Các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên Trường Đại học Thăng Long
Ngô Thị Quyên, Lê Thị Hà Thu,
Lê Thị Ngọc Linh, Vũ Minh Hằng,
Phạm Thị Loan, Mai Thị Diệu Thúy
Trường Đại học Thăng Long
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên Trường Đại học Thăng Long. Dữ liệu được thu thập từ 400 sinh viên năm thứ hai trở lên thuộc nhiều ngành đào tạo khác nhau và được xử lý bằng mô hình cấu trúc tuyến tính bình phương tối thiểu từng phần. Kết quả nghiên cứu cho thấy Kiểm soát hành vi nhận thức và Thái độ đối với khởi sự kinh doanh có tác động thuận chiều và có ý nghĩa thống kê đến Dự định khởi sự kinh doanh, trong đó Kiểm soát hành vi nhận thức là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất. Nhân tố Chuẩn chủ quan có tác động thuận chiều nhưng ở mức thấp, trong khi Giáo dục khởi sự kinh doanh và Sự hỗ trợ của trường đại học chưa cho thấy ảnh hưởng trực tiếp có ý nghĩa thống kê. Từ kết quả đó, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao năng lực thực tiễn, tư duy đổi mới sáng tạo và môi trường hỗ trợ khởi nghiệp cho sinh viên.
Từ khóa: Ý định khởi sự kinh doanh, thái độ đối với khởi sự kinh doanh, giáo dục khởi sự kinh doanh
Abstract
This study examines the factors influencing the entrepreneurial intention of students at Thang Long University. Data were collected from 400 second-year and senior students across various academic disciplines and analyzed using the Partial Least Squares Structural Equation Modeling approach. The findings reveal that perceived behavioral control and attitude toward entrepreneurship have positive and statistically significant effects on entrepreneurial intention, with perceived behavioral control identified as the strongest influencing factor. Subjective norms were found to exert a positive but relatively weak impact, whereas entrepreneurship education and university support showed no statistically significant direct effects. From these findings, the study proposes several recommendations to enhance students’ practical competencies, innovative thinking, and the entrepreneurial support environment.
Keywords: Entrepreneurial intention, attitude toward entrepreneurship, entrepreneurship education
GIỚI THIỆU
Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo phát triển mạnh mẽ, khởi sự kinh doanh ngày càng được xem là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tại Việt Nam, tinh thần khởi nghiệp đã trở thành một định hướng chiến lược với nhiều chính sách hỗ trợ tiêu biểu như Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 và Quyết định số 1665/QĐ-TTg ngày 30/10/2017 của Thủ tướng Chính phủ nhằm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp trong học sinh, sinh viên. Tuy nhiên, giữa định hướng chính sách và thực tiễn vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể.
Trong bối cảnh đó, việc thúc đẩy tinh thần khởi sự kinh doanh trong sinh viên không chỉ góp phần giảm áp lực việc làm mà còn tạo điều kiện để người học chủ động kiến tạo giá trị cho bản thân và xã hội. Với định hướng đào tạo ứng dụng cùng hệ sinh thái sinh viên năng động, Trường Đại học Thăng Long được xem là môi trường thuận lợi để nuôi dưỡng ý tưởng và tinh thần khởi nghiệp. Tuy nhiên, các hoạt động hỗ trợ hiện nay chủ yếu vẫn mang tính phong trào, tập trung vào việc nâng cao nhận thức ban đầu thông qua các cuộc thi và chương trình trải nghiệm. Trong khi đó, chưa có nhiều nghiên cứu định lượng chuyên sâu đánh giá cơ chế hình thành dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên trong bối cảnh đặc thù của Nhà trường. Vì vậy, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên Trường Đại học Thăng Long có ý nghĩa quan trọng, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện chương trình đào tạo và xây dựng môi trường hỗ trợ khởi nghiệp hiệu quả hơn.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Khởi sự kinh doanh được xem là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đổi mới sáng tạo và tạo việc làm. Vì vậy, nghiên cứu về dự định khởi sự kinh doanh, đặc biệt trong nhóm sinh viên đại học - lực lượng doanh nhân tiềm năng trong tương lai - ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm từ giới học thuật và các nhà hoạch định chính sách.
Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã vận dụng Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) để giải thích dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên. Nghiên cứu của Ye Jung Kim và Ji Young Lim (2019) cho thấy thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi đều tác động tích cực đến dự định khởi sự kinh doanh. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ thực hiện trên sinh viên điều dưỡng nên tính khái quát còn hạn chế.
Tương tự, nghiên cứu của Shixue Dong và cộng sự (2024) tại Trung Quốc cũng khẳng định 3 yếu tố trong mô hình TPB đều ảnh hưởng đến dự định khởi sự, trong đó thái độ là yếu tố tác động mạnh nhất. Trong khi đó, Rym Belgaroui và cộng sự (2025) mở rộng mô hình nghiên cứu khi bổ sung các yếu tố như xu hướng chấp nhận rủi ro, hỗ trợ tài chính và giáo dục khởi nghiệp; kết quả cho thấy chuẩn chủ quan không có tác động đáng kể đến dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên nữ.
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyen (2015) cho thấy cả 3 thành phần của TPB đều ảnh hưởng đến dự định khởi sự kinh doanh, trong đó cảm nhận kiểm soát hành vi có tác động mạnh nhất. Nghiên cứu của Trần và cộng sự (2017) tiếp tục mở rộng mô hình bằng cách bổ sung các yếu tố như cảm nhận rủi ro, nhân khẩu học và chương trình giáo dục khởi sự kinh doanh. Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn chưa được kiểm định trên phạm vi rộng.
Ngoài ra, Duong (2019) cho rằng chuẩn chủ quan hầu như không tác động trực tiếp đến dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên Việt Nam mà chủ yếu ảnh hưởng gián tiếp thông qua thái độ, năng lực và sự tự tin của cá nhân. Điều này cho thấy các yếu tố nội tại đóng vai trò quan trọng hơn trong việc hình thành dự định khởi sự của sinh viên.
Mô hình nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý thuyết, nhóm tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu (Hình 1) gồm 5 nhân tố ảnh hưởng đến Dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên Trường Đại học Thăng Long, đó là: Thái độ đối với khởi sự kinh doanh, Chuẩn chủ quan, Kiểm soát hành vi nhận thức, Giáo dục khởi sự kinh doanh, Sự hỗ trợ của trường đại học.
Hình 1: Mô hình nghiên cứu
![]() |
Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả
Thang đo các biến trong mô hình được giải thích tại Bảng 1.
Bảng 1: Thang đo các biến trong mô hình
| Mã hóa | Thang đo |
|---|---|
| Dự định khởi sự kinh doanh | |
| YD1 | Tôi có kế hoạch rõ ràng để bắt đầu kinh doanh trong vòng 1-3 năm tới |
| YD2 | Tôi chắc chắn sẽ cố gắng hết sức để thực hiện dự định khởi sự kinh doanh này |
| YD3 | Tôi rất có dự định trở thành một doanh nhân sau khi tốt nghiệp |
| YD4 | Hiện tại tôi đã có dự định khởi sự ngay khi đang đi học |
| Thái độ đối với khởi sự kinh doanh | |
| TH1 | Khởi sự kinh doanh là một con đường sự nghiệp rất hấp dẫn đối với tôi |
| TH2 | Khởi sự kinh doanh sẽ giúp tôi đạt được độc lập tài chính và tự chủ |
| TH3 | Khởi sự kinh doanh là một việc đáng làm (mang lại giá trị) cho bản thân và xã hội |
| TH4 | Tôi tin rằng lợi ích của việc khởi sự kinh doanh lớn hơn rủi ro và chi phí |
| TH5 | Tôi sẵn sàng vượt qua các khó khăn để đạt được kết quả khởi sự kinh doanh tốt |
| Chuẩn chủ quan | |
