về hồ sơ và chỉ tiêu.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Cục Thống kê tỉnh Nghệ An (2025). Niên giám Thống kê tỉnh Nghệ An năm 2024.
3. HĐND tỉnh Nghệ An (2025). Nghị quyết số 29/NQ-HĐND ngày 10/7/2025 về kết quả giám sát chuyên đề việc thực hiện công tác quy hoạch, sắp xếp mạng lưới trường, lớp tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
4. OECD (2023). Building future-ready vocational education and training systems. OECD Publishing. https://www.oecd.org/en/publications/building-future-ready-vocational-education-and-training-systems_28551a79-en.html
5. Quốc hội (2014). Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13 ngày 27/11/2014.
6. Quốc hội (2025a). Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15.
7. Quốc hội (2025b). Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15ngày 10/12/2025.
8. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 2239/QĐ-TTg ngày 30/12/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển GDNN giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
9. UBND tỉnh Nghệ An (2022). Kế hoạch số 188/KH-UBND ngày 20/3/2022 thực hiện Đề án số 14-ĐA/TU về đào tạo, phát triển nhân lực có kỹ năng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030.
10. UBND tỉnh Nghệ An (2024). Quyết định số 1937/QĐ-UBND ngày 31/7/2024 về việc giao chỉ tiêu tuyển sinh, đào tạo giáo dục nghề nghiệp năm 2024.
11. World Bank (2013). Skilling up Vietnam: Preparing the workforce for a modern market economy.
| Ngày nhận bài: 4/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 15/9/2026; Ngày duyệt đăng: 2/10/2026 |
Các tin khác
Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn
Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị
Đảm bảo an ninh năng lượng thông qua dự trữ xăng dầu quốc gia tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường thế giới biến động
Kinh tế tuần hoàn trong xử lý phụ phẩm nông nghiệp: Kinh nghiệm từ mô hình Biomass Town của Nhật Bản
Quản trị phát triển kỹ năng số nhằm nâng cao năng suất lao động trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
Ứng dụng Blockchain vào chuỗi cung ứng trong ngành thực phẩm tại Việt Nam