Ảnh hưởng của truyền miệng điện tử đến ý định trải nghiệm ẩm thực của khách du lịch nội địa thế hệ Z tại TP. Hồ Chí Minh
ThS. Bùi Xuân Thắng (Tác giả liên hệ)
NCS Trường Du lịch, Đại học Huế
Email: [email protected]
PGS.TS. Trần Hữu Tuấn
Trường Du lịch, Đại học Huế
Email: [email protected]
TS. Thân Trọng Thụy
Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích ảnh hưởng của truyền miệng điện tử đến ý định trải nghiệm ẩm thực của khách du lịch thế hệ Z (Gen Z) tại TP. Hồ Chí Minh. Dựa trên mô hình nghiên cứu, 4 nhóm nhân tố được xem xét bao gồm: Nhận thức hữu ích thông tin, Độ tin cậy thông tin, Chất lượng thông tin và Người ảnh hưởng. Dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát với 167 mẫu hợp lệ được xử lý bằng phần mềm SPSS 26.0. Kết quả cho thấy, cả 4 yếu tố đều tác động đến Ý định trải nghiệm ẩm thực của khách du lịch. Đây là cơ sở quan trọng để các doanh nghiệp và nhà quản lý du lịch nâng cao chiến lược truyền thông số hiệu quả, góp phần thu hút và gia tăng ý định trải nghiệm ẩm thực của khách du lịch nói chung và thế hệ Gen Z nói riêng.
Từ khóa: Truyền miệng điện tử, du khách thế hệ Z, trải nghiệm ẩm thực
Abstract
The study was conducted to analyze the impact of electronic word of mouth on the culinary experience intention of Gen Z tourists in Ho Chi Minh City. Based on the research model, four groups of factors were considered including: Perceived usefulness of information, Information reliability, Information quality, and Influencers. Data were collected through a survey with 167 valid samples and processed using SPSS software. The research results showed that all factors affect tourists' culinary experience intention. This is an important basis for businesses and tourism managers to improve effective digital communication strategies, contributing to attracting and increasing the culinary experience of tourists in general and Gen Z in particular.
Keywords: Electronic word of mouth, Gen Z tourist, culinary experiences
GIỚI THIỆU
Hiện nay, truyền miệng điện tử (eWOM) đang nổi lên như một kênh tham khảo quan trọng, có khả năng tác động mạnh đến hành vi tiêu dùng, đặc biệt trong lĩnh vực ẩm thực (Hajli, 2014). Nhờ tính năng tương tác và trao đổi thông tin hiệu quả, nhanh chóng, eWOM đã tạo ra nguồn dữ liệu phong phú, đa chiều, có tính xác thực và đã thay đổi đáng kể cách du khách tìm kiếm và lựa chọn các hoạt động trải nghiệm (Abril và cộng sự, 2022).
Nghiên cứu được thực hiện nhằm làm rõ mức độ tác động của từng khía cạnh eWOM đến ý định trải nghiệm ẩm thực của du khách Gen Z - nhóm du khách trưởng thành trong thời đại công nghệ số và bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi eWOM. Kết quả không chỉ bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho lĩnh vực hành vi du lịch ẩm thực trong bối cảnh số hóa mà còn mang lại hàm ý thiết thực cho doanh nghiệp và nhà quản lý trong việc hoạch định chính sách, xây dựng chiến lược truyền thông hiệu quả, nhằm gia tăng ý định trải nghiệm ẩm thực của khách du lịch thế hệ Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM)
Mô hình TAM được phát triển bởi Davis (1989) nhằm dự đoán cho ý định hành vi chấp nhận hoặc từ chối sử dụng một hệ thống công nghệ thông tin của người dùng dựa trên sự nhận thức về tính hữu ích và tính dễ sử dụng. Khác với những thế hệ trước, Gen Z có xu hướng ưu tiên tham khảo ý kiến trên mạng xã hội, các nền tảng đánh giá hay cộng đồng trực tuyến nhằm giảm thiểu rủi ro, tiết kiệm thời gian tìm kiếm và củng cố sự tự tin trong quyết định (Abril và cộng sự, 2022).