| CMXH1 | Gia đình và người thân quan trọng khuyến khích, đánh giá cao nếu tôi khởi sự kinh doanh |
| CMXH2 | Bạn bè thân thiết của tôi sẽ đánh giá cao nếu tôi khởi sự kinh doanh |
| CMXH3 | Nếu tôi quyết định khởi sự kinh doanh những người quan trọng khác của tôi sẽ ủng hộ quyết định đó |
| Kiểm soát hành vi nhận thức | |
| NTNL1 | Tôi tin rằng tôi có đủ kiến thức và kỹ năng để bắt đầu kinh doanh |
| NTNL2 | Tôi dễ dàng tìm kiếm/huy động được các nguồn lực (tài chính, nhân lực, công cụ) cần thiết |
| NTNL3 | Tôi có khả năng vượt qua các trở ngại phát sinh trong quá trình khởi sự kinh doanh |
| NTNL4 | Quyết định khởi sự kinh doanh của tôi là hoàn toàn tự chủ và không bị kiểm soát bởi yếu tố bên ngoài |
| NTNL5 | Tôi đã lên kế hoạch để phát triển dự án khởi sự kinh doanh của mình |
| Giáo dục khởi sự kinh doanh | |
| GD1 | Các khóa học/chương trình về khởi sự kinh doanh đã giúp tôi có cái nhìn thực tế về việc kinh doanh |
| GD2 | Chất lượng giáo dục khởi sự kinh doanh mà tôi nhận được tại trường là rất tốt |
| GD3 | Tôi cảm thấy tự tin hơn vào khả năng khởi sự kinh doanh sau khi tham gia học khởi sự kinh doanh ở trường |
| GD4 | Giáo viên đã giúp tôi nhận thấy khởi sự kinh doanh dự định có tiềm năng |
| Sự hỗ trợ của trường đại học | |
| HTĐH1 | Trường tôi cung cấp đủ thông tin, kiến thức và tài liệu về cơ hội/quy trình khởi sự kinh doanh |
| HTĐH2 | Tôi có thể dễ dàng tiếp cận với các chuyên gia/mentor từ trường để xin lời khuyên |
| HTĐH3 | Trường tôi tạo ra một môi trường năng động và hỗ trợ cho hoạt động khởi sự kinh doanh |
Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với 400 mẫu khảo sát. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát sinh viên từ năm thứ hai trở lên tại Trường Đại học Thăng Long từ tháng 12/2025-2/2026. Bảng hỏi được thiết kế trên nền tảng Google Forms và phân phối đến sinh viên thông qua Microsoft Teams, các kênh truyền thông xã hội và khảo sát trực tiếp tại lớp học. Các biến quan sát liên quan đến những nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh được đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ. Để kiểm định thang đo và các giả thuyết nghiên cứu, nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích định lượng gồm hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và mô hình cấu trúc tuyến tính bình phương tối thiểu từng phần (PLS-SEM) với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS Statistics 27.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
Nhóm tác giả thực hiện điều tra sinh viên hệ chính quy Trường Đại học Thăng Long thuộc 6 ngành học. Kết quả cho thấy sự tập trung lớn nhất nằm ở Khoa Kinh tế - Quản lý với 44% số lượng phản hồi. Các khoa khác lần lượt chiếm tỷ lệ là: Khoa Ngôn ngữ (16,5%), Khoa Du lịch (16%), Khoa Toán - Tin học (10%), Khoa Truyền thông đa phương tiện (7%) và Khoa Khoa học xã hội & Nhân văn (6,5%).
Về giới tính, trong số 400 sinh viên tham gia trả lời, nữ sinh viên chiếm tỷ trọng áp đảo với 65% (tương đương 260 sinh viên), trong khi nam sinh viên chiếm 34,8% (tương đương 139 sinh viên). Sự chênh lệch này được nhóm tác giả đánh giá là phản ánh đúng đặc thù đào tạo của Trường Đại học Thăng Long, nơi các khối ngành về Kinh tế, Ngôn ngữ và Du lịch thường thu hút số lượng lớn sinh viên nữ.
