Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách
NCS. Đinh Tiến Lợi
Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh
PGS, TS. Phạm Văn Tài
Khoa Kinh tế và Quản lý công nghiệp, Trường Đại học Công Thương TP.Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
Tóm tắt
Thuốc thuộc nhóm hàng hoá mà người mua gần như không thể tự thẩm định chất lượng, ngay cả sau khi đã sử dụng. Đặc tính này khiến cấu trúc kênh phân phối trở thành yếu tố quyết định mức rủi ro thuốc giả, bên cạnh năng lực kiểm nghiệm. Trên cơ sở Lý thuyết hàng hoá tin cậy và Lý thuyết chi phí giao dịch, nghiên cứu xây dựng khung phân tích nối 6 đặc điểm cấu trúc kênh với cơ chế phát sinh rủi ro, dùng khung này để chẩn đoán thực trạng và đối chiếu tác động của Luật Dược năm 2024. Kết quả cho thấy, Luật tạo 2 tác động ngược chiều: thừa nhận chuỗi nhà thuốc thúc đẩy tích hợp dọc và thu hẹp điểm thâm nhập; còn hợp pháp hoá thương mại điện tử mở thêm bề mặt rủi ro nếu hậu kiểm không theo kịp. Nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp lấy truy xuất nguồn gốc điện tử làm trục, mỗi giải pháp gắn với một đặc điểm cấu trúc và một chỉ số giám sát tương ứng.
Từ khoá: Phân phối dược phẩm, thuốc giả, Luật Dược 2024
Abstract
Medicines are a category of goods whose quality buyers can hardly assess independently, even after use. This characteristic makes distribution channel structure a decisive factor in counterfeit medicine risk, alongside testing capacity. Drawing on Signaling Theory and Transaction Cost Theory, this study develops an analytical framework that links six channel structure characteristics to risk-generation mechanisms and applies it to diagnose the current situation and examine the impacts of the 2024 Law on Pharmacy. The results show that the Law generates two opposing effects: recognizing pharmacy chains promotes vertical integration and reduces points of entry, while legalizing e-commerce creates additional risk exposure if post-market surveillance fails to keep pace. The study proposes four groups of solutions centered on electronic traceability, with each solution linked to a specific structural characteristic and a corresponding monitoring indicator.
Keywords: Pharmaceutical distribution, counterfeit medicines, 2024 Law on Pharmacy
GIỚI THIỆU
Ngành dược Việt Nam đang tăng trưởng nhanh, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Tổng giá trị thị trường dược phẩm tăng từ 2,7 tỷ USD năm 2015 lên khoảng 7 tỷ USD năm 2025 và được dự báo đạt 10 tỷ USD trong năm 2026; cả nước hiện có trên 5.000 cơ sở bán buôn và trên 62.000 cơ sở bán lẻ thuốc (Minh Huy, 2026). Tuy nhiên, năm 2025 chứng kiến một loạt vụ việc nghiêm trọng. Chẳng hạn như tháng 4/2025, Công an tỉnh Thanh Hoá triệt phá đường dây sản xuất, buôn bán thuốc tân dược giả trên phạm vi toàn quốc, bắt giữ 14 đối tượng và thu giữ 21 loại thuốc giả. Cục Quản lý Dược sau đó có văn bản cảnh báo và công bố danh mục 21 sản phẩm thuốc giả này, trong đó 4 loại giả mạo thuốc đã được Bộ Y tế cấp phép lưu hành (Cục Quản lý Dược - Bộ Y tế, 2025). Điểm chung của các vụ việc bị phát hiện không nằm ở trình độ làm giả, mà ở cách hàng hoá ra thị trường: sản phẩm đi vòng qua chuỗi dài các đầu mối, khiến cả người mua lẫn cơ quan quản lý mất dấu xuất xứ.
