Mô hình nghiên cứu đề xuất các nhân tố tác động đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp lữ hành nhỏ và vừa tại TP. Hồ Chí Minh

Thực tiễn - Kinh nghiệm 14:03 | 13/02/2026 TS. Huỳnh Minh Tâm
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò then chốt trong sự phát triển kinh tế của các nước đang phát triển. Nhiều nghiên cứu đã xem xét các chủ đề liên quan đến doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc tổng hợp cơ sở lý thuyết và các kết quả nghiên cứu trước đây là nền tảng xây dựng mô hình nghiên cứu gồm những nhân tố tác động trực tiếp, gián tiếp và điều tiết đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa.

TS. Huỳnh Minh Tâm

Khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Tài chính - Marketing

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu này nhằm xác định và giải quyết khoảng trống nghiên cứu liên quan đến tác động của các nhân tố vào kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp lữ hành nhỏ và vừa tại TP. Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu xác định các nhân tố: (1) Năng lực đổi mới, (2) Năng lực thích nghi, (3) Định hướng thị trường, (4) Năng lực quản trị tri thức, (5) Năng lực động, (6) Mạng lưới xã hội (điều tiết), (7) Chất lượng dịch vụ (trung gian) ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Đây là cơ sở nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm hiểu rõ hơn về tác động của 7 thành phần (nêu trên) vào kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp lữ hành nhỏ và vừa khu vực TP. Hồ Chí Minh.

Từ khóa: Kết quả kinh doanh, năng lực đổi mới, năng lực thích nghi, định hướng thị trường.

Summary

This study aims to identify and address research gaps related to the impact of factors on business performance in small and medium-sized travel enterprises in Ho Chi Minh City. The research results identify the following factors: (1) innovation capacity, (2) adaptive capacity, (3) market orientation, (4) knowledge management capacity, (5) dynamic capacity, (6) social network (moderating effect), and (7) service quality (meadiation effect) on business performance. This research’s result is the basis for further research to better understand the impact of the seven components (mentioned above) on business performance.

Keywords: Business performance, innovation capacity, adaptive capacity, market orientation

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng không thể tránh khỏi. Mỗi quốc gia đều xem xét, đánh giá và hội nhập theo nhiều cách, bao gồm cải thiện điều kiện thị trường, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển công nghệ mới và đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng trên toàn thế giới. Do chiếm phần lớn lực lượng lao động, hoạt động hiệu quả, đặc biệt dễ thích ứng với những thay đổi và biến động kinh tế, và đang ngày càng tăng thị phần trong GDP quốc gia, các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đóng vai trò then chốt trong sự phát triển kinh tế của các nước đang phát triển. DNNVV là nền tảng cho sự tăng trưởng của các tập đoàn lớn trong nước. Nhiều nghiên cứu đã xem xét các chủ đề liên quan đến DNNVV, bao gồm định nghĩa về DNNVV, chức năng, đặc điểm và sự phát triển của chúng. Hơn nữa, trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, việc sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ 4.0 ngày càng tác động mạnh mẽ đến kết quả kinh doanh của các DNNVV - đặc biệt là các doanh nghiệp lữ hành (Quang & cộng sự, 2025). Câu hỏi đặt ra là để tồn tại và phát triển cũng như đạt được kết quả kinh doanh trước trực tiễn trên thì các DNNVV nói chung và doanh nghiệp lữ hành nhỏ và vừa nói riêng phải làm gì để khẳng định vị thế của mình và đạt mục tiêu về kết quả kinh doanh? Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động vào kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp lữ hành nhỏ và vừa ở TP. Hồ Chí Minh.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Lý thuyết ngẫu nhiên

Lý thuyết ngẫu nhiên cho rằng các yếu tố bối cảnh tác động đến hiệu suất của tổ chức và định hình các đặc điểm của tổ chức. Các học giả về quản trị chiến lược đã đưa ra ý tưởng về sự phù hợp chiến lược dựa trên lý thuyết ngẫu nhiên (Ngo, 2023). Ý tưởng này nhấn mạnh rằng hiệu suất của một tổ chức là kết quả của các lựa chọn chiến lược, đặc điểm, thiết kế tổ chức và sự phù hợp với môi trường của tổ chức. Ngoài ra, liên kết chiến lược còn được xem là “sự phù hợp chiến lược”, là mức độ mà tại đó chiến lược được thực hiện và chia sẻ rõ ràng trong tổ chức (Ngo, 2023).