Về năm học, mẫu nghiên cứu có sự đại diện của nhiều khóa, trong đó sinh viên năm thứ 3 chiếm tỷ lệ lớn nhất với 47,5%. Tiếp theo là sinh viên năm thứ 4 (24,7%), năm thứ 2 (17,8%) và sinh viên từ năm thứ 5 trở lên chiếm 10%. Điều này cho thấy số liệu có tính thực tiễn cao vì sinh viên năm 3 và năm 4 là nhóm đối tượng đang chuẩn bị bước vào thị trường lao động và có những định hướng rõ rệt nhất về việc khởi nghiệp.
Phân tích EFA
Kết quả phân tích EFA cho thấy dữ liệu hoàn toàn phù hợp để thực hiện phân tích nhân tố khi hệ số KMO = 0,96 (> 0,5). Đồng thời, kiểm định Bartlett có Sig. = 0,000 < 0,05, chứng tỏ các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể. Giá trị Eigenvalue = 1,217 > 1 cho thấy các nhân tố được rút trích có ý nghĩa giải thích dữ liệu. Bên cạnh đó, tổng phương sai trích đạt 69,27% > 50%, cho thấy 6 nhân tố trong mô hình giải thích được 69,27% sự biến thiên của dữ liệu, phản ánh mức độ hội tụ và khả năng giải thích của mô hình ở mức tốt.
Phân tích PLS-SEM
Kết quả phân tích hệ số tải ngoài (outer loading) cho thấy tất cả các biến quan sát thuộc 6 nhân tố nghiên cứu đều đạt giá trị cao, dao động từ 0,805 đến 0,907. Các giá trị này đều vượt ngưỡng tiêu chuẩn tối thiểu 0,7, chứng tỏ các biến quan sát có ý nghĩa và đóng góp tích cực trong việc giải thích các nhân tố tiềm ẩn tương ứng. Đồng thời, không có biến nào có hệ số tải dưới 0,4 hoặc nằm trong khoảng cần xem xét loại bỏ (0,4 < x < 0,7), vì vậy toàn bộ biến quan sát được giữ lại nhằm đảm bảo tính nhất quán và độ tin cậy của mô hình nghiên cứu.
Hệ số Cronbach’s Alpha của các nhân tố dao động từ 0,838 đến 0,923, đều vượt xa ngưỡng 0,7, cho thấy các thang đo đạt độ tin cậy nội tại rất tốt. Bên cạnh đó, hệ số tin cậy tổng hợp (CR) nằm trong khoảng từ 0,903 đến 0,945. Các giá trị này không chỉ vượt ngưỡng yêu cầu mà còn tiến gần đến 1, phản ánh mức độ nhất quán cao và độ nhiễu của dữ liệu ở mức thấp.
Đối với phương sai trích trung bình (AVE), tất cả các nhân tố đều đạt giá trị từ 0,715 đến 0,812, cao hơn đáng kể so với ngưỡng kỳ vọng 0,5. Điều này khẳng định thang đo đạt giá trị hội tụ tốt, đồng thời cho thấy mô hình đo lường phù hợp với đặc điểm mẫu khảo sát tại Trường Đại học Thăng Long.
Kết quả kiểm định VIF cho thấy toàn bộ các biến quan sát trong mô hình đều đáp ứng điều kiện về tính độc lập, không xuất hiện hiện tượng đa cộng tuyến gây ảnh hưởng đến ý nghĩa thống kê của các hệ số đường dẫn. Ngoài ra, biến phụ thuộc Dự định khởi sự kinh doanh (YD) có giá trị R² = 0,691 và R² hiệu chỉnh = 0,687. Kết quả này cho thấy các biến độc lập trong mô hình đã giải thích được 68,7% sự biến thiên của dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên Trường Đại học Thăng Long.