Sau gần một thập niên áp dụng Luật Dược năm 2016 (Quốc hội, 2016), khuôn khổ pháp lý của ngành có thay đổi lớn nhất: Luật số 44/2024/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/7/2025 lần đầu xác lập cơ sở pháp lý của mô hình chuỗi nhà thuốc và cho phép kinh doanh dược theo phương thức thương mại điện tử (TMĐT) (Quốc hội, 2024).
Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào xem cấu trúc kênh phân phối như một biến giải thích cho rủi ro thuốc giả. Từ đó, nghiên cứu đặt 3 câu hỏi: (i) Những đặc điểm nào trong cấu trúc kênh bán lẻ làm gia tăng rủi ro thuốc giả và qua cơ chế nào; (ii) Thực trạng từng đặc điểm hiện ở mức nào và Luật Dược sửa đổi 2024 tác động ra sao; (iii) Cần giải pháp gì để việc hiện đại hoá kênh chuyển hoá thành mức giảm rủi ro.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Lý thuyết hàng hoá tin cậy
Darby và Karni (1973) phân loại hàng hoá theo khả năng thẩm định của người mua thành hàng hoá tìm kiếm, hàng hoá kinh nghiệm và hàng hoá tin cậy - loại mà người mua không thể đánh giá ngay cả sau khi đã sử dụng. Thuốc thuộc nhóm thứ ba: bệnh nhân không phân biệt được việc bệnh không thuyên giảm là do thuốc giả, do liều chưa đủ hay do diễn biến tự nhiên. Dulleck và Kerschbamer (2006) chỉ ra hệ quả then chốt: cơ chế phản hồi của người tiêu dùng gần như mất tác dụng, nên gian lận tồn tại lâu dài mà không bị đào thải. Akerlof (1970) bổ sung góc nhìn vĩ mô: khi không phân biệt được chất lượng, người mua chỉ trả mức giá phản ánh chất lượng bình quân, đẩy sản phẩm chính hãng ra khỏi phân khúc nhạy cảm về giá. Hệ quả chính sách là niềm tin đối với thuốc phải được cung cấp bởi cấu trúc kênh và chuỗi niềm tin ấy chỉ vững bằng mắt xích yếu nhất.
Lý thuyết chi phí giao dịch và lựa chọn cấu trúc quản trị
Williamson (1979, 1985) lập luận rằng, hình thức tổ chức giao dịch được lựa chọn nhằm tối thiểu hoá chi phí giao dịch, trong đó chi phí thẩm định và giám sát đối tác giữ vai trò trung tâm khi thông tin bất đối xứng. Vận dụng vào phân phối dược phẩm, mỗi tầng trung gian làm phát sinh một lần thẩm định mới; khi số tầng tăng và mỗi tầng lại giao dịch với nhiều đối tác, tổng chi phí xác minh tăng nhanh hơn tuyến tính, đến ngưỡng mà các chủ thể nhỏ buộc phải từ bỏ thẩm định thực chất và chuyển sang tin cậy dựa trên quan hệ. Đây chính là kẽ hở mà các đường dây thuốc giả khai thác.
Truy xuất nguồn gốc như một cơ chế thay thế cho tích hợp dọc
Aung và Chang (2014) khái quát vai trò của hệ thống truy xuất trong chuỗi hàng hoá nhạy cảm về an toàn: truy xuất không ngăn được gian lận ngay từ đầu nhưng làm tăng xác suất bị phát hiện và cho phép thu hồi có mục tiêu. Xét theo khung chi phí giao dịch, truy xuất điện tử hạ chi phí xác minh xuống mức mà ngay cả nhà thuốc độc lập quy mô nhỏ cũng thực hiện được, nghĩa là nó thay thế được một phần vai trò của tích hợp dọc.
Trên cơ sở các trụ cột lý thuyết và khoảng trống vừa nêu, nghiên cứu đề xuất một khung phân tích nối 6 đặc điểm cấu trúc của kênh bán lẻ với cơ chế phát sinh rủi ro và bộ chỉ số giám sát tương ứng (Bảng 1).
