Các nhân tố ảnh hưởng tới sự lựa chọn phương tiện vận tải xanh của sinh viên của sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh

Nghiên cứu - Trao đổi 20:14 | 25/06/2026
Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương tiện vận tải xanh của sinh viên góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chính sách và giải pháp thúc đẩy giao thông xanh trong đô thị.

Trần Văn Tuấn; Email: [email protected]

Trần Vy Anh; Email: [email protected]

Trần Thị Mỹ Hoà; Email: [email protected]

Trần Thị Thu Hương; Email: [email protected]

Phan Lê Mai Hương; Email: [email protected]

Đặng Ngô Lam Khánh; Email: [email protected]

Trường Đại học Giao thông vận tải TP. Hồ Chí Minh

Tóm tắt

Nghiên cứu này tập trung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương tiện vận tải xanh của sinh viên của sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh. Dựa trên lý thuyết tiện ích ngẫu nhiên và lý thuyết hành vi có kế hoạch, nghiên cứu đề xuất mô hình gồm 6 nhân tố: Chuẩn mực xã hội, Bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng, Tiện lợi, Giá vé hợp lý, Nhận thức và điểm rèn luyện, Thương hiệu. Dữ liệu được thu thập từ khảo sát sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh và phân tích bằng SPSS. Kết quả cho thấy, tất cả các nhân tố đều tác động tích cực đến quyết định lựa chọn phương tiện vận tải xanh, trong đó Giá vé hợp lý và Tiện lợi, đi êm có ảnh hưởng mạnh nhất. Nghiên cứu đồng thời chỉ ra rằng, tỷ lệ sử dụng phương tiện xanh của sinh viên vẫn còn thấp do những hạn chế về hạ tầng và khả năng kết nối. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý nhằm thúc đẩy sử dụng phương tiện vận tải xanh và phát triển giao thông bền vững tại TP. Hồ Chí Minh.

Từ khóa: Vận tải xanh, phương tiện vận tải xanh, hành vi lựa chọn của sinh viên, giao thông bền vững, TP. Hồ Chí Minh

Abstract

This study examines the factors influencing students’ choice of green transportation in Ho Chi Minh City. Based on the Random Utility Theory (RUT) and the Theory of Planned Behavior (TPB), the study proposes a research model consisting of six factors, namely Social Norms, Environmental Protection and Public Health, Convenience, Reasonable Fare, Awareness and Conduct Scores, and Brand. Data were collected from surveys of students in Ho Chi Minh City and analyzed using SPSS. The findings reveal that all factors positively affect students’ decisions to use green transportation, with Reasonable Fare and Convenience having the strongest influence. The study also indicates that the proportion of students using green transportation remains relatively low due to limitations in infrastructure and connectivity. From those findings, several implications are proposed to promote the use of green transportation and support sustainable urban transport development in Ho Chi Minh City.

Keywords: Green transportation, green transport modes, students’ choice behavior, sustainable transportation, Ho Chi Minh City

GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và yêu cầu phát triển bền vững ngày càng trở nên cấp thiết, giao thông xanh đang được xem là một trong những giải pháp quan trọng nhằm giảm ùn tắc, hạn chế ô nhiễm môi trường và nâng cao chất lượng sống tại các đô thị lớn ở Việt Nam. Đặc biệt, tại TP. Hồ Chí Minh, sự gia tăng mạnh mẽ của phương tiện cá nhân trong nhiều năm qua đã tạo áp lực lớn lên hệ thống hạ tầng giao thông, đồng thời làm gia tăng phát thải khí nhà kính và ô nhiễm không khí. Trước thực trạng đó, nhiều chính sách khuyến khích sử dụng các phương tiện vận tải xanh như xe buýt công cộng, metro và xe điện đã được triển khai nhằm hướng tới mục tiêu phát triển giao thông bền vững. Tuy nhiên, mức độ sử dụng các phương tiện này trên thực tế vẫn còn hạn chế, đặc biệt trong nhóm người trẻ.