Quan điểm dựa vào nguồn lực (RBV)

Lý thuyết dựa vào nguồn lực (Resource - Based View - RBV) đã được sử dụng rộng rãi để chứng minh rằng các công ty có thể đạt được lợi thế cạnh tranh và hiệu quả hoạt động tốt hơn. Quan điểm dựa trên nguồn lực cho rằng, các doanh nghiệp thành công nhờ sở hữu những nguồn lực và kỹ năng độc đáo khiến đối thủ khó sao chép (Susanti & cộng sự, 2023). Do đó, các công ty có thể đạt được lợi thế cạnh tranh bằng cách sở hữu hoặc phát triển những nguồn lực hiếm có, đặc biệt và không thể thay thế. Lý thuyết này cho rằng tài năng, kỹ năng và các nguồn lực khác giữa các tổ chức, giữa các doanh nghiệp là khác nhau - là những yếu tố chính ảnh hưởng đến sự thành công của tổ chức.

Thuyết năng lực động (DCT)

Để đối phó với môi trường kinh doanh cạnh tranh và năng động ngày nay, cần có nhiều năng lực khác nhau. Một trong những lý thuyết về lợi thế so sánh là lý thuyết về năng lực động. Năng lực động là khả năng tích hợp, xây dựng và cấu trúc lại các năng lực nội bộ và bên ngoài để giải quyết với những thay đổi của môi trường (Otache, 2024). Các công ty sở hữu những kỹ năng này có thể nhanh chóng thích ứng với môi trường kinh doanh biến động. Ngoài ra, năng lực động mang lại cho doanh nghiệp lợi thế cạnh tranh và cải thiện hiệu suất.

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Tổng quan các nghiên cứu cho thấy những nhân tố tác động vào kết quả kinh doanh cụ thể là năng lực đổi mới (Fernandez & cộng sự, 2021); năng lực động, tổ chức hiệu suất cao (Pattanasing & cộng sự, 2019); định hướng thị trường (Alnawas & Hemsley-Brown, 2019); năng lực quản trị tri thức (Nor & cộng sự, 2021); định hướng quản trị doanh thu, lợi thế cạnh tranh (Witarsana & cộng sự, 2022); quản trị quan hệ khách hàng (Yadav & Singh, 2014); danh tiếng, đổi mới dịch vụ (Musoga & cộng sự, 2021); nguồn lực cơ sở hạ tầng quản trị tri thức, nguồn lực quản trị tri thức công nghệ, tập trung vào khách hàng, marketing quan hệ, quản trị tri thức (Hamedani & cộng sự, 2023); quá trịnh quản trị tri thức (Brahami, 2020); trí tuệ nhân tạo (Al-Obaidi, 2024).

Các nhân tố tác động gián tiếp vào kết quả kinh doanh cụ thể gồm: Thực hành nhân sự hiệu quả cao qua trung gian học tập tổ chức (Chahal & cộng sự, 2016); năng lực đổi mới qua trung gian vốn chủ sở hữu khách hàng (Fernandez & cộng sự, 2021); năng lực động qua trung gian tổ chức hiệu suất cao (Pattanasing & cộng sự, 2019); cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, chất lượng thông tin qua trung gian năng lực đổi mới (Alaskar, 2023); định hướng thị trường qua 3 nhân tố trung gian là năng lực thương hiệu, năng lực quản trị quan hệ khách hàng và năng lực đổi mới dịch vụ (Alnawas & Brown, 2019); kiến thức quá trình, kiến thức cơ sở (Nor & cộng sự, 2021); định hướng thị trường qua trung gian lòng trung thành của khách hàng (Sampaio & cộng sự, 2020); định hướng thị trường qua 3 trung gian là định hướng quản trị doanh thu, lợi thế cạnh tranh và năng lực động (Witarsana & cộng sự, 2022).