Bảng 1: Khung phân tích: từ đặc điểm cấu trúc kênh đến rủi ro thuốc giả
|
Đặc điểm cấu trúc kênh |
Cơ sở lý thuyết |
Cơ chế tác động |
Chỉ số giám sát |
|---|---|---|---|
|
Số tầng trung gian |
Chi phí giao dịch |
Mỗi tầng là một điểm đứt gãy hồ sơ nguồn gốc |
Số tầng trung gian bình quân trên một lô |
|
Mức phân tán điểm bán lẻ |
Kinh tế quy mô trong giám sát |
Chi phí thanh tra mỗi cơ sở cao, tần suất kiểm tra thấp |
Số cơ sở bán lẻ trên một cán bộ thanh tra |
|
Đặc tính hàng hoá tin cậy |
Darby và Karni (1973) |
Người mua không thẩm định được nên gian lận không bị đào thải |
Tỷ lệ người mua tra cứu nguồn gốc |
|
Mức tích hợp dọc |
Williamson (1979, 1985) |
Chuỗi nội bộ hoá khâu mua hàng, giảm điểm thâm nhập |
Tỷ trọng doanh số qua cơ sở thuộc chuỗi |
|
Khả năng truy xuất điện tử |
Aung và Chang (2014) |
Hạ chi phí xác minh xuống mức cơ sở nhỏ thực hiện được |
Tỷ lệ lô thuốc tra cứu được |
|
Kênh TMĐT |
Thể chế; thông tin bất đối xứng |
Hai chiều: ghi nhận được nếu trong luồng, khó kiểm nếu ngoài luồng |
Tỷ trọng đơn hàng qua cơ sở hợp pháp |
Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả
THỰC TRẠNG CẤU TRÚC KÊNH PHÂN PHỐI VÀ RỦI RO THUỐC GIẢ
Áp dụng khung phân tích vào thực tiễn Việt Nam, trước hết cần định lượng mức độ phân tán của mạng lưới bán lẻ, bởi đây là đặc điểm chi phối đồng thời chi phí giám sát và dư địa tích hợp dọc. Bảng 2 tổng hợp quy mô, cơ cấu mạng lưới bán lẻ dược phẩm giai đoạn 2023-2026.
Bảng 2: Cấu trúc mạng lưới bán lẻ dược phẩm Việt Nam giai đoạn 2023-2026
|
Chỉ tiêu |
Giá trị |
|---|---|
|
Tổng số cơ sở bán lẻ thuốc |
Trên 62.000 cơ sở (năm 2026) |
|
Tỷ trọng cơ sở bán lẻ độc lập |
Khoảng 93% về số cơ sở |
|
Số điểm bán thuộc chuỗi hiện đại |
2.698 (2023); 3.242 (2024); 3.459 (2025); 4.088 (2026) |
|
Phân bố chuỗi hiện đại (2026) |
Ngoài Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh 2.496 điểm bán (61%); TP. Hồ Chí Minh 1.120; Hà Nội 472 |
|
Quy mô các chuỗi dẫn đầu (2026) |
Long Châu 2.381; Pharmacity 1.065; An Khang 415 |
|
Hiệu quả chuỗi dẫn đầu |
Long Châu đạt doanh thu 34.501 tỷ đồng năm 2025, tăng 36% so với năm trước |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ Q&Me (2026), Minh Huy (2026) và Trường Thanh (2026)
Dữ liệu (Bảng 2) cho thấy:
Thứ nhất, phân mảnh là đặc trưng nổi bật nhất: với trên 62.000 cơ sở bán lẻ mà các chuỗi hiện đại chỉ chiếm 4.088 điểm bán, khoảng 93% cơ sở còn lại là nhà thuốc, quầy thuốc độc lập, mỗi cơ sở tự quyết định nguồn hàng và tự thẩm định nhà cung cấp. Với năng lực và động cơ thẩm định rất khác nhau giữa hàng chục nghìn chủ thể, độ tin cậy của kênh được quyết định bởi nhóm cơ sở yếu nhất chứ không phải mức bình quân.