Bảng 2: Kết quả phân tích mô hình cấu trúc và kiểm định mối quan hệ giữa các nhân tố
| Mối quan hệ | Original sample (O) | Sample mean (M) | STDEV | T statistics | P-values |
|---|---|---|---|---|---|
| CMXH -> YD | 0,092 | 0,089 | 0,047 | 1,946 | 0,052 |
| GD -> YD | 0,093 | 0,092 | 0,076 | 1,237 | 0,216 |
| HTĐH -> YD | -0,019 | -0,015 | 0,066 | 0,287 | 0,774 |
| NTNL -> YD | 0,504 | 0,503 | 0,051 | 9,897 | 0,000 |
| TH -> YD | 0,247 | 0,250 | 0,057 | 4,316 | 0,000 |
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra
Kết quả phân tích ở Bảng 2 cho thấy Kiểm soát hành vi nhận thức (NTNL) có tác động thuận chiều mạnh nhất đến biến phụ thuộc YD với hệ số hồi quy chuẩn hóa đạt 0,504 và mang dấu dương (+). Điều này chứng tỏ, khi NTNL được cải thiện thì YD cũng gia tăng tương ứng. Cụ thể, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, khi NTNL tăng 1 đơn vị thì YD tăng trung bình 0,504 đơn vị. Đồng thời, giá trị P-value = 0,000 < 0,05, khẳng định mối quan hệ giữa NTNL và YD có ý nghĩa thống kê vững chắc.
Nhân tố Thái độ đối với khởi sự kinh doanh (TH) có hệ số hồi quy chuẩn hóa mang dấu dương (+) với giá trị 0,247, cho thấy mối quan hệ tác động thuận chiều đến YD. Đây là nhân tố có mức độ ảnh hưởng mạnh thứ hai trong mô hình nghiên cứu. Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, khi TH tăng thêm 1 đơn vị thì YD sẽ tăng trung bình 0,247 đơn vị. Bên cạnh đó, giá trị P-value = 0,000 < 0,05 cho thấy tác động của TH đến YD là có ý nghĩa thực tiễn.
Đối với nhân tố Chuẩn chủ quan (CMXH), hệ số hồi quy chuẩn hóa đạt 0,092 và mang dấu dương (+), phản ánh xu hướng tác động thuận chiều đến YD. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của nhân tố này còn khá thấp so với các biến còn lại trong mô hình. Giá trị P-value = 0,052 xấp xỉ ngưỡng ý nghĩa 0,05, cho thấy mối quan hệ này chưa đạt ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Tuy nhiên, nếu xem xét ở mức ý nghĩa 10% (α = 0,1), có thể chấp nhận rằng CMXH có tác động thuận chiều nhẹ đến YD. Điều này cho thấy CMXH có đóng góp nhất định vào sự hình thành dự định khởi sự, nhưng chưa đóng vai trò mang tính quyết định như các nhân tố cốt lõi khác.
Trong khi đó, nhân tố Giáo dục khởi sự kinh doanh (GD) và Sự hỗ trợ của trường đại học (HTĐH) có giá trị P-value lần lượt là 0,216 và 0,774, đều lớn hơn 0,05. Kết quả này cho thấy chưa có đủ bằng chứng thống kê để khẳng định tác động trực tiếp của hai nhân tố này đến dự định khởi sự của sinh viên trong bối cảnh nghiên cứu. Điều này có thể được lý giải bởi tại môi trường đại học, các chương trình hỗ trợ hay hoạt động giáo dục chủ yếu đóng vai trò cung cấp nền tảng kiến thức, công cụ và định hướng ban đầu. Để chuyển hóa thành dự định khởi sự cụ thể, sinh viên vẫn cần quá trình hình thành động lực cá nhân, thay đổi nhận thức và nâng cao năng lực thực tiễn, đặc biệt thông qua các yếu tố như thái độ và năng lực nội tại.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Kết quả nghiên cứu cho thấy, Dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên Trường Đại học Thăng Long chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi 2 nhân tố: Kiểm soát hành vi nhận thức và Thái độ đối với khởi sự kinh doanh. Trong đó, Kiểm soát hành vi nhận thức là yếu tố tác động mạnh nhất. Nhân tố Chuẩn chủ quan chỉ có tác động thuận chiều ở mức yếu, trong khi Giáo dục khởi sự kinh doanh và Sự hỗ trợ của trường đại học chưa cho thấy ảnh hưởng trực tiếp có ý nghĩa thống kê đến dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên.