Ngoài ra, năng lực đổi mới tác động điều tiết vào quan hệ giữa năng lực dịch vụ và kết quả kinh doanh (Yang, 2012); đổi mới dịch vụ tác động điều tiết vào quan hệ giữa kết quả kinh doanh và danh tiếng (Musoga & cộng sự, 2021); năng lực hấp thụ của nhân viên tác động điều tiết vào quan hệ giữa tiếp nhận kiến thức của nhân viên và kết quả kinh doanh (Cruz-Ros & cộng sự, 2021); hệ thống đo lường hiệu suất quản trị quan hệ khách hàng có tác động điều tiết vào quan hệ giữa năng lực cảm nhận của khách hàng và kết quả kinh doanh (Ngô Minh Vũ & Vũ Minh Hiếu, 2021); đổi mới môi trường có tác động điều tiết vào quan hệ giữa năng lực công nghệ thông tin kỹ thuật và kết quả kinh doanh (Erkmen & cộng sự, 2020)

Ngược lại tổng quan các nghiên cứu cũng cho thấy một số nhân tố không tác động trực tiếp vào kết quả kinh doanh gồm: năng lực đổi mới, năng lực thích nghi (Cevallos & Sánchez, 2024); đổi mới tổ chức (Lita & cộng sự, 2018); định hướng thị trường (Sukato, 2017; Lin & Brown, 2010; Kaliappen & cộng sự, 2017; Purwanto & cộng sự, 2022); hiệu ứng quản trị quan hệ khách hàng (Abbas & Hassan, 2017); cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, chất lượng thông tin, cường độ cạnh tranh (Alaskar, 2023); năng lực quản trị tri thức (Nor & cộng sự, 2021); tổ chức quản trị quan hệ khách hàng (Gasawneh & cộng sự, 2022); quá trình quản trị tri thức (Al-Azzam, 2016); quản trị quan hệ khách hàng dựa vào công nghệ (Brahami, 2020); năng lực động (Fatoki, 2021); văn hoá tổ chức (Jogaratnam, 2017).

Những nhân tố không có tác động gián tiếp vào kết quả kinh doanh gồm: định hướng thị trường qua trung gian chất lượng dịch vụ (Kaliappen & cộng sự, 2017); năng lực động qua trung gian đổi mới sản phẩm (Fatoki, 2021); năng lực công nghệ qua trung gian năng lực học tập (Salisu & Bakar, 2020); năng lực hấp thu qua trung gian năng lực đổi mới (Prakasa & cộng sự, 2022); năng lực động qua trung gian năng lực đổi mới sản phẩm (Kareem & cộng sự, 2024); định hướng kinh doanh qua trung gian năng lực đổi mới tổ chức (Maclean & cộng sự, 2023).

Bên cạnh đó, những nhân tố không có tác động điều tiết cụ thể gồm: năng lực giá không có tác động điều tiết vào quan hệ giữa định hướng quản trị doanh thu và kết quả kinh doanh (Witarsana & cộng sự, 2022); mạng lưới xã hội không có tác động điều tiết vào mối quan hệ giữa năng lực đổi mới và kết quả kinh doanh (Agyapong & cộng sự, 2018)

Căn cứ vào khoảng trống nghiên cứu nêu trên, tác giả đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu.

ĐỀ XUẤT GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Năng lực đổi mới (IC)

Năng lực đổi mới (IC) bao gồm các thành phần: khả năng tạo ra các sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu thị trường; khả năng áp dụng các quy trình công nghệ phù hợp để tạo ra các sản phẩm mới; khả năng tạo và phát triển các sản phẩm và công nghệ quy trình mới để đáp ứng nhu cầu trong tương lai; và khả năng phản ứng với các hoạt động công nghệ (Sahoo, 2019). Năng lực đổi mới của doanh nghiệp là khả năng huy động kiến ​​thức của nhân viên và kết hợp chúng để tạo ra kiến ​​thức mới dẫn đến đổi mới sản phẩm hoặc quy trình (Sahoo, 2019). Ngoài ra, theo Cevallos & Sánchez (2024) năng lực đổi mới có tác động vào kết quả kinh doanh, vì vậy giả thuyết H1 được đề xuất:

H1: Năng lực đổi mới có tác động đến kết quả kinh doanh.