Sinh viên được xem là nhóm đối tượng có nhu cầu di chuyển thường xuyên, khả năng thích nghi nhanh với các xu hướng mới và có vai trò quan trọng trong việc hình thành thói quen tiêu dùng cũng như hành vi giao thông bền vững trong tương lai. Quyết định lựa chọn phương tiện vận tải của sinh viên không chỉ chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố kinh tế và mức độ thuận tiện, mà còn liên quan đến nhận thức môi trường, tác động xã hội và hình ảnh thương hiệu của các loại hình vận tải xanh. Do đó, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương tiện vận tải xanh của sinh viên có ý nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chính sách và giải pháp thúc đẩy giao thông xanh trong đô thị.

Xuất phát từ những vấn đề trên, nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương tiện vận tải xanh của sinh viên của sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất một số hàm ý nhằm khuyến khích hành vi sử dụng phương tiện giao thông thân thiện với môi trường trong nhóm đối tượng này.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Các lý thuyết nền tảng

Lý thuyết tiện ích ngẫu nhiên (RUT) được xem là một trong những nền tảng lý thuyết quan trọng trong nghiên cứu hành vi lựa chọn phương tiện giao thông. Theo lý thuyết này, cá nhân được giả định là những chủ thể ra quyết định hợp lý và sẽ lựa chọn phương án di chuyển mang lại mức tiện ích cao nhất trong số các lựa chọn khả thi (McFadden, 1974). Tiện ích của mỗi loại hình phương tiện được hình thành từ các yếu tố có thể quan sát như thời gian di chuyển, chi phí, mức độ tiện nghi và khả năng tiếp cận, đồng thời chịu ảnh hưởng bởi đặc điểm cá nhân như thu nhập, độ tuổi và thói quen di chuyển. Bên cạnh đó, RUT cũng thừa nhận sự tồn tại của các yếu tố khó quan sát như tâm lý cá nhân, thời tiết hay điều kiện giao thông, khiến hành vi lựa chọn mang tính ngẫu nhiên và được phản ánh thông qua thành phần sai số trong hàm tiện ích.

Bên cạnh RUT, Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) cũng được sử dụng phổ biến để giải thích hành vi lựa chọn phương tiện vận tải xanh. TPB cho rằng ý định thực hiện hành vi là yếu tố dự báo trực tiếp hành vi thực tế và được hình thành từ 3 thành phần chính gồm thái độ đối với hành vi, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Trong lĩnh vực giao thông bền vững, TPB được vận dụng nhằm phân tích các yếu tố tâm lý và xã hội ảnh hưởng đến ý định sử dụng các phương tiện thân thiện với môi trường. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy thái độ tích cực đối với phương tiện xanh, sự ủng hộ từ cộng đồng và nhận thức về khả năng sử dụng phương tiện đều có tác động đáng kể đến quyết định lựa chọn phương thức di chuyển của người dùng (Chen và Chao, 2011).

Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa Lý thuyết RUT và TPB, kết hợp với tổng quan các nghiên cứu trước và thực tiễn giao thông đô thị tại TP. Hồ Chí Minh, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 6 nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương tiện vận tải xanh của sinh viên của sinh viên. Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu được trình bày tại Bảng 1 và Hình.

Bảng 1: Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết

Chiều tác động

H1

Chuẩn mực xã hội “xanh bền vững” có tác động tích cực đến sự lựa chọn phương tiện vận tải xanh của sinh viên của sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh

(+)

H2

Bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng có tác động tích cực đến sự lựa chọn phương tiện vận tải xanh của sinh viên của sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh

(+)

H3

Tiện lợi, đi êm có tác động cùng chiều đến sự lựa chọn phương tiện vận tải xanh của sinh viên của sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh

(+)

H4

Giá vé hợp lý có tác động cùng chiều đến sự lựa chọn phương tiện vận tải xanh của sinh viên của sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh

(+)