Truyền miệng điện tử (eWOM)
eWOM là hoạt động chia sẻ, trao đổi ý kiến, đánh giá của cá nhân về sản phẩm, dịch vụ hay thương hiệu thông qua các kênh trực tuyến như mạng xã hội, diễn đàn, blog, website đánh giá hay ứng dụng di động (Yang, 2017). Khác với truyền miệng truyền thống, eWOM có lợi thế ở khả năng lan tỏa nhanh, phạm vi tiếp cận rộng và mức độ tương tác cao (Hajli, 2014). Chính vì vậy, nó được xem như một nguồn thông tin đáng tin cậy cho người tiêu dùng trước khi đưa ra quyết định mua hàng hoặc trải nghiệm dịch vụ.
Thế hệ Z đối với truyền miệng điện tử
Thế hệ Z là nhóm sinh từ năm 1997 đến đầu thập niên 2010, trưởng thành trong môi trường gắn liền với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, sự phổ biến của internet và sự lan tỏa rộng rãi của các nền tảng mạng xã hội. Đây là thế hệ có mức độ am hiểu công nghệ cao, thường xuyên kết nối trực tuyến để tìm kiếm, so sánh và lựa chọn dịch vụ trước khi ra quyết định (Abril và cộng sự, 2022). Điểm đặc trưng của thế hệ này là xu hướng tin tưởng nhiều hơn vào đánh giá, bình luận và hình ảnh thực tế từ cộng đồng mạng thay vì các quảng cáo truyền thống (Skinner và cộng sự, 2018; Yan, 2017).
Ý định hành vi trải nghiệm ẩm thực
Ý định hành vi trải nghiệm ẩm thực được hiểu là sự sẵn sàng của khách du lịch trong việc lựa chọn, tham gia và tái tham gia vào các hoạt động liên quan đến ẩm thực tại điểm đến trong tương lai (Ajzen, 1991) như mong muốn thưởng thức một món ăn, ghé thăm một nhà hàng hay một địa điểm ẩm thực cụ thể, quay lại trong những lần sau hoặc chia sẻ và giới thiệu trải nghiệm cho người khác (Levitt và cộng sự, 2019).
Giả thuyết và mô hình nghiên cứu
Tính hữu ích thông tin được hiểu là mức độ mà người dùng tin rằng việc áp dụng một hệ thống công nghệ có thể cải thiện hiệu quả công việc hoặc đáp ứng nhu cầu của họ (González Rodríguez và cộng sự, 2022). Trong lĩnh vực du lịch và ẩm thực, đặc điểm sản phẩm chủ yếu mang tính vô hình, khó đánh giá trước khi trải nghiệm, vì vậy tính hữu ích thông tin eWOM sẽ giúp gia tăng niềm tin, giảm thiểu rủi ro, tiết kiệm thời gian tìm kiếm và củng cố sự chắc chắn trong lựa chọn điểm đến hoặc dịch vụ ẩm thực (Pourfakhimi và cộng sự, 2020).
Độ tin của cậy thông tin là yếu tố cốt lõi quyết định thái độ tiếp nhận thông tin và đóng vai trò khởi đầu trong quá trình thuyết phục khách hàng (Wathen và Burkell, 2002). Nó thể hiện mức độ khách hàng tin tưởng vào nguồn thông tin như tính xác thực, minh bạch và khách quan của các đánh giá, bình luận hay chia sẻ trực tuyến. Khi các thông tin được xem là đáng tin cậy, khách hàng sẽ cảm thấy an tâm hơn, từ đó giảm thiểu sự không chắc chắn và rủi ro trong quá trình ra quyết định (Corbitt và Yi, 2003).
Chất lượng thông tin phản ánh mức độ đầy đủ và rõ ràng của thông tin (Kim và cộng sự, 2021). Sự phát triển của mạng xã hội giúp khách hàng dễ dàng tiếp cận và chia sẻ đánh giá, nhưng cũng làm gia tăng thách thức trong việc xác định tính chính xác và giá trị của thông tin. Theo Salaün và Flores (2001), nội dung do người dùng tạo ra thường phản ánh nhu cầu thực tế nên có mức độ phù hợp cao hơn so với thông tin quảng cáo. Khi các đánh giá trực tuyến được nhận thức là rõ ràng, đáng tin cậy và có chất lượng cao, người tiêu dùng sẽ có xu hướng chấp nhận và sử dụng chúng để hỗ trợ quyết định tiêu dùng (Abbasi và cộng sự, 2023).