Thứ hai, tập trung hoá đang diễn ra nhưng chậm so với quy mô: Số điểm bán thuộc chuỗi tăng từ 2.698 lên 4.088 trong 3 năm, tương đương khoảng 51%, song vẫn chỉ chiếm khoảng 6%-7% tổng số cơ sở bán lẻ. Xét về an toàn dược phẩm, số điểm bán mới là chỉ tiêu có ý nghĩa chứ không phải tỷ trọng doanh số, bởi mỗi cơ sở đều là một cửa ngõ tiềm năng để thuốc giả tiếp cận người bệnh.
Thứ ba, sự phân hoá giữa các chuỗi cho thấy tập trung hoá không phải quá trình tự động: Long Châu mở rộng lên 2.381 nhà thuốc và đạt doanh thu 34.501 tỷ đồng năm 2025, trong khi An Khang từng thu hẹp từ đỉnh 527 cửa hàng xuống còn 326 cửa hàng cuối năm 2024 rồi mới phục hồi lên 415 cửa hàng năm 2026. Hàm ý là không thể trông đợi thị trường tự giải quyết bài toán phân mảnh trong ngắn hạn, do đó giải pháp phải nhắm vào các biến can thiệp được.
Cấu trúc phân mảnh đó tạo điều kiện cho một khuôn mẫu thâm nhập nhất quán, thể hiện rõ qua các vụ việc bị phát hiện năm 2025 và khớp với dự đoán của khung phân tích. Trong chuyên án tại Thanh Hoá, lô hàng giả đi qua một chuỗi dài các đầu mối và điểm tập kết trước khi tới tay người bệnh; chính độ dài lộ trình đó khiến việc lần ngược xuất xứ trở nên bất khả thi, đúng cơ chế mà số tầng trung gian gây ra (Cục Quản lý Dược - Bộ Y tế, 2025). Đối tượng bị nhắm tới cũng có quy luật: các nhãn thuốc đã có tiếng bị nhái, người tiêu thụ chủ yếu là người cao tuổi, phụ nữ và trẻ nhỏ, tức những nhóm ít có điều kiện thẩm định nhất - biểu hiện trực tiếp của đặc tính hàng hoá tin cậy.
Quy mô kinh tế của hoạt động này không nhỏ. Đường dây bán thuốc y học cổ truyền giả mang tên “Hoàng Minh Đường” bị Công an tỉnh Thanh Hoá triệt phá tháng 3/2026 đã thực hiện gần 87.000 đơn hàng trong giai đoạn 2023-2025, thu lợi bất chính hơn 227 tỷ đồng, phần lớn qua kênh bán hàng trực tuyến và quảng cáo trên mạng xã hội (AT, 2026). Kênh ngoài luồng vì vậy đã đạt quy mô thương mại, cạnh tranh với kênh chính thức trên 2 tiêu chí giá và sự tiện lợi - đúng cơ chế lựa chọn ngược mà Akerlof (1970) mô tả. Hệ quả không chỉ là thiệt hại sức khoẻ trước mắt mà còn là sự xói mòn niềm tin đối với toàn bộ kênh, kể cả các cơ sở tuân thủ nghiêm túc.