H5

Nhận thức và điểm rèn luyện có tác động tích cực đến sự lựa chọn phương tiện vận tải xanh của sinh viên của sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh

(+)

H6

Thương hiệu có tác động tích cực đến quyết định lựa chọn sử dụng phương tiện vận tải xanh của sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh

(+)

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

Hình: Mô hình nghiên cứu

Các nhân tố ảnh hưởng tới sự lựa chọn phương tiện vận tải xanh của sinh viên của sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện thông qua 2 giai đoạn gồm nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Ở giai đoạn định tính, nhóm tác giả tiến hành tổng hợp và phân tích các tài liệu học thuật, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến hành vi lựa chọn phương tiện giao thông và vận tải xanh nhằm xây dựng cơ sở lý thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu. Trên cơ sở kế thừa lý thuyết TPB, RUT cùng các nghiên cứu trước, các biến nghiên cứu và thang đo được điều chỉnh phù hợp với bối cảnh sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh, từ đó hình thành mô hình nghiên cứu và hệ thống giả thuyết cần kiểm định.

Ở giai đoạn định lượng, dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát bằng bảng câu hỏi cấu trúc sẵn đối với sinh viên đang học tại các trường đại học và cao đẳng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Các biến quan sát được đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ nhằm đánh giá mức độ đồng ý của người trả lời đối với từng phát biểu nghiên cứu. Dữ liệu sau khi thu thập được làm sạch, mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS. Nghiên cứu sử dụng các kỹ thuật phân tích gồm thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan Pearson và hồi quy tuyến tính đa biến nhằm xác định mức độ tác động của các yếu tố đến quyết định lựa chọn phương tiện vận tải xanh của sinh viên. Kết quả phân tích là cơ sở để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và đánh giá mức độ phù hợp của mô hình đề xuất với dữ liệu thực tế.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đánh giá độ tin cậy của thang đo

Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha cho thấy các thang đo trong mô hình đều đạt yêu cầu về tính nhất quán nội tại. Cụ thể, các nhân tố gồm Chuẩn mực xã hội “xanh bền vững” (0,834), Bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng (0,748), Tiện lợi, đi êm (0,830), Giá vé hợp lý (0,801), Nhận thức và điểm rèn luyện (0,789) và Sự lựa chọn phương tiện vận tải xanh của sinh viên (0,816) đều có hệ số Cronbach’s Alpha > 0,7, đáp ứng tiêu chuẩn đề xuất của Hair và cộng sự (2019). Riêng nhân tố Thương hiệu có hệ số Alpha đạt 0,684, tuy thấp hơn so với các thang đo còn lại nhưng vẫn vượt ngưỡng chấp nhận 0,6 và đảm bảo độ tin cậy để tiếp tục đưa vào các bước phân tích tiếp theo. Bên cạnh đó, tất cả các biến quan sát đều có hệ số tương quan biến - tổng hiệu chỉnh lớn hơn 0,3, cho thấy các biến đều đạt yêu cầu và không có biến nào bị loại khỏi mô hình nghiên cứu.

Phân tích EFA

Nghiên cứu tiến hành phân tích EFA nhằm kiểm định giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của các thang đo trong mô hình nghiên cứu. Kết quả kiểm định cho thấy hệ số KMO đạt 0,878 (> 0,5) và kiểm định Bartlett có mức ý nghĩa Sig. < 0,001, chứng tỏ dữ liệu hoàn toàn phù hợp để thực hiện phân tích EFA.

Kết quả EFA ở lần phân tích cuối cùng cho thấy 24 biến quan sát hội tụ thành 6 nhóm nhân tố với tổng phương sai trích đạt 62,281% (> 50%), cho thấy các nhân tố trong mô hình có khả năng giải thích hơn 62% sự biến thiên của dữ liệu. Trong quá trình phân tích, 2 biến quan sát TH4 và GV4 đã bị loại do không đạt yêu cầu về hệ số tải nhân tố. Các biến còn lại đều có hệ số tải > 0,5, đáp ứng tiêu chuẩn về giá trị hội tụ và đảm bảo tính phân biệt giữa các nhân tố trong mô hình nghiên cứu.