Người ảnh hưởng là những cá nhân có chuyên môn hoặc uy tín trong lĩnh vực nào đó, họ có thể là nhân vật nổi tiếng, có khả năng thu hút sự chú ý và tạo được mức độ tương tác cao trong cộng đồng trực tuyến (Putri Puspitasari, 2022). Khi thông tin đến từ những nguồn này, nó không chỉ tạo ra cảm giác an toàn và tính xác thực, mà còn gia tăng mức độ thuyết phục đối với người tiếp nhận (Watts và Zhang, 2008).
Từ những nhận định trên, nhóm tác giả đề xuất các giả thuyết sau:
H1: Tính hữu ích thông tin eWOM có tác động tích cực đến Ý định trải nghiệm ẩm thực của khách du lịch thế hệ Z.
H2: Độ tin cậy của thông tin eWOM có tác động tích cực đến Ý định trải nghiệm ẩm thực của khách du lịch thế hệ Z
H3: Chất lượng của thông tin eWOM có tác động tích cực đến Ý định trải nghiệm ẩm thực của khách du lịch thế hệ Z.
H4: Người ảnh hưởng eWOM có tác động tích cực đến Ý định trải nghiệm ẩm thực của khách du lịch thế hệ Z.
Dựa trên các giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu được xây dựng và thể hiện tại Hình.
Hình: Mô hình nghiên cứu
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả xây dựng
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để xây dựng hệ thống thang đo cho các biến trong mô hình, nhóm nghiên cứu tham khảo quy trình phát triển thang đo của Churchill (1979) và điều chỉnh để phù hợp với thực tế nghiên cứu, sau đó được chỉnh sửa thông qua góp ý của các chuyên gia. Kết quả cuối cùng có 5 biến quan sát (4 biến độc lập, 1 biến phụ thuộc) và 21 thang đo được hoàn thiện và đưa vào nghiên cứu (Bảng 1).
Bảng 1: Nguồn gốc của thang đo
| Biến quan sát | Mã hóa | Số thang đo |
|---|---|---|
| Tính hữu ích thông tin | HI | 4 |
| Độ tin cậy thông tin | TC | 4 |
| Chất lượng thông tin | CL | 4 |
| Người ảnh hưởng | NT | 4 |
| Ý định trải nghiệm ẩm thực | YD | 5 |
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp
Bảng khảo sát gồm 2 phần. Phần 1 bao gồm các thông tin chung như: giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập, khu vực. Phần 2 là 21 thang đo được đánh giá theo thang Likert 5 mức độ. Nhóm tác giả tiến hành khảo sát theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện bằng hình thức trực triếp, khách du lịch được mời trả lời bảng hỏi online bằng đường link khảo sát trên Google Forms. Địa điểm lấy mẫu tập trung tại các khu vực ăn uống mà khách du lịch Gen Z thường tới khi đến TP. Hồ Chí Minh như: Khu phố đi bộ Bùi Viện, khu ẩm thực Hồ Con Rùa, khu ẩm thực Nguyễn Gia Trí, hẻm ăn vặt 76 Hai Bà Trưng... Thời gian khảo sát diễn ra từ ngày 5/6-20/8/2025.
Kết quả thu về 172 mẫu, trong đó có 5 bảng hỏi bị loại do thông tin không đầy đủ hoặc câu trả lời thiếu nhất quán. Như vậy, số bảng hỏi hợp lệ còn lại là 167 và được xử lý bằng phần mềm SPSS 26.0 nhằm kiểm định độ tin cậy của thang đo, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt, phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
Trong 167 bảng khảo sát hợp lệ, tỷ lệ nam giới chiếm 43,1% và nữ giới chiếm 56,9%. Xét về trình độ học vấn, nhóm khách có bằng đại học chiếm 50,3%, trong khi các nhóm trình độ còn lại chiếm 49,7%. Về nghề nghiệp, đa số thuộc nhóm học sinh, sinh viên (67,1%), phần còn lại là nhân viên văn phòng và lao động tự do. Xét về thu nhập, do đặc thù thế hệ Z chủ yếu vẫn đang đi học hoặc mới ra trường, nên mức thu nhập tương đối thấp. Về khu vực lưu trú, hầu hết khách Gen Z đến từ khu vực miền Nam và các tỉnh xung quanh TP. Hồ Chí Minh.
