Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua nhà ở xã hội cho công nhân tại TP. Hồ Chí Minh

Nghiên cứu - Trao đổi 11:14 | 20/08/2026
Nhà ở xã hội là một trong những chính sách an sinh quan trọng của các quốc gia nhằm hỗ trợ các đối tượng có thu nhập thấp, người lao động và các nhóm yếu thế trong nền kinh tế có cơ hội tiếp cận chỗ ở ổn định với chi phí hợp lý.

Nguyễn Thị Hồng

Trường Kinh tế tài chính, Trường Đại học Thủ Dầu Một

Email: [email protected]

Nguyễn Văn Du (Tác giả liên hệ)

Trường Đại học Tài chính Marketing

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu này thực hiện nhằm xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua nhà ở xã hội cho công nhân tại TP. Hồ Chí Minh. Các nhân tố ảnh hưởng đến Ý định mua nhà ở xã hội cho công nhân bao gồm: Khả năng chi trả về mặt tài chính của công nhân, Khả năng tiếp cận thông tin, Môi trường sống của nhà ở xã hội, Chính sách hỗ trợ của Nhà nước, Thương hiệu của chủ đầu tư tham gia phát triển nhà ở xã hội.

Từ khoá: Mô hình nghiên cứu, nhà ở xã hội, công nhân, TP. Hồ Chí Minh

Abstract

The study develops a research model of the factors influencing workers’ intention to purchase social housing in Ho Chi Minh City. The factors influencing workers’ intention to purchase social housing include workers’ financial affordability, access to information, the living environment of social housing, government support policies, and the reputation of developers involved in social housing development.

Keywords: Research model, social housing, workers, Ho Chi Minh City

GIỚI THIỆU

Nhà ở xã hội là một trong những chính sách an sinh quan trọng của các quốc gia nhằm hỗ trợ các đối tượng có thu nhập thấp, người lao động và các nhóm yếu thế trong nền kinh tế có cơ hội tiếp cận chỗ ở ổn định với chi phí hợp lý. Trong bối cảnh đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng, phát triển kinh tế khiến giá nhà ở thương mại ngày càng tăng cao làm cho người lao động khó có khả năng sở hữu hoặc thuê nhà phù hợp, giấc mơ sở hữu nhà ngày càng xa vời đối với nhiều người trẻ. Nhà ở xã hội không chỉ góp phần giải quyết nhu cầu chỗ ở mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định đời sống dân cư, nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo phát triển đô thị bền vững. Hơn nữa, phát triển nhà ở xã hội còn giúp giảm áp lực lên hạ tầng đô thị, hạn chế sự hình thành các khu nhà ở tự phát và thiếu an toàn, nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững. Do đó, thực hiện chính sách an sinh xã hội gắn liền với phát triển nhà ở xã hội là một lĩnh vực nhận được nhiều sự quan tâm từ phía các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng.

TP. Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước nơi tập trung nhiều khu công nghiệp và khu chế xuất, thu hút một lượng lớn lao động từ các tỉnh thành khác đến làm việc. Đặc biệt, khu vực phía Bắc thành phố (trước thuộc địa phận tỉnh Bình Dương) có sự phát triển mạnh về công nghiệp, kéo theo nhu cầu lao động và nhu cầu về nhà ở ngày càng gia tăng. Phần lớn công nhân tại các khu công nghiệp có mức thu nhập trung bình hoặc thấp, điều kiện kinh tế còn hạn chế, trong khi nhu cầu về chỗ ở ổn định, an toàn và gần nơi làm việc là rất lớn. Do đó, việc đáp ứng nhu cầu nhà ở của công nhân tại các khu công nghiệp vẫn còn nhiều khó khăn. Vì vậy, nghiên cứu này nhằm xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua nhà ở xã hội, tạo cơ sở cho việc thực hiện các nghiên cứu định lượng tiếp theo; đồng thời gíp phần hoàn thiện chính sách phát triển nhà ở xã hội tại TP. Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Nghiên cứu phát triển nhà ở xã hội gắn với hành vi của con người trong lựa chọn nhà ở phù hợp với bản thân và điều kiện kinh tế. Vai trò của nhà nước trong thực hiện chính sách phát triển nhà ở xã hội được giải thích qua Lý thuyết phúc lợi xã hội, nhấn mạnh vai trò của nhà nước trong việc can thiệp vào thị trường khi xảy ra thất bại thị trường như bất bình đẳng thu nhập, hoặc phân bổ nguồn lực không hiệu quả. Lý thuyết phúc lợi xã hội cho biết cách phân bổ nguồn lực nhằm tối đa hóa phúc lợi xã hội, đồng thời đảm bảo tính công bằng giữa các nhóm dân cư, nhóm thu nhập trong xã hội. Trong khi đó, Lý thuyết khả năng chi trả tập trung vào mối quan hệ giữa chi phí nhà ở và thu nhập, qua đó đánh giá mức độ mà một cá nhân hoặc hộ gia đình có thể tiếp cận nhu cầu ở phù hợp. Còn theo Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), hành vi của một cá nhân được quyết định trực tiếp bởi ý định thực hiện hành vi, và ý định này chịu ảnh hưởng bởi ba yếu tố chính: thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi.