Năng lực thích nghi (AC)

Một doanh nghiệp được coi là thích nghi nếu có thể nhận biết và nắm bắt các cơ hội thị trường mới. Các cơ hội từ các yếu tố bên ngoài như khía cạnh công nghệ, khía cạnh thị trường bên ngoài và khía cạnh tổ chức nội bộ. Khả năng phản ứng với các cơ hội thị trường sản phẩm bên ngoài, đầu tư vào các sáng kiến ​​tiếp thị và phản ứng nhanh chóng với các điều kiện thị trường thay đổi là những thành phần quan trọng nhất của năng lực thích nghi (Amayreh, 2020). Ngoài ra, các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng hiệu suất của doanh nghiệp và sự đổi mới sẽ được cải thiện nhờ năng lực thích nghi. Hơn nữa, năng lực thích nghi có tác động vào kết quả kinh doanh (Cevallos & Sánchez, 2024). Do đó, giả thuyết H2 được đề xuất cụ thể:

H2: Năng lực thích nghi có tác động đến kết quả kinh doanh.

Định hướng thị trường

Định hướng thị trường là một tập hợp các quy trình và các hoạt động liên chức năng gồm việc tạo ra thông tin, phổ biến thông tin và hành động phối hợp nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng (Kurniawan & cộng sự, 2021). Hơn nữa, định hướng thị trường có tác động đến kết quả kinh doanh (Ullah & cộng sự, 2019); định hướng thị trường có tác động gián tiếp đến kết quả kinh doanh qua trung gian chất lượng dịch vụ (Kaliappen & cộng sự, 2017). Do đó, giả thuyết H3, H4 được đề xuất:

H3: Định hướng thị trường có tác động đến kết quả kinh doanh.

H4: Định hướng thị trường có tác động gián tiếp đến kết quả kinh doanh qua trung gian chất lượng dịch vụ.

Năng lực quản trị tri thức

Quan điểm dựa vào tri thức xem tri thức là một nguồn lực quý giá của công ty (Fındıklı & cộng sự, 2015), bởi vì tri thức được tích lũy trong nhân viên của công ty và đảm bảo rằng các công ty có thể nâng cao năng lực chuyên môn và nắm bắt các cơ hội đổi mới. Việc triển khai một hệ thống toàn diện nhằm thúc đẩy sự mở rộng tri thức của tổ chức được gọi là quản lý tri thức.

Một quan điểm khác cho rằng quản trị tri thức là một cách tiếp cận toàn diện và có phương pháp bao gồm cơ sở dữ liệu, tài liệu, chính sách và quy trình, cũng như chuyên môn và kinh nghiệm hiện tại, và gắn liền với việc xác định, quản lý, phổ biến tất cả các tài sản thông tin của doanh nghiệp (Fındıklı & cộng sự, 2015). Ngoài ra, quản trị tri thức có tác động đến kết quả kinh doanh (Kavalić & cộng sự, 2021). Do đó, giả thuyết H5 được đề xuất,

H5: Quản trị tri thức có tác động đến kết quả kinh doanh.

Năng lực động (DC)

Năng lực động là sự mở rộng của lý thuyết dựa trên nguồn lực (RBV) của doanh nghiệp. Năng lực năng động được xem là "khả năng của doanh nghiệp trong việc tích hợp, xây dựng và cấu lại các năng lực nội bộ và bên ngoài để giải quyết những thay đổi trong môi trường (Fatoki, 2021). Ngoài ra, năng lực động là khả năng của một tổ chức trong việc chủ động tạo, mở rộng hoặc sửa đổi cơ sở nguồn lực của mình. Năng lực động có tác động vào kết quả kinh doanh (Fatoki, 2021). Do đó, giả thuyết H6 được đề xuất:

H6: Năng lực động có tác động vào kết quả kinh doanh.