Phân tích tương quan

Kết quả phân tích tương quan Pearson cho thấy, các biến trong mô hình nghiên cứu đều có mối tương quan tuyến tính với nhau và phần lớn đạt ý nghĩa thống kê ở mức 1% (Sig. < 0,01) hoặc 5% (Sig. < 0,05). Hệ số tương quan giữa các biến dao động từ 0,095 đến 0,697, phản ánh mức độ tương quan từ yếu đến trung bình khá. Trong đó, biến phụ thuộc về Sự lựa chọn phương tiện vận tải xanh của sinh viên (SD) có tương quan mạnh nhất với biến Giá vé hợp lý (GV) với hệ số r = 0,697, tiếp theo là Tiện lợi, đi êm (TL) với r = 0,659 và Bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng (EC) với r = 0,575. Ngược lại, mối tương quan thấp nhất được ghi nhận giữa Chuẩn mực xã hội “xanh bền vững” (SN) và Thương hiệu (TH) với hệ số r = 0,095. Ngoài ra, do tất cả các hệ số tương quan đều nhỏ hơn 0,7 nên mô hình nghiên cứu được đánh giá là ít có khả năng xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng, qua đó đảm bảo điều kiện để tiếp tục thực hiện phân tích hồi quy đa biến.

Phân tích hồi quy

Phân tích hồi quy bội được thực hiện nhằm xác định mức độ tác động của các nhân tố đến quyết định lựa chọn sử dụng phương tiện vận tải xanh của sinh viên. Kết quả cho thấy mô hình nghiên cứu có độ phù hợp khá cao với hệ số R² hiệu chỉnh đạt 0,668, nghĩa là các biến độc lập trong mô hình giải thích được 66,8% sự biến thiên của biến phụ thuộc.

Kết quả kiểm định ANOVA cho thấy, giá trị F đạt 96,237 với mức ý nghĩa Sig. < 0,001, khẳng định mô hình hồi quy có ý nghĩa thống kê và các biến độc lập có ảnh hưởng tổng thể đến quyết định sử dụng phương tiện vận tải xanh. Đồng thời, hệ số phóng đại phương sai (VIF) của các biến dao động từ 1,105 đến 1,935, đều nhỏ hơn 2, cho thấy mô hình không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến và đảm bảo độ tin cậy cho kết quả hồi quy.

Bảng 2: Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết

Mối quan hệ

Trọng số Beta

Sig.

Kết luận

H1

SN → SD

0,185

0,000

Chấp nhận

H2

EC → SD

0,121

0,006

Chấp nhận

H3

TL → SD

0,259

0,000

Chấp nhận

H4

GV→ SD

0,294

0,000

Chấp nhận

H5

ND→ SD

0,188

0,000

Chấp nhận

H6

TH → SD

0,123

0,001

Chấp nhận

Nguồn: Kết quả nghiên cứu

Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu tại Bảng 2 cho thấy, cả 6 giả thuyết đều được chấp nhận khi các mối quan hệ trong mô hình đều có ý nghĩa thống kê với Sig. < 0,05. Trong đó, nhân tố Giá vé hợp lý (GV) có tác động mạnh nhất đến Sự lựa chọn phương tiện vận tải xanh của sinh viên với hệ số Beta = 0,294, tiếp theo là nhân tố Tiện lợi, đi êm (TL) với Beta = 0,259. Kết quả này cho thấy sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh có xu hướng ưu tiên các phương tiện vừa tiết kiệm chi phí vừa thuận tiện trong quá trình di chuyển. Các nhân tố Chuẩn mực xã hội “xanh bền vững” (SN) và Nhận thức, điểm rèn luyện (ND) cũng có ảnh hưởng tích cực với hệ số Beta lần lượt là 0,185 và 0,188, phản ánh vai trò của yếu tố cộng đồng và ý thức cá nhân trong việc thúc đẩy hành vi sử dụng phương tiện xanh. Trong khi đó, các nhân tố Bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng (EC) cùng Thương hiệu (TH) tuy có tác động thấp hơn nhưng vẫn giữ vai trò đáng kể trong mô hình nghiên cứu.