Trong bối cảnh cấu trúc và cơ chế thâm nhập nêu trên, Luật số 44/2024/QH15 cùng văn bản hướng dẫn thi hành là Nghị định số 163/2025/NĐ-CP (Chính phủ, 2025) tác động đến cấu trúc kênh theo 2 hướng ngược nhau: Hướng làm thu hẹp và Hướng làm mở rộng bề mặt rủi ro. Cụ thể:
Hướng thứ nhất là thúc đẩy tích hợp dọc, tác động vào mức tích hợp dọc của kênh bán lẻ. Lần đầu tiên chuỗi nhà thuốc được thừa nhận là một hình thức tổ chức kinh doanh dược, với điều kiện gồm từ 2 nhà thuốc trở lên hoạt động dưới cùng tên thương mại và cùng một hệ thống quản lý chất lượng thống nhất; Luật cũng cho phép luân chuyển thuốc và người chịu trách nhiệm chuyên môn trong chuỗi. Theo Lý thuyết chi phí giao dịch, quy định này hạ chi phí vận hành của mô hình tích hợp dọc. Về an toàn dược phẩm, ý nghĩa nằm ở cụm từ “hệ thống quản lý chất lượng thống nhất”: khi hàng nghìn cơ sở dùng chung một quy trình mua hàng và một danh sách nhà cung cấp đã thẩm định, số điểm mà thuốc giả có thể thâm nhập giảm từ hàng nghìn xuống còn vài chục.
Hướng thứ hai là mở rộng bề mặt rủi ro, tác động vào kênh TMĐT. Luật cho phép kinh doanh dược theo phương thức TMĐT với phạm vi giới hạn tương đối chặt: bán lẻ trực tuyến chỉ áp dụng cho thuốc không kê đơn; thuốc kê đơn chỉ được bán trực tuyến khi có bệnh truyền nhiễm nhóm A đã công bố dịch; thuốc phải kiểm soát đặc biệt bị cấm. Cơ sở kinh doanh phải thông báo hoạt động tới cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, hiệu lực thực tế của các giới hạn này phụ thuộc hoàn toàn vào năng lực hậu kiểm. Bán thuốc ngoài luồng qua mạng xã hội đã tồn tại trước khi luật có hiệu lực, và hợp pháp hoá kênh chính thức không tự động triệt tiêu kênh ngoài luồng. Trái lại, khi mua thuốc trực tuyến trở thành hành vi bình thường, người tiêu dùng mất đi tín hiệu cảnh báo vốn có: trước đây việc bán thuốc trên mạng xã hội tự nó đã là dấu hiệu bất thường, còn nay ranh giới giữa cơ sở hợp pháp và cơ sở trá hình khó nhận biết hơn.
Tổng hợp toàn bộ các phân tích trên theo 6 đặc điểm của khung, Bảng 3 đánh giá mức độ rủi ro hiện tại và khả năng can thiệp của từng đặc điểm.
Bảng 3: Đánh giá mức độ rủi ro của từng đặc điểm cấu trúc
|
Đặc điểm |
Thực trạng hiện nay |
Mức rủi ro |
Khả năng can thiệp |
|---|---|---|---|
|
Số tầng trung gian |
Chuỗi phân phối dài, hồ sơ nguồn gốc đứt gãy |
Cao |
Trung bình |
|
Mức phân tán điểm bán lẻ |
Trên 62.000 cơ sở, khoảng 93% là cơ sở độc lập |
Rất cao |
Thấp |
|
Đặc tính hàng hoá tin cậy |
Nhóm dễ tổn thương nhất bị nhắm tới |
Cao |
Thấp |
|
Mức tích hợp dọc |
Chuỗi chiếm khoảng 6-7% số điểm bán, tăng chậm |
Trung bình |
Trung bình |
|
Khả năng truy xuất điện tử |
Chưa có hệ thống bắt buộc cấp lô |
Cao |
Cao |
|
Kênh TMĐT |
Vừa hợp pháp hoá, kênh ngoài luồng còn tồn tại |
Cao |
Cao |
Nguồn: Đánh giá của tác giả trên cơ sở dữ liệu
Dữ liệu (Bảng 3) cho thấy một logic can thiệp rõ ràng: Hai đặc điểm rủi ro cao nhất là mức phân tán điểm bán lẻ và đặc tính hàng hoá tin cậy lại có khả năng can thiệp thấp nhất, vì một bên thuộc về cấu trúc thị trường và một bên thuộc về bản chất của hàng hoá. Ngược lại, khả năng truy xuất điện tử và kênh TMĐT vừa có mức rủi ro cao vừa can thiệp được ngay bằng công cụ chính sách. Đây là căn cứ để đề xuất lấy truy xuất nguồn gốc điện tử làm trục của hệ giải pháp trình bày ở phần tiếp theo.