Kiểm định độ tin cậy thang đo
Dựa trên khyến cáo của Hair và cộng sự (2006) và kết quả từ Bảng 2 cho thấy, tất cả các thang đo đều có độ tin cậy khá tốt với Cronbach’s Alpha dao động từ 0,814 đến 0,882 (> 0,7) và hệ số tương biến tổng > 0,4 (từ 0,502 đến 0,817).
Bảng 2: Kết quả kiểm tra độ tin cậy thang đo
| Biến | HI | TC | CL | NT | YD |
|---|---|---|---|---|---|
| Cronbach’s Alpha | 0,814 | 0,868 | 0,874 | 0,882 | 0,822 |
| Hệ số tương quan biến tổng | 0,558-0,765 | 0,658-0,748 | 0,668-0,818 | 0,681-0,816 | 0,502-0,817 |
Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của nhóm tác giả
Kiểm tra giá trị hội tụ và phân biệt của thang đo
Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) đối với biến độc lập cho biết, cả 4 biến độc lập đều đạt yêu cầu về giá trị hội tụ và phân biệt. Chỉ số KMO = 0,742 (> 0,7) và kiểm định Bartlett = 1752,671 với Sig. = 0,000 (< 0,05), chứng tỏ dữ liệu phù hợp để phân tích. Bốn nhân tố được trích có Eigenvalue > 1 với tổng phương sai trích đạt 71,937% (> 50%) giải thích phần lớn biến thiên của dữ liệu. Tất cả 16 biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố > 0,5 (từ 0,726 đến 0,891) và đạt yêu cầu phân biệt giữa các nhân tố.
Đối với biến phụ thuộc Ý định hành vi trải nghiệm ẩm thực, kết quả phân tích EFA cho kết quả chỉ số KMO = 0,745 (> 0,7), kiểm định Bartlett = 414,789 với Sig. = 0,000 (< 0,05). Một nhân tố được rút trích với Eigenvalue = 3,009 (> 1), tổng phương sai trích đạt 60,182% (> 50%). Các biến quan sát có hệ số tải nhân tố từ 0,673 đến 0,919 (> 0,5), cho thấy thang đo biến phụ thuộc cũng đạt yêu cầu về giá trị hội tụ và phân biệt.
Phân tích tương quan
Kết quả phân tích tương quan cho thấy, tất cả các biến độc lập đều có tác động cùng chiều đến biến phụ thuộc với mức ý nghĩa thống kê. Trong đó, NT có mức tương quan mạnh nhất (r = 0,818; Sig = 0,000 (< 0,01), tiếp theo là CL và TC với mức tương quan lần lượt là r = 0,462 và r = 0,405 với Sig = 0,000. Cuối cùng là HI với mức tương quan với r = 0,245; Sig = 0,001 (< 0,01). Đây là cơ sở để đưa các biến này vào phân tích ở bước tiếp theo.
Phân tích hồi quy
Kết quả Bảng 3 cho thấy, mô hình có R2 = 0,714; hệ số R2 hiệu chỉnh = 0,707; giá trị Sig. = 0,000 (< 0,05). Điều này cho thấy, mô hình hồi quy tuyến tính đã xây dựng tương đối phù hợp với tập dữ liệu, các biến độc lập trong mô hình đã giải thích được 70,7% sự thay đổi tới biến phụ thuộc.
Bảng 3: Kết quả mô hình hồi quy
| Mô hình | R | R2 | R2 hiệu chỉnh | Sai số chuẩn ước lượng | Thống kê thay đổi | Hệ số Durbin -Watson | ||||
| R2 thay đổi | F thay đổi | df1 | df2 | Sig. F thay đổi | ||||||
| 1 | 0,845a | 0,714 | 0,707 | 0,25386 | 0,714 | 101,252 | 4 | 162 | 0,000 | 1,080 |
| Biến độc lập: NTtb, HItb, TCtb, CLtb | ||||||||||
| Biến phụ thuộc: YDtb | ||||||||||
Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của nhóm tác giả
Kết quả phân tích ANOVA cho thấy giá trị F = 101,252 với với Sig. = 0,000 (< 0,05) chứng tỏ mô hình hồi quy tuyến tính tổng thể có ý nghĩa thống kê. Như vậy, 4 biến độc lập gồm Tính hữu ích thông tin, Độ tin cậy thông tin, Chất lượng thông tin và Người ảnh hưởng khi đưa vào mô hình đã giải thích được sự thay đổi của biến phụ thuộc.