Mạng lưới xã hội (SN)

Theo lý thuyết mạng lưới xã hội, mạng lưới xã hội có thể được hình thành vì nhiều lý do khác nhau, bao gồm lý do xã hội, cá nhân. Hơn nữa, Agyapong & cộng sự (2018) các tổ chức tham gia vào cả các mối quan hệ mạng lưới xã hội nội bộ và bên ngoài sẽ gia tăng giá trị bằng cách tận dụng các lợi thế và nguồn lực sẵn có trong mạng lưới. Hơn nữa, mạng lưới xã hội có tác động điều tiết vào quan hệ giữa năng lực đổi mới và kết quả kinh doanh. Do đó giả thuyết H7 được đề xuất:

H7: Mạng lưới xã hội có tác động điều tiết vào quan hệ giữa năng lực đổi mới và kết quả kinh doanh.

Căn cứ vào những lập luận trên, mô hình đề xuất nghiên cứu cụ thể như Hình 1:

Hình 1: Mô hình đề xuất nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu đề xuất các nhân tố tác động đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp lữ hành nhỏ và vừa tại TP. Hồ Chí Minh
Nguồn: Tác giả tổng hợp

KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TƯƠNG LAI

Việc tổng hợp cơ sở lý thuyết và các kết quả nghiên cứu trước đây là nền tảng xây dựng mô hình nghiên cứu gồm những nhân tố tác động trực tiếp, gián tiếp và điều tiết đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các nhân tố được xác định gồm: năng lực đổi mới, năng lực thích nghi, định hướng thị trường, năng lực quản trị tri thức, năng lực động. Tất cả các nhân tố này được xác định có tác động trực tiếp đến kết quả kinh doanh. Ngoài ra, nhân tố định hướng thị trường tác động gián tiếp vào kết quả kinh doanh qua trung gian chất lượng dịch vụ. Nhân tố mạng lưới xã hội tác động điều tiết vào quan hệ giữa năng lực đổi mới và kết quả kinh doanh.

Nghiên cứu kỳ vọng lấp đi khoảng trống nghiên cứu của các tác giả Cevallos & Sánchez (2024); Sukato (2017); Lin & Brown (2010); Kaliappen & cộng sự, (2017); Purwanto & cộng sự (2022); Nor & cộng sự (2021); Fatoki, (2021); Kaliappen & cộng sự (2017); Agyapong & cộng sự (2018) và mở rộng hướng tiếp cận ở các doanh nghiệp lữ hành nhỏ và vừa ở khu vực Thành Phố Hồ Chí Minh.

Nghiên cứu đề xuất mô hình nghiên cứu dựa vào tổng quan và kết quả của các nghiên cứu trước nhưng chưa kiểm định mô hình nghiên cứu. Các nghiên cứu tiếp theo có thể kiểm định, đo lường mô hình bằng CB-SEM hoặc PLS-SEM. Việc đo lường bằng các công cụ phần mềm qua CB-SEM hoặc PLS-SEM sẽ làm cơ sở đưa ra đề xuất các giải pháp thực tế. Hơn nữa, ngoài nhân tố điều tiết là mạng lưới xã hội, các nghiên cứu tiếp theo sử dụng các nhân tố điều tiết định tính hoặc định lượng khác.

Tài liệu tham khảo:

1. Abbas, M. W., & Hassan, M. ul. (2017). Moderating Impact of Environmental Turbulence on Relationship between Business Innovation and Business Performance. Pakistan Journal of Commerce and Social Sciences, 11(2), 576-596.

2. Agyapong, A., Mensah, H. K., & Ayuuni, A. M. (2018). The moderating role of social network on the relationship between innovative capability and performance in the hotel industry. International Journal of Emerging Markets, 29(5), 494-519.

3. Alaskar, T. H. (2023). Innovation Capabilities as a Mediator between Business Analytics and Firm Performance. Sustainability, 15, 1-21.

4. Al-Azzam, A. F. M. (2016). The Impact of Customer Relationship Management on Hotels Performance in Jordan. International Journal of Business and Social Science, 7(4), 200–210. https://doi.org/10.21608/jces.2024.352820.

5. Alnawas, I., & Hemsley-Brown, J. (2019). Market orientation and hotel performance: investigating the role of high-order marketing capabilities. International Journal of Contemporary Hospitality Management, 31(4), 1885-1905. https://doi.org/10.1108/IJCHM-07-2018-0564.

6. Al-Obaidi, M. M. I. (2024). Knowledge Management in Light of Artificial Intelligence and Its Impact on Improving the Performance of the Hotel Organization. International Journal of Tourism and Hospitality Management, 4(2), 17-34. https://doi.org/10.55640/ijthm-04-02-04.

7. Brahami, M. (2020). The influences of knowledge management and customer relationship management to improve hotels performance: A case study in hotel sector. Information Resources Management Journal, 33(4), 74-93. https://doi.org/10.4018/IRMJ.2020100105.

8. Cevallos, G. R., & Centrum, D. G. S. (2024). Dynamic Capabilities and Performance of Family Businesses in Emerging Economies. Business: Theory and Practice, 25(1), 263-277. https://doi.org/10.3846/btp.2024.20069.

9. Chahal, H., Jyoti, J., & Rani, A. (2016). The Effect of Perceived High- performance Human Resource Practices on Business Performance : Role of Organizational Learning. Global Business Review, 17(35), 1-26. https://doi.org/10.1177/0972150916631193.

10. Chen, C. F., & Myagmarsuren, O. (2013). Exploring the Moderating Effects of Value Offerings Between Market Orientation and Performance in Tourism Industry. Tourism, 1-16.

11. Cruz-Ros, S., Guerrero-Sánchez, D. L., & Miquel-Romero, M. J. (2021). Absorptive capacity and its impact on innovation and performance: findings from SEM and fsQCA. Review of Managerial Science, 15(2), 235–249. https://doi.org/10.1007/s11846-018-0319-7.

12. Elbaz, A. M., Agag, G. M., & Alkathiri, N. A. (2018). How ability, motivation and opportunity influence travel agents performance: the moderating role of absorptive capacity. Journal of Knowledge Management, 22(1), 119–141. https://doi.org/10.1108/JKM-07-2017-0308.

13. Erkmen, T., Günsel, A., & Altindağ, E. (2020). The role of innovative climate in the relationship between sustainable IT capability and firm performance. Sustainability (Switzerland), 12(10), 1-27. https://doi.org/10.3390/SU12104058.

14. Fatoki, O. (2021). Dynamic capabilities and performance of hospitality firms in south africa: The mediating effect of innovation. Geojournal of Tourism and Geosites, 36(2), 616–623. https://doi.org/10.30892/GTG.362SPL08-690.

15. Fernandez, P. P., Vijande, M. L. S., Sanchez, J. A. L., & Molina, A. (2021). Key drivers of innovation capability in hotels: implications on performance. International Journal of Hospitality Management, 94, 1–12. https://doi.org/10.1016/j.ijhm.2020.102825.

16. Sahoo, S. (2019). Quality management, innovation capability and firm performance: Empirical insights from Indian manufacturing DNNVV. TQM Journal, 31(6), 1003–1027. https://doi.org/10.1108/TQM-04-2019-0092.

17. Gasawneh, J. A., Alzubi, K. N., Anuar, M. M., Padlee, S. F., Ul-Haque, A., & Saputra, J. (2022). Marketing Performance Sustainability in the Jordanian Hospitality Industry : The Roles of Customer Relationship Management and Service Quality. Sustainability, 14, 1-26.

18. Hamedani, S. S., Bawazir, A. A., Jayaselan, Y., & Athithan, V. (2023). The Influence of Customer Relationship Management Practices on the Organization Performance of Hotels in Malaysia: The Mediating Role of Market Orientation. International Journal of Academic Research in Economics and Management Sciences, 12(2), 461–474. https://doi.org/10.6007/ijarems/v12-i2/17274.

19. Imran, M. K., Ilyas, M., & Fatima, T. (2017). Achieving Organizational Performance through Knowledge Management Capabilities: Mediating Role of Organizational Learning. Pakistan Journal of Commerce and Social Sciences, 11(1), 106-125.

20. Iqbal, M., Azis, Y., Sucherly, S., & Kaltum, U. (2023). Factors affecting performance excellence in Indonesian state-owned enterprises. Problems and Perspectives in Management, 21(4), 264–277. https://doi.org/10.21511/ppm.21(4).2023.21.

21. Kale, E., Aknar, A., & Başar, Ö. (2018). Absorptive capacity and firm performance: The mediating role of strategic agility. International Journal of Hospitality Management, 78, 1–8. https://doi.org/10.1016/j.ijhm.2018.09.010.

22. Kaliappen, N., Hilman, H., & Abubakar, A. (2017). Market orientation and performance : The mediating effect of service quality and moderating effect of star rating system. Journal of Business and Retail Management Research, 11(3), 165-179.

23. Quang, P. D., Tai, N. C., Quyen, H. N., Anh, L. T. Van, & Chi, D. M. (2025). Analysis of the impact of factors affecting the recovery of small and medium enterprises in Vietnam with the goal of sustainable development in the context of economic crisis. Journal of Lifestyle & SDG’s Review, 5, 1-21.

Ngày nhận bài: 27/12/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 28/1/2026; Ngày duyệt đăng: 5/2/2026

Các tin khác

Tác động của truyền thông bản địa hóa trên mạng xã hội đến hành vi tiêu dùng của Gen Z tại Hà Nội: So sánh KFC, Starbucks và Pizza 4P’s

Tác động của truyền thông bản địa hóa trên mạng xã hội đến hành vi tiêu dùng của Gen Z tại Hà Nội: So sánh KFC, Starbucks và Pizza 4P’s

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng, thành công của các thương hiệu thuộc những phân khúc khác nhau - từ thức ăn nhanh đại chúng như KFC, chuỗi cà phê phong cách sống như Starbucks đến mô hình nhà hàng trải nghiệm như Pizza 4P’s - không chỉ phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm và dịch vụ mà còn gắn với khả năng thích ứng với đặc điểm văn hóa và hành vi của người tiêu dùng địa phương.
Giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh Vĩnh Long trong không gian phát triển mới

Giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh Vĩnh Long trong không gian phát triển mới

Việc tổ chức lại đơn vị hành chính làm thay đổi căn bản đặc điểm địa kinh tế của tỉnh Vĩnh Long. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh Vĩnh Long trong không gian phát triển mới là yêu cầu cấp thiết.
Kinh nghiệm quốc tế tăng trưởng 2 con số và bài học cho Việt Nam

Kinh nghiệm quốc tế tăng trưởng 2 con số và bài học cho Việt Nam

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn như quy mô nền kinh tế liên tục được mở rộng, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt và vị thế quốc tế được nâng cao. Đến năm 2025, GDP bình quân đầu người của Việt Nam ước đạt khoảng 5.066 USD (World Bank, 2026), đưa nước ta vào nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao.
Tác động của nền tảng công nghệ số và áp lực thể chế đến quyết định mua vật liệu xây dựng xanh của các chủ đầu tư bất động sản tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của nền tảng công nghệ số và áp lực thể chế đến quyết định mua vật liệu xây dựng xanh của các chủ đầu tư bất động sản tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh cam kết phát triển bền vững và các tiêu chuẩn Môi trường - Xã hội - Quản trị (ESG) ngày càng trở thành yêu cầu bắt buộc, ngành bất động sản và xây dựng đang đứng trước sức ép cấp thiết phải chuyển đổi sang chuỗi cung ứng xanh. Tuy nhiên, tại một thị trường sôi động như TP. Hồ Chí Minh, tiến trình hiện thực hóa các quyết định mua vật liệu xây dựng xanh của chủ đầu tư vẫn gặp nhiều rào cản do lo ngại về chi phí, rủi ro vận hành và tình trạng bất cân xứng thông tin trên thị trường.
Đào tạo lại và nâng cao năng lực nhằm thúc đẩy dịch chuyển nghề nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Đào tạo lại và nâng cao năng lực nhằm thúc đẩy dịch chuyển nghề nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Tại Việt Nam, quy mô lực lượng lao động đang tiếp tục mở rộng, đạt 54,1 triệu người tính đến quý III/2026, tăng 697.000 người so với cùng kỳ năm trước. Tính đến tháng 9/2026, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ là 29,9%, cao hơn 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025.
Quản lý sản xuất sầu riêng theo hướng bền vững: Nghiên cứu trường hợp tại xã Ea Knuếc, tỉnh Đắk Lắk

Quản lý sản xuất sầu riêng theo hướng bền vững: Nghiên cứu trường hợp tại xã Ea Knuếc, tỉnh Đắk Lắk

Sầu riêng là cây trồng quan trọng, góp phần nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế tại xã Ea Knuếc, tỉnh Đắk Lắk. Quản lý sản xuất sầu riêng tại xã Ea Knuếc, tỉnh Đắk Lắk có những kết quả tích cực, song còn hạn chế về an toàn lao động, sử dụng nước, xử lý chất thải và thực hiện cam kết tiêu thụ.
Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ tại tỉnh Vĩnh Long

Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ tại tỉnh Vĩnh Long

Thu nhập của nông hộ là chỉ tiêu kinh tế cốt lõi phản ánh năng lực bảo đảm đời sống, mức độ tích lũy tài chính và khả năng tái đầu tư mở rộng sản xuất của gia đình ở khu vực nông thôn. Khác với khu vực đô thị nơi thu nhập chủ yếu đến từ tiền lương cố định, sinh kế của nông hộ tại Đồng bằng sông Cửu Long mang tính chất hỗn hợp và đa dạng, gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất nông nghiệp (trồng lúa, cây ăn trái, chăn nuôi, thủy sản) với các hoạt động phi nông nghiệp và làm thuê (Đào Thế Tuấn, 1995). Trong tiến trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, thu nhập của hộ phản ánh hiệu quả của việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực sinh kế hữu hình và vô hình.
Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao tại một số quốc gia Đông Nam Á

Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao tại một số quốc gia Đông Nam Á

Thu hút FDI tại Đông Nam Á đang chuyển từ chú trọng quy mô sang chất lượng dòng vốn, giá trị gia tăng và khả năng lan tỏa công nghệ. Nghiên cứu tiếp cận FDI theo cơ cấu ngành để làm rõ vai trò của tăng trưởng kinh tế, độ mở thương mại, chất lượng thể chế, vốn nhân lực và năng lượng tái tạo đối với khả năng thu hút FDI chất lượng cao trong khu vực.
Nâng cao dịch vụ sau bán hàng trong logistics Việt Nam: Tiếp cận từ hiệu quả tài chính và trung thành khách hàng

Nâng cao dịch vụ sau bán hàng trong logistics Việt Nam: Tiếp cận từ hiệu quả tài chính và trung thành khách hàng

Logistics là lĩnh vực có vai trò quan trọng trong vận hành nền kinh tế, đặc biệt đối với một quốc gia có độ mở thương mại cao như Việt Nam.
Tính chân thực của livestreamer và ý định mua lại của khách hàng: Vai trò của niềm tin và chất lượng thông tin sản phẩm

Tính chân thực của livestreamer và ý định mua lại của khách hàng: Vai trò của niềm tin và chất lượng thông tin sản phẩm

Nghiên cứu phân tích tác động của tính chân thực cảm nhận của người livestream đến ý định mua lại, với niềm tin vào người bán là biến trung gian và chất lượng thông tin sản phẩm là biến điều tiết. Kết quả nghiên cứu góp phần xác định điều kiện giới hạn tác động của tính chân thực trong quá trình hình thành niềm tin.