Tổng quan nghiên cứu

Mechuchep và Damnet (2025) nghiên cứu các yếu tố ý định mua nhà ở thân thiện với môi trường và bền vững tại Thái Lan dựa trên dữ liệu khảo sát từ 320 người mua nhà tiềm năng. Nghiên cứu cho rằng chất lượng dịch vụ là yếu tố tác động trực tiếp mạnh nhất đến ý định mua nhà, cùng với truyền thông tiếp thị và nhận thức về môi trường cũng là những yếu tố dự báo quan trọng. Hơn nữa, truyền thông tiếp thị đóng vai trò trung tâm bằng cách tạo ra những tác động gián tiếp đáng kể thông qua các yếu tố khác. Những phát hiện này cung cấp một khuôn khổ chiến lược cho các nhà phát triển, nhấn mạnh rằng thành công trên thị trường đòi hỏi một chiến lược tích hợp tận dụng truyền thông thuyết phục, chất lượng dịch vụ vượt trội và các giá trị môi trường phù hợp.

Ho và cộng sự (2019) nghiên cứu các yếu tố quyết định ảnh hưởng đến ý định mua nhà ở giá rẻ của thế hệ Y tại Penang, Malaysia. Nghiên cứu này mở rộng Lý thuyết hành vi có kế hoạch, bổ sung thêm 3 thuộc tính (vị trí, tài chính và cấu trúc) và thương hiệu của chủ đầu tư. Nghiên cứu cho thấy thái độ, chuẩn mực chủ quan, kiểm soát hành vi nhận thức và thuộc tính vị trí được khẳng định là có ảnh hưởng tích cực đến ý định mua nhà ở giá rẻ của thế hệ Y tại Penang, Malaysia. Trong khi đó, thuộc tính tài chính, thuộc tính cấu trúc và thương hiệu của chủ đầu tư được xác nhận là không có ý nghĩa đối với ý định mua nhà ở giá rẻ của thế hệ Y.

Zhao và Liu (2023) sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu định lượng có hệ thống để xem xét tác động của các chính sách nhà ở đến ý định mua nhà và chỉ ra rằng, các chính sách nhà ở ảnh hưởng đến ý định sở hữu nhà có thể được chia thành 3 loại: chính sách tiền tệ, chính sách thuế và chính sách vĩ mô thận trọng. Sự thay đổi về cung và cầu trên thị trường bất động sản chủ yếu phản ánh hiệu quả của các chính sách, với yếu tố giá nhà ở là cơ chế truyền dẫn.

Scheba và Turok (2023) nghiên cứu nhà ở xã hội thuộc khu vực phi lợi nhuận ở Nam Phi. Dựa trên các phương pháp nghiên cứu định tính, nghiên cứu nhận thấy, trong điều kiện quản trị chính thức yếu kém, năng lực ngành còn non trẻ và cộng đồng bất mãn, nhà ở xã hội thuộc khu vực phi lợi nhuận có những thất bại nghiêm trọng trong các dự án và lãng phí nguồn lực công. Nghiên cứu cho rằng, chính sách và khung pháp lý chính thức không đầy đủ; năng lực và sự hỗ trợ hạn chế của chính phủ; năng lực ngành hạn chế; sự miễn cưỡng của nguồn tài chính tư nhân và các thỏa thuận phi chính thức bất lợi là 5 yếu tố chính gây ra những khó khăn nghiêm trọng ở cả cấp độ chương trình và dự án. Nghiên cứu khẳng định, việc phát triển nhà ở xã hội thuộc khu vực phi lợi nhuận đi kèm với trách nhiệm tài chính, hành chính và chính trị đáng kể đối với chính phủ, và sự thành công của nó phụ thuộc vào sự phù hợp giữa khung chính sách chính thức và các thể chế phi chính thức.

Cho rằng nhà ở xã hội đóng vai trò thiết yếu trong việc đáp ứng nhu cầu nhà ở của những người dễ bị tổn thương, Wei và cộng sự (2024) xem xét các xu hướng nghiên cứu trong lĩnh vực này và kiểm tra các vấn đề và cơ hội về hiệu suất môi trường liên quan đến nhà ở xã hội. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chất lượng không khí trong nhà, tiện nghi, hiệu quả năng lượng và khả năng chi trả là những vấn đề chính liên quan đến lựa chọn nhà ở xã hội, từ đó gia tăng ý định lựa chọn nhà ở xã hội. Ngoài ra, các yếu tố thiết kế và vận hành chính liên quan đến lựa chọn nhà ở xã hội, đặt ra chính phủ cần có nhiều giải pháp thúc đẩy sự phát triển của nhà ở xã hội trong thời gian tới.