Theo kết quả Bảng 4, cả 4 yếu tố đều có tác động cùng chiều đến Ý định trải nghiệm ẩm thực với hệ số β dương và mức ý nghĩa Sig < 0,05, đồng thời cũng cho thấy mô hình không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến (VIF < 2). Do đó, các kiểm định 2 phía giữa biến độc lập và biến phụ thuộc đều đạt yêu cầu. Đây là cơ sở để khẳng định 4 giả thuyết H1, H2, H3, H4 đều được chấp nhận, tức cả 4 yếu tố đều có ảnh hưởng tích cực đến Ý định trải nghiệm ẩm thực.
Bảng 4: Các thông số thống kê của từng biến trong phương trình hồi quy
| Mô hình | Yếu tố | Hệ số chưa chuẩn hóa | Hệ số chuẩn hóa | Giá trị t | Giá trị Sig | Đa cộng tuyến | ||
| B | Sai số chuẩn | β | Độ chấp nhận | VIF | ||||
| 1 | Hằng số | 0,655 | 0,324 | - | 3,424 | 0,001 |
|
|
| HItb | 0,101 | 0,053 | 0,133 | 3,099 | 0,002 | 0,955 | 1,041 | |
| TCtb | 0,118 | 0,051 | 0,157 | 3,483 | 0,001 | 0,869 | 1,150 | |
| CLtb | 0,083 | 0,050 | 0,110 | 2,330 | 0,021 | 0,790 | 1,266 | |
| NTtb | 0,563 | 0,048 | 0,693 | 13,908 | 0,000 | 0,709 | 1,409 | |
Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của nhóm tác giả
Phương trình hồi quy tuyến tính có dạng như sau:
Y = 0,655 + 0,101.HItb + 0,118.TCtb + 0,083.CLtb + 0,563.NTtb + e
Thảo luận kết quả
Kết quả nghiên cứu cho thấy, cả 4 yếu tố: Tính hữu ích thông tin, Độ tin cậy thông tin, Chất lượng thông tin và Người ảnh hưởng đều có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến Ý định trải nghiệm ẩm thực của du khách thế hệ Z. Trong đó, Người ảnh hưởng là yếu tố có sức ảnh hưởng mạnh nhất (β = 0,693), chứng tỏ du khách thường ưu tiên những nguồn thông tin đáng tin cậy khi quyết định lựa chọn địa điểm ẩm thực. Những thông tin, đánh giá và chia sẻ từ người có sức ảnh hưởng hoặc cộng đồng trực tuyến luôn có vai trò then chốt trong việc hình thành niềm tin và thúc đẩy ý định hành vi du khách (Tapanainen và cộng sự, 2021). Khi khách hàng nhận được sự giới thiệu từ những nguồn mà họ tin tưởng, họ sẽ cảm thấy yên tâm hơn trong việc ra quyết định, đồng thời dễ bị thuyết phục để lựa chọn địa điểm đã được giới thiệu (González-Rodríguez và cộng sự, 2022).
Tiếp theo là Độ tin cậy thông tin (β = 0,157). Khác với du lịch, nơi du khách có thể cân nhắc nhiều yếu tố dài hạn như chi phí, thời gian hay kế hoạch di chuyển, thì trong trải nghiệm ẩm thực, các quyết định thường mang tính ngắn hạn và chịu tác động trực tiếp từ cảm nhận từ nhiều yếu tố như về độ an toàn và chất lượng món ăn. Do đó, sự tin cậy vào nguồn thông tin hay vào chính thương hiệu nhà hàng/quán ăn sẽ trở thành cơ sở để khách hàng giảm bớt rủi ro trong lựa chọn. Khi khách hàng tin tưởng rằng địa điểm ẩm thực có chất lượng món ăn ổn định, đảm bảo vệ sinh và phản hồi khách hàng minh bạch, họ dễ dàng đưa ra quyết định trải nghiệm hơn (Corbitt và Yi, 2003).