HÀM Ý GIẢI PHÁP
Một là, triển khai truy xuất nguồn gốc điện tử bắt buộc theo lộ trình có trọng điểm nhằm xử lý khả năng truy xuất còn yếu của kênh. Thay vì áp dụng đồng loạt cho toàn bộ danh mục thuốc, nên bắt đầu từ nhóm thuốc có tần suất bị làm giả cao nhất theo dữ liệu cảnh báo của Cục Quản lý Dược, yêu cầu gắn mã định danh cấp lô tra cứu được tại điểm bán bằng thiết bị di động thông thường.
Hai là, gắn điều kiện kinh doanh TMĐT với năng lực truy xuất, nhằm xử lý bề mặt rủi ro mới mở ra ở kênh trực tuyến. Cụ thể, chỉ tiếp nhận thông báo hoạt động TMĐT đối với cơ sở đã kết nối dữ liệu bán hàng với hệ thống quản lý ngành. Cách thiết kế này biến quy định về TMĐT từ một rủi ro tiềm tàng thành một công cụ giám sát: giao dịch trực tuyến để lại dấu vết điện tử mà giao dịch tại quầy không có, nên nếu được đưa vào luồng chính thức thì kênh số hoàn toàn có thể minh bạch hơn kênh truyền thống.
Ba là, hỗ trợ nhà thuốc độc lập gia nhập mô hình liên kết nhằm nâng mức tích hợp dọc mà không đòi hỏi sáp nhập sở hữu. Vì tích hợp dọc hoàn toàn qua các chuỗi lớn sẽ mất nhiều năm và có thể làm giảm khả năng tiếp cận thuốc ở địa bàn xa, cần hình thức trung gian như hợp tác xã dược, nhượng quyền có kiểm soát chất lượng, hoặc nền tảng mua chung do hiệp hội vận hành. Mục tiêu không phải xoá bỏ nhà thuốc độc lập mà là đưa họ vào một hệ thống thẩm định nhà cung cấp dùng chung.
Bốn là, chuyển trọng tâm thanh tra từ điểm bán sang tầng bán buôn, xử lý mức phân tán của mạng lưới bằng cách khai thác chính kinh tế quy mô trong giám sát. Với trên 62.000 cơ sở bán lẻ, thanh tra theo xác suất tại điểm bán có hiệu quả răn đe thấp và chi phí cao. Ngược lại, số cơ sở bán buôn ít hơn nhiều lần và mỗi cơ sở lại là nút thắt của hàng trăm điểm bán lẻ; tập trung nguồn lực vào tầng này cho hiệu quả trên một đơn vị chi phí cao hơn hẳn, đồng thời gián tiếp rút ngắn số tầng trung gian của chuỗi phân phối.
Bảng 4 tóm tắt quan hệ giữa 4 nhóm giải pháp với đặc điểm cấu trúc mà mỗi nhóm xử lý, kèm chỉ số theo dõi và chủ thể chịu trách nhiệm chính.