Bên cạnh đó, kết quả khảo sát cũng phản ánh một thực trạng đáng chú ý khi phần lớn sinh viên vẫn sử dụng xe máy chạy xăng làm phương tiện di chuyển chính, chiếm 78,6% tổng số người khảo sát, trong khi tỷ lệ sử dụng các phương tiện vận tải xanh như xe buýt, metro và xe điện chỉ đạt khoảng 11,58%. Điều này cho thấy mặc dù sinh viên có nhận thức tích cực đối với giao thông xanh, việc chuyển đổi sang sử dụng các phương tiện thân thiện với môi trường vẫn còn gặp nhiều rào cản trong thực tế. Một trong những hạn chế nổi bật được ghi nhận là “vấn đề dặm cuối”, tức sự bất tiện trong quá trình di chuyển từ các điểm trung chuyển công cộng đến địa điểm cuối cùng, làm giảm mức độ thuận tiện và ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn phương tiện vận tải xanh của sinh viên.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý NGHIÊN CỨU

Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố trong mô hình đều có ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn sử dụng phương tiện vận tải xanh của sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh. Cụ thể, các yếu tố Chuẩn mực xã hội “xanh bền vững”, Bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng, Tiện lợi, đi êm, Giá vé hợp lý, Nhận thức và điểm rèn luyện, cùng Thương hiệu đều có tác động tích cực đến hành vi lựa chọn phương tiện. Kết quả này phản ánh rằng sinh viên không chỉ quan tâm đến chi phí và sự thuận tiện trong quá trình di chuyển mà còn ngày càng chú trọng hơn đến các giá trị môi trường và trách nhiệm xã hội.

Đáng chú ý, yếu tố Giá vé hợp lý và Tiện lợi, đi êm có mức độ tác động mạnh nhất, cho thấy tính kinh tế và khả năng đáp ứng nhu cầu di chuyển thực tế vẫn là những ưu tiên hàng đầu của sinh viên. Trong khi đó, các yếu tố về nhận thức môi trường và chuẩn mực xã hội cũng góp phần thúc đẩy xu hướng lựa chọn các phương tiện thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng phương tiện vận tải xanh hiện nay vẫn còn thấp, phản ánh những hạn chế nhất định về hạ tầng, khả năng kết nối và trải nghiệm sử dụng dịch vụ.

Từ kết quả nghiên cứu, một số hàm ý được đề xuất nhằm thúc đẩy phát triển giao thông xanh trong sinh viên. Trước hết, các cơ quan quản lý cần tiếp tục đầu tư và hoàn thiện hệ thống giao thông công cộng, đặc biệt chú trọng khả năng kết nối và giải quyết “vấn đề dặm cuối” nhằm nâng cao tính thuận tiện cho người sử dụng. Bên cạnh đó, cần duy trì các chính sách hỗ trợ giá vé và khuyến khích sử dụng phương tiện xanh đối với sinh viên để gia tăng khả năng tiếp cận dịch vụ. Các đơn vị vận tải cũng cần nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo sự an toàn, thuận tiện và xây dựng hình ảnh thương hiệu thân thiện với môi trường nhằm tăng sức hấp dẫn đối với người dùng trẻ. Ngoài ra, các trường đại học cần đẩy mạnh hoạt động truyền thông, giáo dục và xây dựng lối sống xanh trong sinh viên nhằm nâng cao nhận thức, từ đó hình thành thói quen sử dụng phương tiện vận tải bền vững trong dài hạn.

Tài liệu tham khảo:

1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211.

2. Chen, C. F., & Chao, W. H. (2011). Habitual or reasoned? Using the theory of planned behavior, technology acceptance model, and habit to examine switching intentions toward public transit. Transportation Research Part F: Traffic Psychology and Behaviour, 14(2), 128-137.

3. Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., & Anderson, R. E. (2019). Multivariate data analysis (8th ed.). Cengage

4. McFadden, D. (1974). Conditional logit analysis of qualitative choice behavior. In P. Zarembka (Ed.), Frontiers in Econometrics (pp. 105-142). Academic Press.

5. Train, K. E. (2009). Discrete choice methods with simulation (2nd ed.). Cambridge University Press.

Ngày nhận bài: 2/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/6/2026; Ngày duyệt đăng: 24/6/2026

Các tin khác

Chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển sản phẩm nhựa thân thiện môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam

Chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển sản phẩm nhựa thân thiện môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam

Tại Việt Nam, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã tạo cơ sở pháp lý cho phát triển sản phẩm thân thiện với môi trường, tuy nhiên, việc phát triển các sản phẩm này vẫn gặp những rào cản nhất định. Kinh nghiệm quốc tế gợi mở hướng hoàn thiện và tăng cường tính liên kết giữa các công cụ chính sách.
Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Sự hài lòng trong công việc phản ánh cách người lao động đánh giá và trải nghiệm công việc đang đảm nhận. Trong doanh nghiệp sản xuất, việc nhận diện những phương diện gắn với sự hài lòng có thể giúp nhà quản trị xác định nội dung cần rà soát trong tổ chức công việc và chính sách nhân sự. Tuy nhiên, các yếu tố được đề cập trong lý thuyết không nhất thiết có mức đóng góp giống nhau ở mọi doanh nghiệp. Muốn áp dụng kết quả từ bối cảnh khác cho một đơn vị cụ thể thì cần có dữ liệu tại chính đơn vị đó.
Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Khả năng sinh lời của ngân hàng phụ thuộc vào chất lượng khoản vay và năng lực đáp ứng nghĩa vụ thanh toán. Nợ không được thu hồi đúng hạn có thể làm giảm thu nhập và gây thiếu hụt dòng tiền. Nguồn lực thanh khoản giúp hạn chế nhu cầu huy động khẩn cấp nhưng cũng phát sinh chi phí cơ hội. Vì vậy, đánh giá lợi nhuận tách rời hai loại rủi ro có thể dẫn đến nhận định thiếu đầy đủ (Arif và Anees, 2012; Imbierowicz và Rauch, 2014).
Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi

Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi

Ẩm thực đường phố là một trong những thành phần trải nghiệm du lịch hấp dẫn và đặc trưng nhất tại nhiều quốc gia châu Á, bao gồm Việt Nam.
Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Thuốc thuộc nhóm hàng hoá mà người mua gần như không thể tự thẩm định chất lượng, ngay cả sau khi đã sử dụng. Đặc tính này khiến cấu trúc kênh phân phối trở thành yếu tố quyết định mức rủi ro thuốc giả, bên cạnh năng lực kiểm nghiệm.
Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tại Việt Nam, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về tín dụng xanh, quản lý rủi ro môi trường, xã hội và quản trị ngân hàng nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện môi trường, xã hội và quản trị. Các quy định này góp phần thúc đẩy tín dụng xanh, nâng cao tính minh bạch, cải thiện quản trị và tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế của các ngân hàng thương mại.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt, sự phát triển kinh tế du lịch thực chất không chỉ đo lường bằng lượng khách hay doanh thu tổng thể, mà được quyết định bởi khả năng chuyển hóa các dòng chi tiêu thành thu nhập, việc làm và nâng cao năng lực kinh doanh tại chỗ.
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Qua phân tích chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại công ty MEDIA, nhóm tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực của Công ty trong thời gian tới.
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh là yêu cầu khách quan đối với các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, nhằm hướng tới giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp thương mại điện tử. Hai chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của chiến lược quản trị quan hệ khách hàng là lòng trung thành thương hiệu và giá trị vòng đời khách hàng.