Cuối cùng là Tính hữu ích thông tin (β = 0,133) và Chất lượng thông tin (β = 0,110). Tuy không phải là những yếu tố có mức tác động mạnh như Người ảnh hưởng hay Độ tin cậy thông tin, nhưng cả 2 yếu tố này vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc định hình ý định trải nghiệm ẩm thực của du khách. Thông tin càng hữu ích và dễ áp dụng vào thực tế thì càng giúp khách hàng tiết kiệm thời gian, giảm thiểu rủi ro và củng cố quyết định lựa chọn. Bên cạnh đó, chất lượng thông tin với các tiêu chí như đầy đủ, chính xác và kịp thời cũng góp phần nâng cao mức độ thuyết phục, tạo dựng sự an tâm cho khách hàng (González-Rodríguez và cộng sự, 2022).
HÀM Ý QUẢN TRỊ
Nghiên cứu đã làm rõ vai trò quan trọng của eWOM trong việc hình thành ý định trải nghiệm ẩm thực của khách du lịch nội địa thuộc thế hệ Z tại TP. Hồ Chí Minh.
Vì vậy, để nâng cao ý định trải nghiệm ẩm thực của nhóm khách hàng này, các doanh nghiệp cần triển khai chiến lược toàn diện dựa trên cả 4 yếu tố ảnh hưởng chính.
Trước hết, cần phát huy sức mạnh của người truyền miệng thông qua việc hợp tác với người nổi tiếng, người đánh giá ẩm thực và đồng thời khuyến khích khách hàng tự tạo nội dung, chia sẻ trải nghiệm thực tế nhằm tạo hiệu ứng lan tỏa rộng rãi.
Tiếp theo, sự tin cậy phải được đặt làm ưu tiên hàng đầu với các biện pháp như công khai minh bạch chất lượng món ăn, nguồn gốc nguyên liệu, giá cả và đảm bảo sự nhất quán trong thông tin trên mọi kênh truyền thông để củng cố lòng tin nơi khách hàng.
Bên cạnh đó, sự hữu ích của thông tin cần được chú trọng thông qua việc cung cấp nội dung chi tiết, thiết thực và cá nhân hóa như gợi ý món ăn, khuyến mãi hay vị trí thuận tiện, kết hợp cùng công nghệ, để hỗ trợ khách hàng nhanh chóng đưa ra quyết định.
Cuối cùng, chất lượng thông tin phải luôn được bảo đảm với hình ảnh, video và nội dung trực quan, sinh động, chính xác và được cập nhật thường xuyên nhằm tạo ấn tượng tích cực ngay từ giai đoạn tìm hiểu.
Bên cạnh những kết quả đạt được, nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế nhất định. Thứ nhất, nghiên cứu chỉ tập trung vào 4 yếu tố chủ đạo để đo lường tác động đến ý định trải nghiệm ẩm thực, trong khi trên thực tế còn nhiều yếu tố khác như yếu tố văn hóa - xã hội cũng có thể ảnh hưởng đáng kể đến quyết định của khách du lịch. Thứ hai, đối tượng khảo sát chủ yếu là khách du lịch thuộc thế hệ Gen Z, trong khi các thế hệ khách du lịch khác (như Millennials hay Gen X) cũng đang chịu tác động mạnh mẽ từ eWOM. Thứ ba, cỡ mẫu nghiên cứu còn hạn chế (167 mẫu), do đó kết quả chưa đủ sức khái quát cho toàn bộ quần thể khách du lịch. Thứ tư, nghiên cứu chưa phân tích sự khác biệt về nhân khẩu học trong nội bộ nhóm Gen Z, trong khi các yếu tố này có thể tạo ra sự biến thiên đáng kể trong ý định hành vi. Các nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng phạm vi đối tượng khảo sát sang nhiều thế hệ khách du lịch khác nhau để có cái nhìn so sánh toàn diện hơn, đồng thời gia tăng cỡ mẫu để tăng tính đại diện. Bên cạnh đó, việc tích hợp thêm các biến số nhân khẩu học cũng sẽ giúp mô hình nghiên cứu phản ánh thực tế khách quan và đầy đủ hơn.
Tài liệu tham khảo:
1. Abbasi, A. Z., Tsiotsou, R. H., Hussain, K., Rather, R. A., & Ting, D. H. (2023). Investigating the impact of social media images’ value, consumer engagement, and involvement on eWOM of a tourism destination: A transmittal mediation approach. Journal of Retailing and Consumer Services, 71, 103231.
2. Abril, E.P., Tyson, K. and Morefield, K. (2022). Snapchat this, Instagram that: the interplay of motives and privacy affordances in college students’ sharing of food porn. Telematics and Informatics, 74, 101889.