Tại Việt Nam, Dinh và cộng sự (2025) cho rằng, phát triển nhà ở xã hội hiện là một trong những mối quan tâm hàng đầu cả nước và tại TP. Hà Nội. Nhu cầu nhà ở cao, trong khi nguồn cung hạn chế, đã dẫn đến giá mua, giá thuê và giá thuê mua nhà ở mức cao. Mạch Ngọc Hùng và cộng sự (2025) cho rằng Việt Nam đang có tiềm năng rất lớn về thị trường nhà ở. Cụ thể, tại Bình Dương, nhóm khách hàng trẻ đang có thu nhập tốt hơn và nhu cầu cao về nhà ở với những dịch vụ tốt hơn để an cư lạc nghiệp. Nhóm tác giả cho rằng, khuyến mãi bán hàng, hình ảnh công ty, vị trí căn hộ, uy tín người nổi tiếng và truyền thông xã hội có ảnh hưởng đến ý định mua nhà ở của người lao động tại đây; đồng thời nhấn mạnh, truyền thông có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cung cấp thông tin và từ đó gia tăng quyết định sở hữu nhà ở của người lao động tại Bình Dương.

MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT

Dựa trên các nghiên cứu trong và ngoài nước, đặc biệt là các nghiên cứu trong nước của Dinh và cộng sự (2025), Mạch Ngọc Hùng và cộng sự (2025); nghiên cứu ngoài nước của Mechuchep và Damnet (2025) tại Thái Lan, Ho và cộng sự (2019) tại Malaysia, Scheba và Turok (2023) tại Nam Phi, mô hình nghiên cứu đề xuất như sau:

Y = β + β1* FINANCE + β2*INFO+ β1*ENVI+ β1*POLICY+ β1*BRAND+ u

Trong đó:

Y là biến phụ thuộc, đo lường bằng Ý định mua nhà ở xã hội của công nhân;

FINANCE là biến độc lập, đo lường Khả năng chi trả về mặt tài chính của công nhân;

INFO là biến độc lập, đo lường Khả năng tiếp cận thông tin của công nhân;

ENVI là biến độc lập, đo lường Môi trường sống của nhà ở xã hội có khả năng cung ứng cho công nhân;

POLICY là biến độc lập, đo lường Chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với nhà ở xã hội;

BRAND là biến độc lập, đo lường Thương hiệu của chủ đầu tư tham gia phát triển nhà ở xã hội.

KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

Nghiên cứu này thực hiện nhằm xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua nhà ở xã hội cho công nhân tại TP. Hồ Chí Minh, làm cơ sở thúc đẩy, phát triển thị trường nhà ở xã hội. Trong mô hình, các nhân tố ảnh hưởng đến Ý định mua nhà ở xã hội cho công nhân bao gồm: Khả năng chi trả về mặt tài chính của công nhân, Khả năng tiếp cận thông tin, Môi trường sống của nhà ở xã hội, Chính sách hỗ trợ của Nhà nước, Thương hiệu của chủ đầu tư tham gia phát triển nhà ở xã hội.

Từ kết quả nghiên cứu này, hướng nghiên cứu tiếp theo sẽ thực hiện khảo sát bằng phương pháp thuận tiện đối với 200 công nhân tại khu công nghiệp phía Bắc TP. Hồ Chí Minh về ý định mua nhà ở xã hội và thực hiện phân tích nhân tố ảnh hưởng đến Ý định mua nhà ở xã hội trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Từ đó nghiên cứu có thể đề xuất hàm ý chính sách phát triển nhà ở xã hội tại TP. Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung.

(*) Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được tài trợ bởi Trường Đại học Thủ Dầu Một trong đề tài mã số DT.25.1-283.

Tài liệu tham khảo:

1. Dinh, D. Q., Hoang, T. H. N., & Le, V. H. (2025). Factors affecting social housing development in Hanoi city. Journal of materials & construction, 15(01). https://doi.org/10.54772/jomc.v15i01.1021

2. Ho, G., Goh, Y., & Ting, M. (2019). The Determinants of Affordable House Purchase Intention Among Generation Y in Malaysia. In C. Tze Haw, C. Richardson, & F. Johara (Eds.), Business Sustainability and Innovation, vol 65. European Proceedings of Social and Behavioural Sciences (pp. 89-99). Future Academy. https://doi.org/10.15405/epsbs.2019.08.10