Bảng 4: Ánh xạ giải pháp với đặc điểm cấu trúc và chỉ số theo dõi
|
Giải pháp |
Đặc điểm xử lý |
Chỉ số theo dõi |
Chủ thể chính |
|---|---|---|---|
|
Truy xuất điện tử theo lộ trình trọng điểm |
Khả năng truy xuất điện tử; số tầng trung gian |
Tỷ lệ lô thuốc tra cứu được tại điểm bán |
Bộ Y tế |
|
Gắn điều kiện TMĐT với năng lực truy xuất |
Kênh TMĐT |
Tỷ trọng đơn hàng qua cơ sở hợp pháp |
Bộ Y tế; Bộ Công Thương |
|
Hỗ trợ nhà thuốc độc lập gia nhập mô hình liên kết |
Mức tích hợp dọc; mức phân tán điểm bán lẻ |
Tỷ trọng doanh số qua cơ sở thuộc chuỗi hoặc liên kết |
Hiệp hội ngành dược |
|
Chuyển trọng tâm thanh tra sang tầng bán buôn |
Mức phân tán điểm bán lẻ; số tầng trung gian |
Số cơ sở bán lẻ trên một cán bộ thanh tra |
Sở Y tế địa phương |
Nguồn: Đề xuất của tác giả
Tài liệu tham khảo:
1. Akerlof, G. A. (1970). The market for lemons: Quality uncertainty and the market mechanism. The Quarterly Journal of Economics, 84(3), 488-500.
2. AT. (2026). Triệt phá đường dây lừa đảo dưới danh nghĩa phòng khám "Hoàng Minh Đường. https://baochinhphu.vn/triet-pha-duong-day-lua-dao-duoi-danh-nghia-phong-kham-hoang-minh-duong-102260312104551111.htm
3. Aung, M. M., and Chang, Y. S. (2014). Traceability in a food supply chain: Safety and quality perspectives. Food Control, 39, 172-184.
4. Chính phủ (2025). Nghị định số 163/2025/NĐ-CP ngày 29/6/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Dược.
5. Cục Quản lý Dược - Bộ Y tế (2025). Công văn số 1135/QLD-CL ngày 19/4/2025 cảnh báo thuốc giả, thuốc lưu hành trái phép trên thị trường và danh mục 21 sản phẩm thuốc giả.
6. Darby, M. R., and Karni, E. (1973). Free competition and the optimal amount of fraud. The Journal of Law and Economics, 16(1), 67-88.
7. Dulleck, U., and Kerschbamer, R. (2006). On doctors, mechanics, and computer specialists: The economics of credence goods. Journal of Economic Literature, 44(1), 5-42.
8. Minh Huy (2026). Hướng mốc 10 tỷ USD vào 2026, ngành dược tăng tốc thu hút đầu tư và mở rộng sản xuất. https://vneconomy.vn/huong-moc-10-ty-usd-vao-2026-nganh-duoc-tang-toc-thu-hut-dau-tu-va-mo-rong-san-xuat.htm
9. Q&Me (2026). Báo cáo thị trường chuỗi nhà thuốc hiện đại Việt Nam.
10. Quốc hội (2016). Luật Dược, số 105/2016/QH13, ngày 6/4/2016.
11. Quốc hội (2024). Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược, số 44/2024/QH15, ngày 21/11/2024.
12. Trường Thanh (2026). Long Châu, Pharmacity và An Khang: Khi cuộc đua nhà thuốc không còn chỉ là số điểm bán. https://nguoiquansat.vn/long-chau-pharmacity-va-an-khang-khi-cuoc-dua-nha-thuoc-khong-con-chi-la-so-diem-ban-303030.html
13. Williamson, O. E. (1979). Transaction-cost economics: The governance of contractual relations. The Journal of Law and Economics, 22(2), 233-261.
14. Williamson, O. E. (1985). The economic institutions of capitalism: Firms, markets, relational contracting. New York: Free Press.
| Ngày nhận bài: 28/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 25/9/2026; Ngày duyệt đăng: 29/9/2026 |
Các tin khác
Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn
Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị
Đảm bảo an ninh năng lượng thông qua dự trữ xăng dầu quốc gia tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường thế giới biến động
Kinh tế tuần hoàn trong xử lý phụ phẩm nông nghiệp: Kinh nghiệm từ mô hình Biomass Town của Nhật Bản
Quản trị phát triển kỹ năng số nhằm nâng cao năng suất lao động trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
Ứng dụng Blockchain vào chuỗi cung ứng trong ngành thực phẩm tại Việt Nam