3. Ajzen. (1991). The Theory of Planned Behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211.
4. Churchill Jr, G. A. (1979). A paradigm for developing better measures of marketing constructs. Journal of marketing research, 16(1), 64-73.
5. Corbitt, B. J., Thanasankit, T., & Yi, H. (2003). Trust and e-commerce: A study of consumer perceptions. Electronic Commerce Research and Applications, 2(3), 203-215.
6. Davis, F. D. (1989). Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information technology. MIS Quarterly, 13(3), 319-340.
7. González-Rodríguez, M. R., Díaz-Fernández, M. C., Bilgihan, A., Okumus, F., & Shi, F. (2022). The impact of eWOM source credibility on destination visit intention and online involvement: A case of Chinese tourists. Journal of Hospitality and Tourism Technology, 13(5), 855-874.
8. Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., Anderson, R. E., & Tatham, R. L. (2006). Multivariate data analysis (6th ed.). Pearson Prentice Hall.
9. Hajli. (2014 ). A study of the impact of social media on consumers. International Journal of Market Research, 56(3), 387- 401.
10. Kim, W., Kim, S.-B., & Park, E. (2021). Mapping Tourists’ Destination (Dis)Satisfaction Attributes with User-Generated Content. Sustainability, 13(22), 12650.
11. Levitt, J. A., Zhang, P., DiPietro, R. B., & Meng, F. (2019). Food tourist segmentation: Attitude, behavioral intentions and travel planning behavior based on food involvement and motivation. International Journal of Hospitality & Tourism Administration, 20(2), 129-155.
12. Pourfakhimi, S., Duncan, T., & Coetzee, W. J. L. (2020). Electronic word of mouth in tourism and hospitality consumer behaviour: State of the art. Tourism Review, 75(4), 637-661.
13. Putri Puspitasari, R., & Irawati, Z. (2022). Trust sebagai variabel mediasi dari e-WOM dan Perceived Value terhadap Purchase Intention Handphone di Shopee. Jurnal Lentera Bisnis, 13(1). 58-69.
14. Salaün, Y., & Flores, K. (2001). Information quality: Meeting the needs of the consumer. International Journal of Information Management, 21(1), 21-37.
15. Skinner, H. (2018). Who really creates the place brand? Considering the role of user generated content in creating and communicating a place identity. Communication & Society, 31(4), 9-24.
16. Tapanainen, T., Dao, K. T., & Nguyen, H. T. T. (2021). Impacts of online word of-mouth and personalities on intention to choose a destination. Computers in Human Behavior, 116. 106656
17. Wathen, C. N., & Burkell, J. (2002). Believe it or not: Factors influencing credibility on the Web. Journal of the American Society for Information Science and Technology, 53(2), 134-144.
18. Watts, S. A., & Zhang, W. (2008). Capitalizing on Content: Information Adoption in Two Online Communities. Journal of the Association for Information Systems, 9(2), 73-94.
19. Yang, F. X. (2017). Effects of restaurant satisfaction and knowledge sharing motivation on eWOM intentions: The moderating role of technology acceptance factors. Journal of Hospitality & Tourism Research, 41(1), 93-127.
| Ngày nhận bài: 17/1/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 5/4/2026; Ngày duyệt đăng: 26/4/2026 |
Các tin khác
Ảnh hưởng của đánh giá trực tuyến đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam
Năng lực hạ tầng logistics nông nghiệp tại TP. Huế: Thực trạng và cơ hội trong bối cảnh mới
Chuyển đổi số và việc làm phi chính thức ở Việt Nam giai đoạn 2020-2024
Vai trò của IMF và World Bank đối với các quốc gia đang phát triển: Bài học từ quốc tế và hàm ý cho Việt Nam
Tác động của hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và truyền thông số đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+ 3 giai đoạn 2014-2024
Vai trò trung gian của quản trị đồng tâm trong thúc đẩy hiệu quả chuyển đổi số tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam dưới sự điều tiết của khả năng học tập tổ chức
Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển dịch vụ logistics tại TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Công bố thông tin quản trị doanh nghiệp, giá trị và hiệu quả hoạt động: Bằng chứng từ các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam
Nâng cao động lực làm việc cho người lao động tại Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Phúc Hảo, TP. Hồ Chí Minh