3. Mạch Ngọc Hùng và cộng sự (2025). Mô hình nhân tố tác động ý định mua căn hộ tầm trung của người tiêu dùng trẻ tại Bình Dương. https://kinhtevadubao.vn/mo-hinh-nhan-to-tac-dong-y-dinh-mua-can-ho-tam-trung-cua-nguoi-tieu-dung-tre-tai-binh-duong-31227.html

4. Mechuchep, S., & Damnet, A. (2025). Factors Influencing Sustainable Eco-Friendly Housing Purchase Intention in Thailand: A Structural Equation Model Analysis. Sustainability, 17(23), 10668. https://doi.org/10.3390/su172310668

5. Scheba, A., & Turok, I. (2023). The role of institutions in social housing provision: salutary lessons from the South. Housing Studies, 38(6), 1132–1153. https://doi.org/10.1080/02673037.2021.1935765

6. Wei, J., Li, H. X., Sadick, A.-M., & Noguchi, M. (2024). A systematic review of key issues influencing the environmental performance of social housing. Energy and Buildings, 319, 114566. https://doi.org/https://doi.org/10.1016/j.enbuild.2024.114566

7. Zhao, C., & Liu, F. (2023). Impact of housing policies on the real estate market - Systematic literature review. Heliyon, 9(10), e20704. https://doi.org/https://doi.org/10.1016/j.heliyon.2023.e20704

Ngày nhận bài: 29/5/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 9/8/2026; Ngày duyệt đăng: 15/8/2026

Các tin khác

Chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển sản phẩm nhựa thân thiện môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam

Chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển sản phẩm nhựa thân thiện môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam

Tại Việt Nam, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã tạo cơ sở pháp lý cho phát triển sản phẩm thân thiện với môi trường, tuy nhiên, việc phát triển các sản phẩm này vẫn gặp những rào cản nhất định. Kinh nghiệm quốc tế gợi mở hướng hoàn thiện và tăng cường tính liên kết giữa các công cụ chính sách.
Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Sự hài lòng trong công việc phản ánh cách người lao động đánh giá và trải nghiệm công việc đang đảm nhận. Trong doanh nghiệp sản xuất, việc nhận diện những phương diện gắn với sự hài lòng có thể giúp nhà quản trị xác định nội dung cần rà soát trong tổ chức công việc và chính sách nhân sự. Tuy nhiên, các yếu tố được đề cập trong lý thuyết không nhất thiết có mức đóng góp giống nhau ở mọi doanh nghiệp. Muốn áp dụng kết quả từ bối cảnh khác cho một đơn vị cụ thể thì cần có dữ liệu tại chính đơn vị đó.
Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Khả năng sinh lời của ngân hàng phụ thuộc vào chất lượng khoản vay và năng lực đáp ứng nghĩa vụ thanh toán. Nợ không được thu hồi đúng hạn có thể làm giảm thu nhập và gây thiếu hụt dòng tiền. Nguồn lực thanh khoản giúp hạn chế nhu cầu huy động khẩn cấp nhưng cũng phát sinh chi phí cơ hội. Vì vậy, đánh giá lợi nhuận tách rời hai loại rủi ro có thể dẫn đến nhận định thiếu đầy đủ (Arif và Anees, 2012; Imbierowicz và Rauch, 2014).
Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi

Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi

Ẩm thực đường phố là một trong những thành phần trải nghiệm du lịch hấp dẫn và đặc trưng nhất tại nhiều quốc gia châu Á, bao gồm Việt Nam.
Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Thuốc thuộc nhóm hàng hoá mà người mua gần như không thể tự thẩm định chất lượng, ngay cả sau khi đã sử dụng. Đặc tính này khiến cấu trúc kênh phân phối trở thành yếu tố quyết định mức rủi ro thuốc giả, bên cạnh năng lực kiểm nghiệm.
Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tại Việt Nam, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về tín dụng xanh, quản lý rủi ro môi trường, xã hội và quản trị ngân hàng nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện môi trường, xã hội và quản trị. Các quy định này góp phần thúc đẩy tín dụng xanh, nâng cao tính minh bạch, cải thiện quản trị và tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế của các ngân hàng thương mại.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt, sự phát triển kinh tế du lịch thực chất không chỉ đo lường bằng lượng khách hay doanh thu tổng thể, mà được quyết định bởi khả năng chuyển hóa các dòng chi tiêu thành thu nhập, việc làm và nâng cao năng lực kinh doanh tại chỗ.
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Qua phân tích chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại công ty MEDIA, nhóm tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực của Công ty trong thời gian tới.
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh là yêu cầu khách quan đối với các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, nhằm hướng tới giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp thương mại điện tử. Hai chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của chiến lược quản trị quan hệ khách hàng là lòng trung thành thương hiệu và giá trị vòng đời khách hàng.