Nghiên cứu so sánh chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Trung Quốc, Hàn Quốc và gợi ý cho Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 08:37 | 14/07/2026
Trong cấu trúc kinh tế hiện đại, doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò là động lực cốt lõi thúc đẩy việc làm và tăng trưởng.

ThS. Vũ Thị Vân Ngọc

Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới

TS. Phạm Bích Ngọc

Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích sự dịch chuyển tư duy chính sách công nghiệp từ hỗ trợ tài chính trực tiếp, đơn lẻ sang kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mang tính hệ thống dành cho khối doanh nghiệp nhỏ và vừa. Dựa trên Khung phân tích thể chế động 5 trục tiêu chí được phát triển từ Lý thuyết hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia (NIS), Lý thuyết thất bại hệ thống và năng lực động của nhà nước, nghiên cứu tiến hành đối sánh cấu trúc chính sách tại Hàn Quốc và Trung Quốc thông qua hệ thống dữ liệu thứ cấp từ World Bank, ADB, OECD, UNIDO và báo cáo chiến lược của chính phủ các nước. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, việc chuyển đổi trọng tâm từ công cụ cấp vốn thuần túy sang hàn gắn các đứt gãy hệ thống, dựa trên năng lực động của bộ máy quản trị và sự tương thích đặc thù về văn hóa - thể chế, là chìa khóa nâng cao năng lực chống chịu và khả năng hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất lộ trình dịch chuyển chính sách vĩ mô nhằm tối ưu hóa hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.

Từ khóa: Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa, chính sách công nghiệp, kinh tế học thể chế, Đông Á

Abstract

This study analyzes the transformation of industrial policy from fragmented direct financial support toward the development of a systemic innovation ecosystem for small and medium-sized enterprises. Based on a dynamic institutional analytical framework consisting of five evaluation dimensions developed from the theories of National Innovation Systems (NIS), System Failure, and State Dynamic Capabilities, the study compares the policy structures of South Korea and China using secondary data from the World Bank, ADB, OECD, UNIDO, and strategic policy reports issued by the respective governments. The findings indicate that shifting the policy focus from purely financial support to addressing systemic failures through dynamic governance capabilities and institutional-cultural compatibility is the key to enhancing small and medium-sized enterprise resilience and technology absorption capacity. Based on these findings, the study proposes a macro-level policy roadmap to optimize Viet Nam's innovation ecosystem.

Keywords: Innovation ecosystem, small and medium-sized enterprises, industrial policy, institutional economics, East Asia

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong cấu trúc kinh tế hiện đại, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đóng vai trò là động lực cốt lõi thúc đẩy việc làm và tăng trưởng. Tuy nhiên, bước vào kỷ nguyên số, vị thế của khối doanh nghiệp này đối mặt với những thách thức nghiêm trọng do năng lực công nghệ còn hạn chế. Khác với các tập đoàn lớn, các doanh nghiệp quy mô nhỏ liên tục phải đối mặt với rào cản từ tình trạng thất bại thị trường, bao gồm: sự bất đối xứng thông tin trên thị trường vốn, rủi ro cao trong hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), cùng sự thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực kỹ thuật cao.

Nhằm can thiệp và hỗ trợ khối doanh nghiệp này, các chính sách công truyền thống thường tập trung vào nhóm công cụ tài chính trực tiếp, như: cấp bù lãi suất, trợ cấp vốn mặt hoặc ưu đãi thuế. Tuy nhiên hiện nay, lý thuyết hoạch định chính sách công nghiệp hiện đại đang chứng kiến một sự dịch chuyển mang tính bước ngoặt: chuyển từ cơ chế “hỗ trợ tài chính đơn lẻ” sang “kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo”. Trong đó, nhà nước đóng vai trò là kiến trúc sư trưởng, kết nối các đứt gãy trong hệ thống giữa doanh nghiệp - viện nghiên cứu/đại học - thị trường vốn.

Nghiên cứu này tập trung phân tích, đối sánh cấu trúc chính sách của 3 nền kinh tế Đông Á có những bước tiến thần tốc về công nghệ là Hàn Quốc và Trung Quốc nhằm làm rõ các cấu trúc thể chế đặc trưng quyết định sự thành công thực tế, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm sâu sắc cho quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế số tại Việt Nam.

KHUNG LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH

Lý thuyết hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia - NIS (Freeman, 1987) khẳng định, đổi mới công nghệ không đi theo đường thẳng, mà là kết quả của dòng chảy tri thức và tương tác mạng lưới giữa doanh nghiệp - viện trường - nhà nước. Khối DNNVV với nguồn lực hạn chế, bắt buộc phải tích hợp sâu vào mạng lưới này để nâng cao năng lực công nghệ.

Lý thuyết thất bại hệ thống (Systemic Failure Theory) (Weber và Rohracher, 2012) chỉ ra rằng, DNNVV chậm đổi mới không chỉ vì thiếu vốn (thất bại thị trường), mà vì NIS đang gặp các điểm đứt gãy: Viện trường xa rời thực tế, thiếu hạ tầng thử nghiệm dùng chung, hoặc quy chế pháp lý xơ cứng. Trọng tâm của chính sách vì thế phải dịch chuyển từ “bơm tiền tài trợ” sang “hàn gắn đứt gãy”.

Lý thuyết năng lực động của nhà nước (State Dynamic Capabilities) (Kattel và Mazzucato, 2018) cho rằng, để sửa chữa thành công các thất bại hệ thống, bộ máy chính phủ phải sở hữu năng lực nhận diện công nghệ, linh hoạt điều chỉnh quy chế và dám chấp nhận rủi ro, nhằm vượt qua tư duy quản lý hành chính tĩnh, xơ cứng.

Từ sự gắn kết của 3 nền tảng lý thuyết trên, nghiên cứu thiết lập một Khung phân tích gồm 5 trục tiêu chí cốt lõi, chia làm 2 nhóm chính sách tương tác biện chứng để giải mã và đối sánh các mô hình quốc gia:

Nhóm 1: Thiết kế chính sách (Kiến trúc thượng tầng)

Trục 1: Cường độ ngân sách và Tính chất công cụ tài chính: đo lường mức độ cam kết nguồn lực của quốc gia và bản chất của dòng vốn công. Nghiên cứu phân tích xem nhà nước đang dùng công cụ can thiệp trực tiếp (trợ cấp tiền mặt, ưu đãi thuế) hay công cụ gián tiếp thông minh (bảo lãnh tín dụng dựa trên xếp hạng công nghệ, đồng đầu tư mạo hiểm) để kích hoạt năng lực đổi mới của doanh nghiệp nhỏ.

Trục 2: Định hướng công nghệ mục tiêu và Cấu trúc dòng chảy tri thức: khảo sát xem chính sách mang tính dàn trải an sinh hay tập trung vào các ngành công nghiệp mũi nhọn. Đồng thời, trục này làm rõ hình thái của dòng chảy tri thức: Vận hành theo chiều dọc (lan tỏa từ tập đoàn lớn xuống doanh nghiệp vệ tinh nhỏ), chiều ngang (chuyển giao từ viện nghiên cứu dùng chung sang cụm ngành) hay mạng lưới tập trung (bố trí theo mệnh lệnh chiến lược của nhà nước).

Nhóm II: Vận hành thể chế (Hạ tầng thực thi)

Trục 3: Cơ chế can thiệp sửa chữa đứt gãy hệ thống: trục này trực tiếp kiểm định năng lực thực thi của chính sách trên thực tế. Nhà nước can thiệp bằng cách nào để xóa bỏ sự chia cắt giữa viện trường và doanh nghiệp? Cách thức xây dựng các không gian trung gian (như các trung tâm đổi mới sáng tạo, khu khoa học) để kết nối cung - cầu công nghệ cho khối doanh nghiệp nhỏ được vận hành ra sao?

Trục 4: Năng lực động và Mức độ linh hoạt của bộ máy quản lý công: đánh giá mức độ phân mảnh hoặc tập trung của cơ quan điều phối chính sách công nghệ. Tiêu chí này làm rõ việc bộ máy quản trị có dám chấp nhận rủi ro, áp dụng các cơ chế thử nghiệm pháp lý thoáng đạt, và gỡ bỏ tư duy kiểm toán hành chính để bảo vệ các dự án công nghệ có tỷ lệ thất bại cao hay không.

Trục 5: Tính phù hợp và Năng lực chống chịu của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV Fit): Đây là màng lọc cuối cùng đo lường hiệu quả thực tế của chính sách. Một chính sách tối ưu phải có độ ăn khớp với năng lực hấp thụ nội tại, quy mô vốn và đặc thù văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ bản địa, từ đó giúp họ tự chủ và nâng cao năng lực chống chịu trước các cú sốc chuỗi cung ứng, thay vì biến họ thành những “doanh nghiệp zombie” sống bám vào nguồn bao cấp của Nhà nước.

Hình: Khung phân tích chính sách hỗ trợ công nghệ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Nghiên cứu so sánh chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Trung Quốc, Hàn Quốc và gợi ý cho Việt Nam

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp

NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP QUỐC GIA

Hàn Quốc: Mô hình “Liên kết K-Tech” và Phá vỡ thế độc tôn của Chaebol

Hàn Quốc là quốc gia có cấu trúc kinh tế bị chi phối mạnh mẽ bởi các tập đoàn gia đình quy mô khổng lồ (Chaebol). Báo cáo đổi mới sáng tạo của OECD (2021) chỉ ra rằng, mô hình dựa hoàn toàn vào Chaebol đã chạm trần năng suất, đẩy khu vực DNNVV vào thế yếu về công nghệ. Để khắc phục, Chính phủ Hàn Quốc đã thực thi chiến lược tái cấu trúc hệ sinh thái thông qua việc vận hành Quỹ Bảo lãnh Tín dụng Công nghệ (KIBO) và mạng lưới 17 Trung tâm Đổi mới Kinh tế Sáng tạo (CCEI).

Trục 1: Nhóm công cụ và Cường độ ngân sách: Hàn Quốc duy trì cường độ tài trợ tài chính cực kỳ cao. Theo báo cáo của ADB (2023), chi R&D/GDP của nước này đạt ~4,8% (top đầu thế giới). Nhóm công cụ cốt lõi là bảo lãnh tín dụng gián tiếp kỹ thuật thông qua KIBO (chiếm hơn 35% lượng vốn tiếp cận của DNNVV công nghệ giai đoạn đầu) để thay thế cho cơ chế cấp phát tiền mặt truyền thống.

Trục 2: Định hướng công nghệ mục tiêu và Dòng chảy tri thức: Tính định hướng ở mức trung bình - cao, tập trung vào thế hệ startups công nghệ số mới. Sơ đồ dòng chảy tri thức vận hành theo chiều dọc: Tri thức, kỹ thuật và tiêu chuẩn chất lượng được dẫn dắt, chuyển giao từ các Chaebol thượng nguồn lan tỏa xuống các DNNVV hạ nguồn.

Trục 3: Cơ chế sửa chữa đứt gãy hệ thống: Sửa chữa đứt gãy liên kết mạng lưới giữa các cực kinh tế (tập đoàn lớn và doanh nghiệp nhỏ). Thông qua mô hình CCEI, nhà nước tạo ra một không gian cộng sinh bắt buộc, hàn gắn sự chia cắt lịch sử giữa năng lực nghiên cứu của tập đoàn vĩ mô và sự linh hoạt của khối startups.

Trục 4: Năng lực động và Mức độ linh hoạt của bộ máy quản lý: Rất cao. Năm 2017, Chính phủ Hàn Quốc nâng cấp toàn diện cơ quan quản lý thành Bộ Chuyển đổi số và DNNVV (MSS). Việc tập trung hóa quyền lực này giúp xóa bỏ tình trạng chồng chéo quy chế giữa Bộ Khoa học và Bộ Công thương, tạo ra năng lực phản ứng ban hành quy định siêu tốc để gỡ khó cho doanh nghiệp nhỏ đối mặt với các công nghệ mới (AI, Blockchain).

Trục 5: Tính phù hợp và Khả năng chống chịu của doanh nghiệp nhỏ (DNNVV Fit): Mô hình này có độ tương thích cao với các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo nhờ cơ chế định giá tài sản vô hình (bằng sáng chế) tại KIBO để vay vốn. Sự bảo trợ kỹ thuật và hợp đồng bao tiêu đầu ra từ các Chaebol giúp DNNVV nâng cao năng lực chống chịu rủi ro thị trường. Tuy nhiên, mặt trái là nó dễ tạo ra tâm lý ỷ lại, hình thành các “doanh nghiệp zombie” sống bằng dòng vốn bảo lãnh gia hạn liên tục của nhà nước.

Trung Quốc: Chiến lược “Chuyên tinh đặc tân” và “Nhà nước dẫn dắt mạng lưới”

Theo báo cáo của UNIDO (2023), Trung Quốc đã thực hiện bước chuyển dịch căn bản: Chuyển từ hỗ trợ an sinh xã hội diện rộng sang chính sách chọn lọc mục tiêu chiến lược “Chuyên tinh đặc tân” (các doanh nghiệp “Tiểu khổng lồ” - LittleGiants) nhằm bảo vệ chuỗi cung ứng nội địa trước các cú sốc địa chính trị toàn cầu.

Trục 1: Nhóm công cụ và Cường độ ngân sách: Mức độ hỗ trợ cực kỳ cao và tập trung mục tiêu tuyệt đối. Theo Bộ Công nghiệp và Công nghệ Thông tin Trung Quốc (MIIT), mỗi doanh nghiệp “Tiểu khổng lồ” được cấp thẳng từ 1-3 triệu Nhân dân tệ tiền mặt, đi kèm dòng vốn tín dụng xanh mở rộng và bệ phóng gọi vốn đại chúng từ Sàn giao dịch chứng khoán Bắc Kinh (BSE) được thành lập riêng năm 2021.

Trục 2: Định hướng công nghệ mục tiêu và Dòng chảy tri thức: Tính định hướng mang tính áp đặt chiến lược. Nhà nước xác định rõ các mắt xích đứt gãy trong chuỗi giá trị (chip cảm biến, vật liệu mới, phần mềm công nghiệp) để định hướng công nghệ. Dòng chảy tri thức vận hành theo cơ chế mạng lưới tập trung: Tri thức từ các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia đổ thẳng vào các DNNVV mục tiêu, kết hợp buộc các tập đoàn quốc doanh lớn phải tích hợp các DNNVV này vào chuỗi sản xuất.

Trục 3: Cơ chế sửa chữa đứt gãy hệ thống: Sửa chữa đứt gãy thể chế cứng và đứt gãy thị trường thượng nguồn - hạ nguồn. Nhà nước can thiệp thô bạo bằng mệnh lệnh hành chính để kết nối các mắt xích kỹ thuật bị thiếu hụt do lệnh trừng phạt nước ngoài, hàn gắn đứt gãy giữa khâu nghiên cứu lý thuyết số và khâu sản xuất linh kiện phụ trợ thực tế.

Trục 4: Năng lực động và Mức độ linh hoạt của bộ máy quản lý: Năng lực động thể hiện ở sức mạnh tập trung nguồn lực thần tốc (Mô hình Huy động tổng lực). Bộ máy quản trị của MIIT và chính quyền địa phương có khả năng dịch chuyển toàn bộ dòng vốn vĩ mô và hạ tầng đất đai để nuôi dưỡng các “Tiểu khổng lồ” ngay lập tức khi có sắc lệnh từ Trung ương, vượt qua mọi rào cản trì trệ hành chính thông thường.

Trục 5: Tính phù hợp và Khả năng chống chịu của doanh nghiệp nhỏ (DNNVV Fit): Mô hình này tạo ra năng lực bứt phá và khả năng chống chịu cực đoan cho top 1% các doanh nghiệp nhỏ có kỹ thuật cao nhờ cơ chế “Cưỡng bức chuỗi cung ứng nội địa” (Nhà nước dùng quyền lực buộc các tập đoàn lớn phải mua hàng của các Tiểu khổng lồ nội địa, tạo ra thị trường bảo hộ độc quyền nhóm). Tuy nhiên, độ tương thích với đại đa số 99% DNNVV truyền thống còn lại là rất thấp, do họ hoàn toàn bị gạt ra ngoài rìa hệ sinh thái cao cấp này.

So sánh thể chế giữa 3 nền kinh tế Đông Á được thể hiện trong ma trận tại Bảng.

Bảng: Ma trận

5 trục tiêu chí phân tích

Mô hình Hàn Quốc

Mô hình Trung Quốc

Trục 1: Công cụ và Ngân sách

Cực kỳ cao: Bảo lãnh tín dụng dựa trên định giá bằng sáng chế vô hình thông qua quỹ KIBO.

Cực kỳ cao và Chọn lọc: Trợ cấp tiền mặt lớn kết hợp vốn tín dụng xanh và bệ phóng sàn chứng khoán BSE.

Trục 2: Định hướng và Dòng chảy tri thức

Dòng chảy dọc: Tri thức, tiêu chuẩn kỹ thuật lan tỏa theo chiều dọc từ Chaebol xuống doanh nghiệp nhỏ.

Mạng lưới tập trung: Tri thức đổ từ phòng lab quốc gia vào các mắt xích đứt gãy của chuỗi cung ứng.

Trục 3: Cơ chế sửa đứt gãy hệ thống

Hàn gắn đứt gãy liên kết mạng lưới giữa cực tập đoàn lớn (Chaebol) và cực doanh nghiệp nhỏ.

Sửa chữa đứt gãy thể chế cứng và sự chia cắt giữa thượng nguồn kỹ thuật số - hạ nguồn sản xuất phụ trợ.

Trục 4: Năng lực động của nhà nước

Tập trung quyền lực ban hành quy định về một đầu mối (Bộ MSS), phản ứng chính sách nhanh, xóa chồng chéo.

Mô hình huy động tổng lực, chuyển dịch dòng vốn và quy hoạch đất đai thần tốc bằng mệnh lệnh hành chính.

Trục 5: DNNVV Fit và Năng lực chống chịu

Tốt cho Startups công nghệ, giải bài toán tài sản thế chấp nhưng dễ sinh “doanh nghiệp zombie”.

Tạo bứt phá thần tốc và thị trường độc quyền bảo hộ cho top 1% DNNVV kỹ thuật cao; bỏ quên DNNVV truyền thống.

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp

Từ ma trận đối sánh cấu trúc thể chế động theo hệ 5 trục tiêu chí, nghiên cứu rút ra 3 quy luật cốt lõi cấu thành tính hiệu quả của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo:

Một là, sự dịch chuyển từ tư duy cấp vốn công sang cơ chế chia sẻ rủi ro công nghệ: Kết quả đối sánh tại Trục 1 và Trục 3 chỉ ra rằng, các nền kinh tế thành công tại Đông Á không áp dụng cơ chế can thiệp công theo lối hành chính “xin - cho” đơn thuần. Thay vào đó, nhà nước đóng vai trò là chủ thể điều phối và gánh vác rủi ro hệ thống cùng doanh nghiệp nhỏ. Sự bứt phá của Hàn Quốc dựa trên việc hóa giải điểm nghẽn về tài sản thế chấp thông qua cơ chế bảo lãnh tín dụng dựa trên xếp hạng năng lực công nghệ của Quỹ KIBO.

Hai là, tính tương thích giữa cấu trúc dòng chảy tri thức và đặc thù thể chế bản địa: Phân tích tương quan giữa Trục 2 và Trục 5 làm rõ một quy luật vĩ mô: Hiệu suất của dòng chảy tri thức phụ thuộc vào độ ăn khớp với cấu trúc mạng lưới doanh nghiệp nội địa. Mô hình dòng chảy dọc của Hàn Quốc đạt hiệu quả cao khi đặt trong cấu trúc kinh tế phân tầng, nơi các doanh nghiệp nhỏ vận hành như các vệ tinh phụ thuộc vào các tập đoàn lớn. Trong khi đó, chiến lược mạng lưới tập trung của Trung Quốc chấp nhận đánh đổi tính bao trùm để dồn lực tạo sức bật định hướng cho nhóm doanh nghiệp nhỏ kỹ thuật cao mũi nhọn.

Ba là, năng lực động của nhà nước là điều kiện tiên quyết để vận hành hệ sinh thái: Phát hiện mang tính bước ngoặt từ Trục 4 chứng minh sự thành bại của chính sách phụ thuộc vào năng lực thích ứng và độ linh hoạt lập quy của bộ máy hành chính công. Việc hợp nhất quyền lực quản lý về một đầu mối duy nhất là Bộ Chuyển đổi số và DNNVV tại Hàn Quốc hướng tới mục tiêu xóa bỏ tình trạng trì trệ thể chế. Năng lực động này cho phép nhà nước phản ứng kịp thời trước tốc độ thay đổi của các làn sóng công nghệ, đồng thời giải phóng bộ máy điều phối chính sách khỏi tư duy quản lý hành chính xơ cứng.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Kết luận

Hành trình dịch chuyển từ hỗ trợ tài chính trực tiếp sang kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đòi hỏi một tư duy quản trị kinh tế vĩ mô hoàn toàn mới. Thông qua Khung phân tích 5 trục tiêu chí, nghiên cứu chỉ ra rằng, sự thành công của các nước Đông Á không nằm ở việc phân phối tiền bạc, mà nằm ở năng lực động của bộ máy chính phủ trong việc thiết kế các công cụ thông minh để sửa chữa các đứt gãy hệ thống. Đối với Việt Nam, việc chuyển đổi mô hình bệ phóng công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ dựa trên việc định giá tài sản vô hình, tối ưu hóa hạ tầng tri thức dùng chung và cưỡng bức liên kết khối FDI sẽ là chìa khóa cốt lõi để nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ quốc gia, đưa nền kinh tế thoát khỏi bẫy gia công và thăng tiến mạnh mẽ trên bản đồ kinh tế số toàn cầu.

Hàm ý chính sách

Trên cơ sở nghiên cứu trường hợp điển hình tại 3 quốc gia Đông Á, nghiên cứu đề xuất lộ trình cải cách hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cho Việt Nam:

Cải cách Trục 1 và Trục 4: Chuyển đổi công cụ tài trợ công và Linh hoạt hóa bộ máy quản lý: Từ mô hình KIBO (Hàn Quốc), Việt Nam cần khẩn trương luật hóa Khung định giá tài sản trí tuệ. Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia (NATIF) cần chuyển đổi công năng sang nhóm công cụ Bảo lãnh tín dụng dựa trên xếp hạng công nghệ hoặc Đồng đầu tư cùng các quỹ mạo hiểm tư nhân. Để nâng cao năng lực động (Trục 4), cần trao quyền tự chủ và áp dụng cơ chế Sandbox pháp lý cho các cơ quan điều phối, cho phép họ chấp nhận tỷ lệ rủi ro thất bại nhất định trong đầu tư công nghệ mà không bị xử lý hành chính tĩnh.

Cải cách Trục 2 và Trục 3: Biến các Viện nghiên cứu công lập thành “Hạ tầng R&D dùng chung”: Hiện nay hệ thống viện trường Việt Nam đang bị đứt gãy tương tác nghiêm trọng với khối DNNVV (R&D cất ngăn kéo), khiến doanh nghiệp nhỏ rơi vào tình trạng đói công nghệ do không có phòng thí nghiệm riêng. Bộ Khoa học và Công nghệ cần tái định vị vai trò của các viện nghiên cứu công lập. Cần chuyển đổi cơ chế giao ngân sách: Ngân sách công cấp cho các viện phải tỷ lệ thuận với số lượng hợp đồng chuyển giao công nghệ thành công cho DNNVV. Các viện có nhiệm vụ làm R&D các công nghệ nền tảng (nông nghiệp số, logistics, cơ khí phụ trợ), sau đó chuyển giao dạng cấp quyền sử dụng với chi phí thấp cho các DNNVV tại các khu công nghiệp, biến viện công thành một “Phòng R&D dùng chung” nhằm giảm chi phí biên công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ.

Cải cách Trục 5: Tạo thị trường nhân tạo và Cưỡng bức liên kết chuỗi giá trị FDI: Điểm yếu lớn nhất của DNNVV Việt Nam là năng lực chống chịu kém và đứng ngoài rìa dòng thác công nghệ của khối FDI (Kinh tế nhị nguyên). Vận dụng linh hoạt kinh nghiệm của Trung Quốc và Hàn Quốc, Việt Nam cần dùng công cụ “Cưỡng bức hành lang chuỗi cung ứng”. Trong luật thu hút FDI thế hệ mới, cần đưa vào các điều khoản ràng buộc hiệu ứng lan tỏa. Khung ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cho các tập đoàn FDI (như Samsung, Foxconn, Intel) phải được thiết kế lũy tiến, tỷ lệ thuận với tỷ lệ nội địa hóa và số lượng các dự án bảo trợ kỹ thuật, đào tạo và bao tiêu sản phẩm cho các DNNVV nội địa. Nhà nước cần dùng quyền lực để tạo ra thị trường nhân tạo, kéo khối doanh nghiệp nhỏ vào chuỗi sinh tồn của các tập đoàn vĩ mô.

(*) Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài: Hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân nhỏ đổi mới công nghệ sản xuất - Từ nghiên cứu thực tiễn trên thế giới đến áp dụng vào Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, mã số NCUD.09-2025.09 do Quỹ Nafosted tài trợ theo Hợp đồng số: 03/2025/HĐ-NCUD/502

Tài liệu tham khảo:

1. Asian Development Bank (ADB). (2023). Asia Small and Medium Enterprise Monitor 2023: High-Tech SME and Innovation Systems in East Asia. Manila: ADB.

2. Freeman, C. (1987). Technology policy and economic performance: Lessons from Japan. Pinter Publishers.

3. Kattel, R., & Mazzucato, M. (2018). Mission-oriented innovation policy and dynamic capabilities in the public sector. Industrial and Corporate Change, 27(5), 787-801.

4. Ministry of Industry and Information Technology of China - MIIT (2025). Strategic White Paper on “Little Giant” Enterprises and Industrial Chain Resilience. Beijing: MIIT.

5. Ministry of Startups and SME of Korea - MSS (2024). Annual Report on K-Innovation Ecosystem and CCEI Performance. Sejong: MSS.

6. OECD (2021). OECD SME and Entrepreneurship Outlook 2021: Digital Transformation and National Dynamic Capabilities. Paris: OECD Publishing.

7. United Nations Industrial Development Organization - UNIDO (2023). Industrial Development Report 2023: Turning Digital Technologies into Inclusion and Autonomy. Vienna: UNIDO.

8. Weber, K. M., & Rohracher, H. (2012). Legitimizing research, technology and innovation policies for transformative change: Combining insights from innovation systems and multi-level perspective in a comprehensive “failures” framework. Research Policy, 41(6), 1037-1047.

9. World Bank (2022). Innovation, Productivity, and Growth in East Asia's Decentralized Economies. Washington, DC: World Bank.

Ngày nhận bài: 15/5/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 29/5/2026; Ngày duyệt đăng: 6/7/2026

Các tin khác

Đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên tại doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

Đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên tại doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

Nghiên cứu xây dựng mô hình phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Việc phát triển mô hình không chỉ góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về sự hài lòng công việc mà còn cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà quản trị trong việc hoạch định chính sách, cải thiện môi trường làm việc... từ đó tăng cường hiệu quả hoạt động và hỗ trợ sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh ngày càng gay gắt, đổi mới sáng tạo trở thành một trong những động lực quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện hiệu quả hoạt động và phát triển bền vững. Đổi mới sáng tạo không chỉ giới hạn ở việc tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ mới mà còn bao gồm đổi mới quy trình, đổi mới quản trị, đổi mới mô hình kinh doanh và ứng dụng công nghệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch trong đó cộng đồng địa phương giữ vai trò trung tâm trong quá trình tổ chức, quản lý, khai thác và hưởng lợi từ hoạt động du lịch. Theo Ban Thư ký ASEAN (2016), du lịch cộng đồng là hoạt động du lịch do cộng đồng sở hữu, vận hành và được quản lý hoặc điều phối ở cấp cộng đồng, qua đó góp phần nâng cao phúc lợi cộng đồng, hỗ trợ sinh kế bền vững, bảo vệ các truyền thống văn hóa - xã hội cũng như tài nguyên thiên nhiên và văn hóa địa phương.
Đa dạng hóa thị trường và đối tác kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn

Đa dạng hóa thị trường và đối tác kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, đa dạng hóa thị trường và đối tác kinh tế đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng đối với nhiều quốc gia đang phát triển, đặc biệt là những nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam
Cá nhân hoá hành trình khách hàng dựa trên AI tác động đến lòng trung thành thương hiệu - Vai trò trung gian của niềm tin thương hiệu

Cá nhân hoá hành trình khách hàng dựa trên AI tác động đến lòng trung thành thương hiệu - Vai trò trung gian của niềm tin thương hiệu

Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI) đang định hình lại cách doanh nghiệp cá nhân hóa hành trình khách hàng, từ đề xuất sản phẩm đến giao tiếp và trải nghiệm mua sắm đa kênh
Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng áp dụng kế toán tinh gọn tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng áp dụng kế toán tinh gọn tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh áp lực cạnh tranh gay gắt từ quá trình hội nhập, các doanh nghiệp sản xuất hiện nay đang ưu tiên áp dụng mô hình sản xuất tinh gọn nhằm tối ưu hóa quy trình vận hành và triệt tiêu các lãng phí phát sinh (Womack & Jones, 1996). Để phát huy hiệu quả toàn diện của mô hình này, hệ thống kế toán truyền thống cần thực hiện bước chuyển đổi sang kế toán tinh gọn.
Giải pháp nâng cao sự hài lòng của cư dân về dịch vụ quản lý vận hành tại các chung cư trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Giải pháp nâng cao sự hài lòng của cư dân về dịch vụ quản lý vận hành tại các chung cư trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Dịch vụ quản lý vận hành chung cư bao gồm nhiều hoạt động như quản lý tiện ích, bảo trì - sửa chữa, vệ sinh, an ninh và tổ chức các tiện ích phục vụ đời sống cư dân. Các yếu tố này có ảnh hưởng trực tiếp đến trải nghiệm sinh sống và mức độ hài lòng của cư dân.
Chuyển đổi số trong kế toán và những tác động đến chất lượng thông tin kế toán tại doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chuyển đổi số trong kế toán và những tác động đến chất lượng thông tin kế toán tại doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chuyển đổi số đang làm thay đổi đáng kể công tác kế toán tại doanh nghiệp, từ ghi nhận, xử lý, lưu trữ đến cung cấp thông tin. Việc ứng dụng phần mềm kế toán, hóa đơn điện tử, chữ ký số, khai báo thuế điện tử và dữ liệu số giúp doanh nghiệp giảm thao tác thủ công, hạn chế sai sót và cung cấp báo cáo kịp thời hơn. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, chuyển đổi số kế toán có ý nghĩa quan trọng nhưng cũng đặt ra thách thức do hạn chế về tài chính, nhân sự, hạ tầng công nghệ và khả năng kiểm soát dữ liệu.
Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết ở Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết ở Việt Nam

Chuyển đổi số giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả vận hành, mở rộng khách hàng và cải thiện khả năng xử lý dữ liệu. Tuy nhiên, hoạt động số hóa cũng đặt ra yêu cầu mới đối với quản trị rủi ro thanh khoản. Trong bối cảnh giao dịch ngân hàng diễn ra nhanh hơn trên nền tảng số, ngân hàng cần quản lý tốt dòng tiền, tiền gửi và khả năng đáp ứng nghĩa vụ thanh toán
Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Hệ thống ngân hàn thương mại (NHTM) đóng vai trò then chốt trong ổn định tài chính. Giai đoạn 2019-2025, ngành ngân hàng Việt Nam chịu biến động mạnh về thanh khoản do COVID-19, lạm phát và lãi suất toàn cầu, trong khi tín dụng tăng bình quân 13-15%/năm (World Bank, 2025) tạo áp lực quản lý thanh khoản