Từ những kết quả thu được, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị đối với Trường Đại học Thăng Long nhằm thúc đẩy dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên trong thời gian tới:
Thứ nhất, Nhà trường cần vượt qua mô hình giảng dạy lý thuyết hàn lâm truyền thống để kiến tạo một môi trường học thuật nuôi dưỡng tư duy đổi mới sáng tạo một cách thực chất. Việc lồng ghép các học phần chuyên sâu về quản trị kinh doanh, kỹ năng nhận diện rủi ro và phát hiện cơ hội thị trường vào chương trình học chính khóa của đa dạng các khoa, ngành tại trường là vô cùng cần thiết.
Thứ hai, đẩy mạnh và chuyên nghiệp hóa các hoạt động ngoại khóa mang tính ứng dụng cao. Nhà trường nên tạo cơ chế khuyến khích và hỗ trợ tối đa để sinh viên tham gia vận hành các câu lạc bộ khởi nghiệp, các hội chợ thương mại mô phỏng ngay trong khuôn viên trường.
Thứ ba, thiết lập một hệ thống hạ tầng hỗ trợ khởi sự đồng bộ, trong đó trọng tâm là việc xây dựng các trung tâm ươm tạo doanh nghiệp (startup incubators) hoặc không gian làm việc chung (co-working space) chuyên biệt dành riêng cho sinh viên của trường.
Tài liệu tham khảo:
1 Cuong Nguyen (2015). Entrepreneurial intention in Vietnam: Same as everywhere? Journal of Asia Entrepreneurship and Sustainability, 11(4), 108-135.
2. Duong Cong Danh (2019). Applying the theory of planned behavior to explore the factors influencing university students’ entrepreneurial intention in Vietnam. Doctoral dissertation, National Economics University.
3. Rym Belgaroui, et al. (2025). Extending the theory of planned behaviour to understand entrepreneurial intention among female university students in Saudi Arabia: The role of entrepreneurship education. Journal of Posthumanism, 5(5), 4226-4246.
4. Shixue Dong, & Yuancheng Chang (2024). The theory of planned behavior explored in entrepreneurial intentions among university students in Shandong Province, China. Journal of Infrastructure, Policy and Development, 8(10).
5. Thủ tướng Chính phủ (2017). Quyết định số 1665/QĐ-TTg ngày 30/10/2017 về việc phê duyệt Đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025”.
6. Thủ tướng Chính phủ (2016). Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 về việc phê duyệt Đề án“Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”.
7. Trần Thị Ngọc Trang & Nguyễn Thị Mỹ Anh (2017). Ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên Việt Nam: Vai trò điều tiết của tính sáng tạo. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 244, 68-77.
8. Ye Jung Kim, & Ji Young Lim (2019). Factors influencing entrepreneurial intention of nursing students based on theory of planned behavior. Journal of Korean Academy of Nursing Administration, 25(3), 175-185.
| Ngày nhận bài: 27/3/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/5/2026; Ngày duyệt đăng: 24/5/2026 |
Các tin khác
Phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở TP. Hà Nội: Thực trạng và giải pháp
Vai trò của kế toán quản trị trong xây dựng chiến lược định giá bán sản phẩm tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
Phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên
Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam
Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị
Kinh nghiệm quản trị nhà nước của Singapore và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo tại tỉnh An Giang
Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai
