Kinh nghiệm quốc tế tăng trưởng 2 con số và bài học cho Việt Nam
TS. Nguyễn Thị Minh Phương
Email: [email protected]
ThS. Nguyễn Thị Thanh Lam
Email: [email protected]
Học viện Ngoại giao
Tóm tắt
Bước vào giai đoạn 2026-2030, Việt Nam đứng trước yêu cầu phải có sự bứt phá về tốc độ tăng trưởng kinh tế để đạt được mục tiêu chiến lược là trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Nghiên cứu thực hiện phân tích 4 nền kinh tế Đông Á từng bứt phá thần kỳ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc theo một khung phân tích toàn diện về tăng trưởng kinh tế 2 con số với 3 trụ cột là yếu tố cung, yếu tố cầu và thể chế - chính sách. Từ đó, nghiên cứu rút ra các bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho Việt Nam.
Từ khóa: Tăng trưởng 2 con số, nhà nước kiến tạo phát triển, năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), chính sách công nghiệp, Việt Nam
Abstract
As Viet Nam enters the 2026-2030 period, it faces the imperative of achieving a major acceleration in economic growth to realize its strategic goal of becoming a developed, high-income country by 2045. This study examines four East Asian economies that have achieved remarkable economic breakthroughs: Japan, South Korea, Singapore, and China, using a comprehensive analytical framework for double-digit economic growth based on three pillars: supply-side factors, demand-side factors, and institutions and policies. On this basis, the study draws lessons from these economies that may inform Viet Nam’s development strategy.
Keywords: Double-digit growth, developmental state, total factor productivity (TFP), industrial policy, Viet Nam
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn như quy mô nền kinh tế liên tục được mở rộng, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt và vị thế quốc tế được nâng cao. Đến năm 2025, GDP bình quân đầu người của Việt Nam ước đạt khoảng 5.066 USD (World Bank, 2026), đưa nước ta vào nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao. Tuy nhiên, để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược do Đại hội Đảng toàn quốc lần XIV đề ra là đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026) thì tốc độ tăng trưởng GDP ở mức 6-7%/năm là chưa đủ.
Lịch sử kinh tế thế giới chứng kiến rất ít nền kinh tế vượt qua được ngưỡng thu nhập trung bình để gia nhập hàng ngũ các quốc gia phát triển giàu có. Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Trung Quốc là các quốc gia có tính tương đồng về mô hình phát triển và có sự phát triển được coi là phép màu kinh tế. Đây là nhóm các nền kinh tế tiêu biểu nhất đã thành công trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao và liên tục trong nhiều thập kỷ, chuyển đổi ngoạn mục từ các quốc gia nông nghiệp hoặc thu nhập thấp sang nhóm các quốc gia phát triển, thu nhập cao. Việc nghiên cứu 4 quốc gia này cung cấp những kinh nghiệm thực tiễn quan trọng để Việt Nam tham chiếu cho chiến lược tăng trưởng giai đoạn 2026-2030.
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 2 CON SỐ
Thành tựu chung của Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Trung Quốc không chỉ dừng lại ở các con số thống kê về GDP mà là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ thâm dụng lao động sang thâm dụng vốn và công nghệ cao. Các quốc gia này đã thành công trong việc xây dựng năng lực nội sinh, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và thiết lập các thể chế quản trị thị trường hiệu quả. Bảng 1 tổng hợp các dữ liệu thống kê tổng quát trong giai đoạn tăng trưởng cao của 4 nền kinh tế.
Bảng 1: Tổng hợp các chỉ số tăng trưởng tổng quát
|
Tiêu chí so sánh |
Nhật Bản |
Hàn Quốc |
Singapore |
Trung Quốc |
|---|---|---|---|---|
|
Giai đoạn tăng trưởng cao |
1960-1969 (10 năm) |
1966-1991 (26 năm) |
1966-1981 (16 năm) |
1978-2010 (33 năm) |
|
Tốc độ tăng GDP bình quân (%) |
~10,4% |
10,1% |
10,2% |
10,0% |
|
GDP/người (USD) (Đầu kỳ → Cuối kỳ) |
519,4 (1960) → 1840,9 (1969) |
134,4 (1966) → 7.872,7 (1991) |
566,8 (1966) → 5.596,6 (1981) |
156,7 (1978) → 4629.2 (2010) |
Nguồn: World bank, 2026
Yếu tố phía cung
Tăng trưởng kinh tế từ phía cung là kết quả của việc huy động, phân bổ và nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào cơ bản, bao gồm vốn, lao động, tiến bộ công nghệ và tài nguyên thiên nhiên (Lucas, 1988; Solow, 1956). Trong giai đoạn tăng trưởng cao, 4 nền kinh tế đều cho thấy khả năng vượt trội trong việc huy động nguồn lực; chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế từ các khu vực năng suất thấp sang ngành chế tạo, chế biến có giá trị gia tăng cao. Điểm cốt lõi dẫn đến thành công này là khả năng nâng tỷ lệ tiết kiệm nội địa lên mức rất cao và duy trì sự bền bỉ trong suốt quá trình này (Bảng 2).
Bảng 2: Tổng hợp các chỉ số của yếu tố phía cung
|
Tiêu chí phía Cung |
Nhật Bản |
Hàn Quốc |
Singapore |
Trung Quốc |
|---|---|---|---|---|
|
Tỷ lệ tiết kiệm/GDP (%) |
22,0% (1960) → 25,2% (1969) |
25,8% (1976) → 39,5% (1991) |
26,3% (1972) → 35,9% (1981) |
33,7% (1982) → 50,8% (2010) |
|
Dân số 15-64 tuổi (%) |
64,4% → 69,7% |
53,3% → 69,8% |
54,6% → 70,0% |
57,3% → 72,9% |
|
Tốc độ tăng TFP bình quân (%) |
~2,8% |
~1,9% |
~0% |
3,5% |
|
Thu nhập tài nguyên/GDP (%) |
- |
0,2% (1971) → 0,1% (1991) |
0% |
11,2% (1978) → 6,3% (2010) |
Nguồn: World bank, 2026
Để đạt được mức tích lũy nội địa lớn, chính phủ các quốc gia đã thiết lập những kênh định chế đặc thù nhằm điều tiết tiêu dùng và tập trung nguồn vốn nhàn rỗi. Nhật Bản kích thích tiết kiệm hộ gia đình thông qua Chế độ Maruyu miễn thuế đối với các khoản tiền gửi nhỏ và hệ thống Tiết kiệm Bưu điện để huy động vốn từ khu vực nông thôn. Hàn Quốc thực hiện cuộc cải cách lãi suất vào giữa thập niên 1960, nâng lãi suất tiền gửi kỳ hạn 1 năm lên mức rất cao để thu hút dòng tiền từ khu vực phi chính thức vào hệ thống ngân hàng được nhà nước kiểm soát; đồng thời hạn chế nhập khẩu hàng xa xỉ. Singapore tiếp cận thông qua Quỹ Tiết kiệm Trung ương (CPF), với tỷ lệ đóng góp bắt buộc từ lương tăng mạnh qua các thập kỷ, tạo nguồn vốn dài hạn cho hạ tầng và chương trình nhà ở công cộng nhằm giữ ổn định xã hội. Trung Quốc thúc đẩy tiết kiệm gắn liền với quá trình cắt giảm các an sinh bao cấp cũ kết hợp với chính sách kế hoạch hóa gia đình. Điều này buộc các hộ gia đình phải tăng tiết kiệm phòng ngừa rủi ro cho y tế, giáo dục và dưỡng lão (Kuijs và Wang, 2006).
Về nguồn nhân lực, cả 4 quốc gia đều tận dụng được lợi thế cơ cấu dân số vàng và lực lượng lao động được đào tạo bài bản. Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động tăng liên tục, kết hợp với dòng di cư lao động từ nông thôn ra khu vực đô thị đã cung cấp nguồn cung dồi dào, giữ chi phí nhân công ở mức thấp. Chính sách giáo dục tại các quốc gia này được thiết kế đi trước một bước so với nhu cầu chuyển dịch công nghiệp. Hàn Quốc ban hành Luật Đào tạo nghề cơ bản năm 1976 để đào tạo thợ kỹ thuật tại chỗ; Singapore lập Quỹ Phát triển Kỹ năng (1979) để nâng cấp lao động đón đầu công nghệ cao; Nhật Bản xây dựng chế độ làm việc trọn đời để tích lũy kỹ năng nội bộ dài hạn. Việc đầu tư vào giáo dục giúp nâng cao đáng kể số năm đi học bình quân của người lao động (Barro và Lee, 2013).
Sự dịch chuyển từ tiếp thu công nghệ bên ngoài sang tự chủ đổi mới là nhân tố quyết định chất lượng tăng trưởng. Trung Quốc dẫn đầu về tốc độ tăng năm suất nhân tố tổng hợp (TFP), theo sau là Nhật Bản và Hàn Quốc, trong khi Singapore ghi nhận mức tăng TFP thấp hơn trong giai đoạn này (Feenstra và cộng sự, 2015). Sự đứng yên của TFP ở Singapore thời kỳ đầu phản ánh mô hình tăng trưởng dựa vào nhập khẩu công nghệ chìa khóa trao tay từ các công ty đa quốc gia thay vì hình thành năng lực nội sinh (Young, 1992). Ngược lại, Nhật Bản và Hàn Quốc ưu tiên mua bản quyền, nhập khẩu máy móc và buộc đối tác ngoại chia sẻ công nghệ để các tổ chức nghiên cứu trong nước cải tiến công nghệ lõi (Johnson, 1982; Kim, 1997). Trung Quốc kết hợp chuyển giao công nghệ qua liên doanh bắt buộc với đầu tư năng lực khoa học công nghệ (KHCN) nội sinh thông qua các chương trình quốc gia về công nghệ cao, nâng tỷ trọng chi nghiên cứu và phát triển (R&D)/GDP đáng kể qua các thời kỳ.
Cuối cùng, tài nguyên thiên nhiên hoàn toàn không phải là động lực chính của tăng trưởng. Trừ giai đoạn đầu ở Trung Quốc, tỷ trọng thu nhập từ tài nguyên trên GDP ở các quốc gia này thường rất thấp hoặc phụ thuộc vào nhập khẩu. Sự sụt giảm liên tục tỷ trọng này tại Trung Quốc từ năm 1978 đến 2010 khẳng định rằng động lực tăng trưởng dựa trên chuyển dịch cấu trúc vĩ mô hiệu quả phía cung chứ không dựa vào khai thác tài nguyên thô. Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu cũng đặt các quốc gia này vào thế dễ tổn thương trước các cú sốc cung toàn cầu, buộc họ phải liên tục thích ứng thông qua các chính sách công nghiệp mạnh mẽ.
Yếu tố phía cầu
Cầu là nhân tố quyết định khả năng chuyển hóa năng lực sản xuất tiềm năng từ phía cung thành kết quả tăng trưởng thực tế. Theo Lý thuyết của Keynes (1936), một nền kinh tế không thể duy trì mở rộng nếu tổng cầu không đủ lớn để hấp thụ sản lượng gia tăng. Kinh nghiệm duy trì tốc độ tăng trưởng 2 con số kéo dài của Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Trung Quốc đã chứng minh tầm quan trọng của việc quản lý và kích thích tổng cầu một cách có chủ đích nhằm tạo ra sự cân bằng động giữa năng lực cung và sức hấp thụ của thị trường. Mặc dù cấu trúc tổng cầu của mỗi quốc gia có sự khác biệt tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên và quy mô dân số, một điểm chung trong mô hình của 4 nước này là chiến lược chủ động giảm tỷ trọng tiêu dùng hộ gia đình trong nước để giải phóng tối đa nguồn lực tài trợ cho tích lũy tài sản cố định gộp; đồng thời thúc đẩy xuất khẩu toàn cầu để vượt qua giới hạn của quy mô cầu nội địa (Bảng 3).
Bảng 3: Phân tích yếu tố phía cầu
|
Tiêu chí phía cầu |
Nhật Bản |
Hàn Quốc |
Singapore |
Trung Quốc |
|---|---|---|---|---|
|
Tiêu dùng hộ gia đình/GDP (%) |
57,6% (1960) → 52,6% (1969) |
78,4% (1966) → 50,2% (1991) |
76,6% (1966) → 47,9% (1981) |
47,7% (1978) → 34,6% (2010) |
|
Tỷ lệ Tổng đầu tư/GDP (%) |
29,0% (1960) → 34,5% (1969) |
20,2% (1966) → 38,4% (1991) |
19,5% (1966) → 42,1% (1981) |
29,3% (1978) → 43,5% (2010) |
|
Đầu tư tư nhân/GDP (%) |
22,0% (1960) → 26,6% (1969) |
19,5% (1970) → 32,6% (1991) |
13,0% (1966) → 31,8% (1981) |
28,6% (1992) → 39,2% (2010) |
|
FDI ròng/GDP (%) |
~ |
0,7% (1970) → 0,4% (1991) |
4,8% (1970) → 11,7% (1981) |
0,0% (1979) → 3,9% (2010) |
|
Xuất khẩu/GDP (%) |
10,7% (1960) → 10,5% (1969) |
8,4% (1966) → 23,0% (1991) |
123,3% (1966) → 198,2% (1981) |
7,2% (1978) → 26,7% (2010) |
Nguồn: World bank, 2026
Đầu tiên, các quốc gia đều thực hiện chính sách giảm tiêu dùng hộ gia đình để ưu tiên không gian cho tích lũy vốn. Sự cắt giảm tiêu dùng hộ gia đình đã tạo điều kiện cho sự bùng nổ của tích lũy tài sản cố định gộp (GFCF), trở thành động lực cốt lõi nhất thúc đẩy cả tổng cầu ngắn hạn lẫn năng lực cung dài hạn. Trong các giai đoạn tăng trưởng cao, cả 4 nền kinh tế Đông Á đều đạt được tỷ lệ GFCF trên GDP vượt qua mọi tiêu chuẩn lịch sử vĩ mô toàn cầu. Sự bứt phá này tạo ra một vòng xoáy đầu tư dẫn dắt, trong đó tích lũy tài sản cố định của khu vực tư nhân giữ vai trò chủ đạo, dao động quanh mức 22%-39% GDP.
Dù đều chú trọng tỷ lệ đầu tư cao, cấu trúc dòng vốn và chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giữa các quốc gia có sự phân hóa sâu sắc. Singapore lựa chọn mô hình phát triển dựa vào nguồn lực bên ngoài với vốn FDI chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng đầu tư. Do tầng lớp doanh nhân trong nước chưa kịp hình thành trong giai đoạn đầu, chính phủ Singapore đã chủ động giao khu vực chế tạo hướng xuất khẩu cho các công ty đa quốc gia (Huff, 1995). Ngược lại, Trung Quốc thực hiện hướng đi kết hợp, thu hút FDI ròng thông qua việc thiết lập các Đặc khu Kinh tế từ năm 1980 với ưu đãi thuế vượt trội, nhưng vẫn bảo đảm dòng vốn tiết kiệm nội địa đóng vai trò chủ đạo (Naughton, 2007). Với Nhật Bản và Hàn Quốc, chính sách lại ưu tiên bảo vệ quyền sở hữu của doanh nghiệp nội địa bằng cách hạn chế tối đa sự hiện diện của FDI ròng. Nhật Bản ưu tiên vay nợ dài hạn từ các định chế tài chính quốc tế để phát triển hạ tầng, còn Hàn Quốc bảo lãnh thanh toán cho doanh nghiệp tư nhân vay nợ thương mại nước ngoài thông qua Luật Thu hút vốn nước ngoài năm 1966, chấp nhận rủi ro quốc gia để duy trì sự kiểm soát của các tập đoàn gia đình đối với nền công nghiệp nặng (Amsden, 1989; Cho và Kim, 1995).
Bên cạnh đầu tư tư nhân, chi tiêu tiêu dùng của chính phủ được kiểm soát ở mức thấp và ổn định, nhưng định hướng chi tiêu lại ưu tiên cho việc kiến tạo năng lực sản xuất thay vì phúc lợi xã hội. Trong bối cảnh tổng cầu tăng trưởng nóng, chính phủ các nước Đông Á duy trì kỷ luật tài khóa chặt chẽ, dồn ngân sách cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng vật chất và giáo dục. Tỷ lệ chi tiêu chính phủ trên GDP luôn được giữ ở mức khiêm tốn, bình quân khoảng 10% tại Hàn Quốc, Nhật Bản và Singapore. Tại Nhật Bản, thay vì kích cầu trực tiếp bằng phát hành trái phiếu bù đắp thâm hụt thường xuyên, chính phủ tập trung phát hành trái phiếu xây dựng công trình để tài trợ cho các đại dự án hạ tầng như mạng lưới Shinkansen và hệ thống đường cao tốc liên vùng. Khi nền kinh tế vấp phải các cú sốc suy giảm cầu bên ngoài, nhà nước lập tức kích hoạt vai trò điều tiết tài khóa cực mạnh qua hệ thống ngân hàng và tín dụng nhà nước để bơm vốn trực tiếp vào các dự án hạ tầng công cộng quy mô lớn nhằm ổn định chu kỳ kinh tế và duy trì đà tổng cầu vĩ mô (Kuijs và Wang, 2006).
Cuối cùng, thương mại quốc tế có vai trò quan trọng giúp các quốc gia Đông Á vượt qua ràng buộc cán cân thanh toán và khai thác tối đa lợi ích kinh tế theo quy mô. Theo mô hình tăng trưởng ràng buộc bởi cán cân thanh toán của Thirlwall (1979), một quốc gia chỉ có thể duy trì tốc độ tăng trưởng cao nếu xuất khẩu tăng trưởng đủ nhanh để tài trợ cho nhu cầu nhập khẩu công nghệ và máy móc phục vụ công nghiệp hóa mà không làm cạn kiệt ngoại tệ. Ở giai đoạn cất cánh, do nhu cầu nhập khẩu tư liệu sản xuất cực lớn, cán cân thương mại của Hàn Quốc và Singapore thường ở trạng thái thâm hụt sâu. Tuy nhiên, nhờ chiến lược định hướng xuất khẩu nhất quán, 2 quốc gia này đã thu hẹp liên tục khoảng cách thâm hụt và đưa cán cân thương mại chuyển sang thặng dư bền vững vào cuối kỳ (Rhee và cộng sự, 1984). Trung Quốc và Nhật Bản đạt thặng dư thương mại sớm hơn và duy trì mức thặng dư vãng lai liên tục, thúc đẩy tích lũy ngoại hối. Khai thác thị trường toàn cầu cho phép các doanh nghiệp chuyên môn hóa sâu, giảm chi phí sản xuất và đẩy nhanh tốc độ tăng năng suất lao động của toàn bộ nền kinh tế (Naughton, 2007). Trải qua chu kỳ này, cơ cấu xuất khẩu dịch vụ và hàng hóa của các quốc gia Đông Á đã tự chuyển dịch từ hàng tiêu dùng thâm dụng lao động đơn giản sang hàng công nghệ chế tạo có giá trị gia tăng và hàm lượng kỹ thuật cao hơn. Như vậy, trong mô hình tăng trưởng 2 con số, xuất khẩu không chỉ là cách để thu ngoại tệ, mà còn là công cụ kỷ luật thị trường nghiêm khắc nhất, buộc các doanh nghiệp trong nước phải liên tục nâng cao năng lực để tồn tại trong môi trường cạnh tranh quốc tế khốc liệt.
Yếu tố thể chế - chính sách
Thực tiễn tăng trưởng kinh tế tại 4 quốc gia Đông Á đã khẳng định vai trò then chốt của mô hình nhà nước kiến tạo phát triển. Trong mô hình này, nhà nước không chỉ duy trì sự tự chủ cao để giữ vững kỷ luật chính sách, mà còn thiết lập sự gắn kết chặt chẽ với khu vực tư nhân thông qua các mạng lưới trao đổi thông tin, từ đó kịp thời điều chỉnh chính sách bám sát diễn biến thị trường (Evans, 1995).
Nhật Bản là quốc gia tiên phong định hình mô hình này. Chính phủ Nhật Bản xây dựng sự đồng thuận chiến lược giữa các chủ thể chính, trong đó bộ máy kỹ trị với Bộ Thương mại và Công nghiệp Quốc tế (MITI) và Bộ Tài chính trực tiếp điều phối. Chính phủ sử dụng hướng dẫn hành chính để định hướng doanh nghiệp theo mục tiêu quốc gia thay vì áp đặt mệnh lệnh. Các kế hoạch chiến lược dài hạn như Kế hoạch Nhân đôi Thu nhập Quốc dân (1960), đã tạo niềm tin cho đầu tư dài hạn. Về cấu trúc vi mô, Chính phủ khuyến khích mô hình keiretsu (hệ thống liên kết sở hữu chéo được giám sát bởi các ngân hàng chủ đạo) giúp bảo vệ doanh nghiệp khỏi áp lực lợi nhuận ngắn hạn (Johnson, 1982).
Hàn Quốc áp dụng mô hình với kỷ luật thép, xem tăng trưởng là nhiệm vụ an ninh quốc gia. Ủy ban Kế hoạch Kinh tế (EPB) nắm toàn quyền phân bổ nguồn lực, đình chỉ tự quản địa phương để tối ưu tiến độ hạ tầng. Điểm đột phá là cơ chế hỗ trợ có điều kiện khi nhà nước quốc hữu hóa ngân hàng, định hướng tín dụng cho các tập đoàn gia đình; đổi lại, các tập đoàn phải tuân thủ nghiêm ngặt chỉ tiêu xuất khẩu. Cơ chế này tạo áp lực cạnh tranh khốc liệt khi những doanh nghiệp thất bại sẽ bị cắt dòng tín dụng. Điều này tạo động lực mạnh mẽ cho sự bứt phá (Amsden, 1989; Cho và Kim, 1995).
Singapore lựa chọn cách tiếp cận thực dụng thông qua việc tích hợp FDI. Chính phủ thực hiện mở cửa triệt để, thu hút các công ty đa quốc gia làm động lực sản xuất xuất khẩu. Song song với đó, Chính phủ xây dựng cấu trúc lưỡng hệ, tập trung phát triển hạ tầng và dịch vụ thông qua các doanh nghiệp nhà nước dưới sự quản lý của Temasek Holdings. Điều phối vĩ mô được thực hiện bởi các cơ quan chuyên trách quyền lực như EDB hay MAS, trong đó tỷ giá hối đoái được sử dụng làm công cụ chủ chốt để ổn định chi phí nhập khẩu (Huff, 1995).
Trung Quốc lại áp dụng chiến lược phân quyền tài khóa mạnh mẽ theo phương thức thí điểm. Từ thập niên 1980, cơ chế khoán ngân sách cho phép địa phương giữ lại phần thu vượt định mức, thúc đẩy cạnh tranh xây dựng hạ tầng và phát triển doanh nghiệp hương trấn. Chính phủ thực hiện cải cách thận trọng từ cấp phát sang cho vay lãi suất, và thiết lập các Đặc khu Kinh tế để thử nghiệm thu hút FDI trước khi nhân rộng. Sự linh hoạt này giúp Trung Quốc tận dụng năng lực địa phương trong khi vẫn giữ vững ổn định vĩ mô (Montinola và cộng sự, 1995; Naughton, 2007).
Dù có sự khác biệt về cấu trúc vốn và sở hữu, mô hình thể chế thúc đẩy tăng trưởng tại 4 quốc gia này cho thấy những nguyên lý chung. Thứ nhất, có một cơ quan đầu mối vĩ mô có thực quyền để bảo đảm sự đồng bộ giữa chính sách tài chính, công nghiệp và KHCN. Thứ hai, nhà nước không bao cấp thụ động, mà áp đặt kỷ luật thị trường nghiêm ngặt dựa trên thước đo hiệu quả xuất khẩu. Thứ ba, chính phủ luôn chuẩn bị trước các nhân tố thể chế và con người để đón đầu sự nâng cấp cơ cấu ngành. Thứ tư, sự chuyển đổi thể chế luôn diễn ra theo lộ trình thích ứng linh hoạt: chấp nhận thử nghiệm ở phạm vi hẹp để đánh giá thực chứng trước khi luật hóa; đồng thời chủ động tái định vị lợi thế cạnh tranh khi các động lực cũ suy giảm.
BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Giai đoạn 2021-2025, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng: Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, tăng trưởng phục hồi mạnh mẽ và đạt kết quả tương đối cao, bình quân 5 năm đạt 6,2%/năm, trong đó năm 2025 đạt 8,02%. GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao (Ban Chấp hành Trung ương, 2026). Giai đoạn 2026-2030, nước ta đặt mục tiêu phấn đấu tăng trưởng 2 con số. Từ những phân tích đối chiếu 4 trường hợp điển hình trên, có thể rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Thứ nhất, tăng trưởng nhanh và kéo dài đòi hỏi một bộ máy hành chính có thực quyền, đủ năng lực điều phối đồng bộ giữa các lĩnh vực chính sách và thường xuyên tiếp nhận phản hồi từ thực tiễn để tự sửa đổi. Thẩm quyền điều hành thực tế của bộ máy này được hình thành từ 3 yếu tố nền tảng cốt lõi: (i) Nhà nước phải có quyền kiểm soát và định hướng trực tiếp việc sử dụng nguồn lực khan hiếm vào các ngành mục tiêu; (ii) đội ngũ công chức phải được tuyển dụng chặt chẽ theo năng lực chuyên môn thực tế; và (iii) bộ máy hoạch định phải duy trì tính nhất quán của các chính sách phát triển dài hạn.
Thứ hai, phát triển song song nhiều kênh huy động nguồn tiết kiệm nội sinh làm bệ đỡ tự chủ tài chính, như ngân hàng, quỹ tiết kiệm bắt buộc, và thị trường chứng khoán. Việc kết hợp các nguồn lực này thành một thể thống nhất giúp quốc gia tự chủ tài chính, giảm thiểu sự phụ thuộc và rủi ro từ các biến động của thị trường tài chính quốc tế.
Thứ ba, phân bổ nguồn lực tập trung có chọn lọc đi kèm kỷ luật kết quả và ràng buộc thời hạn nghiêm ngặt. Tập trung nguồn lực vào các ngành ưu tiên có sức lan tỏa thay vì dàn trải. Sự ưu tiên này phải đi kèm với kỷ luật “kết quả” nghiêm ngặt: doanh nghiệp nhận hỗ trợ phải đạt được mục tiêu năng suất và xuất khẩu cụ thể, nếu không sẽ bị cắt bỏ ưu đãi để tránh tạo ra cơ chế ỷ lại.
Thứ tư, chiến lược phát triển nguồn nhân lực và đào tạo nghề luôn đi trước nhu cầu công nghiệp một bước. Nguồn nhân lực chất lượng cao phải được chuẩn bị chủ động từ trước khi các ngành công nghiệp ưu tiên cần sử dụng đến, và các chính sách lao động phải gắn kết với mục tiêu công nghiệp hóa trong từng giai đoạn. Giáo dục phổ thông và đào tạo nghề không chạy theo nhu cầu ngắn hạn của thị trường mà đi trước một bước để đón đầu...
Thứ năm, hội nhập quốc tế là phương tiện để nâng cao năng lực nội sinh. Quốc gia cần áp dụng các quy định chặt chẽ về nội địa hóa, liên doanh hoặc chuyển giao công nghệ từ đối tác nước ngoài. Mục tiêu hàng đầu là làm chủ được tri thức sản xuất để dịch chuyển lên các vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ sáu, gắn kết trực tiếp thành quả tăng trưởng kinh tế với việc cải thiện mức sống của người dân. Để thu hút sự tham gia chủ động thay vì áp đặt hành chính, các chỉ tiêu tăng trưởng phải đi kèm cam kết rõ ràng về phúc lợi xã hội và nâng cao thu nhập thực tế.
Thứ bảy, chủ động chuẩn bị các động lực năng suất, KHCN mới trước khi những lợi thế dựa trên chi phí thấp cạn kiệt. Một nền kinh tế không thể duy trì đà tăng trưởng cao dựa mãi vào các lợi thế chi phí thấp như lao động giá rẻ, tài nguyên thiên nhiên sẵn có, mà phải chủ động định vị lại lợi thế cạnh tranh quốc gia, chuyển mạnh sang mô hình dựa trên năng suất, công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo.
(*) Bài viết thuộc nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ Ngoại giao: “Tăng trưởng 2 con số: Kinh nghiệm của các nước trên thế giới và hàm ý chính sách cho Việt Nam”.
Tài liệu tham khảo:
1. Amsden, A. H. (1989). Asia’s next giant: South Korea and late industrialization. Oxford University Press.
2. Ban Chấp hành Trung ương (2026). Kết luận số 18-KL/TW ngày 2/4/2026 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”.
3. Barro, R. J., & Lee, J.-W. (2013). A new data set of educational attainment in the world, 1950-2010. Journal of Development Economics, 104, 184-198.
4. Cho, Y. J., & Kim, J.-K. (1995). Credit policies and the industrialization of Korea (World Bank Discussion Paper No. 286). World Bank.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
6. Evans, P. (1995). Embedded autonomy: States and industrial transformation. Princeton University Press.
7. Feenstra, R. C., Inklaar, R., & Timmer, M. P. (2015). The next generation of the Penn World Table. American Economic Review, 105(10), 3150-3182. https://doi.org/10.1257/aer.20130954
8. Huff, W. G. (1995). The developmental state, government, and Singapore’s economic development since 1960. World Development, 23(8), 1421-1438.
9. Johnson, C. (1982). MITI and the Japanese miracle: The growth of industrial policy, 1925-1975. Stanford University Press.
10. Keynes, J. M. (1936). The general theory of employment, interest and money. Macmillan.
11. Kim, L. (1997). Imitation to innovation: The dynamics of Korea’s technological learning. Harvard Business School Press.
12. Kuijs, L., & Wang, T. (2006). China’s pattern of growth: Moving to sustainability and reducing inequality (World Bank Policy Research Working Paper No. 3767). World Bank.
13. Lucas, R. E., Jr. (1988). On the mechanics of economic development. Journal of Monetary Economics, 22(1), 3-42.
14. Montinola, G., Qian, Y., & Weingast, B. R. (1995). Federalism, Chinese style: The political basis for economic success in China. World Politics, 48(1), 50-81.
15. Naughton, B. (2007). The Chinese economy: Transitions and growth. MIT Press.
16. Rhee, Y. W., Ross-Larson, B., & Pursell, G. (1984). Korea’s competitive edge: Managing the entry into world markets. Johns Hopkins University Press.
17. Solow, R. M. (1956). A contribution to the theory of economic growth. The Quarterly Journal of Economics, 70(1), 65-94.
18. Thirlwall, A. P. (1979). The balance of payments constraint as an explanation of international growth rate differences. Banca Nazionale del Lavoro Quarterly Review, 32(128), 45-53.
19. World Bank (2026). World Development Indicators.
20. Young, A. (1992). A tale of two cities: Factor accumulation and technical change in Hong Kong and Singapore. In O. J. Blanchard & S. Fischer (Eds.), NBER Macroeconomics Annual 1992 (Vol. 7, pp. 13-54). MIT Press.
| Ngày nhận bài: 10/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 12/10/2026; Ngày duyệt đăng: 22/10/2026 |
Các tin khác
Tác động của nền tảng công nghệ số và áp lực thể chế đến quyết định mua vật liệu xây dựng xanh của các chủ đầu tư bất động sản tại TP. Hồ Chí Minh
Đào tạo lại và nâng cao năng lực nhằm thúc đẩy dịch chuyển nghề nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Quản lý sản xuất sầu riêng theo hướng bền vững: Nghiên cứu trường hợp tại xã Ea Knuếc, tỉnh Đắk Lắk
Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ tại tỉnh Vĩnh Long
Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao tại một số quốc gia Đông Nam Á
Nâng cao dịch vụ sau bán hàng trong logistics Việt Nam: Tiếp cận từ hiệu quả tài chính và trung thành khách hàng
Tính chân thực của livestreamer và ý định mua lại của khách hàng: Vai trò của niềm tin và chất lượng thông tin sản phẩm
Ảnh hưởng của hành vi mua sắm giải trí qua TikTok Shop đến khả năng quản lý tài chính của sinh viên các trường thuộc Đại học Thái Nguyên
Kinh nghiệm một số nước về phát triển nguồn nhân lực khu vực công và hàm ý cho Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số