Phát huy vai trò của thể chế trong thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam: Tiếp cận từ kinh tế học thể chế
ThS. Vũ Thị Quý
Khoa Kinh tế, xã hội và môi trường, Học viện Chính trị khu vực II
ThS. Nguyễn Thị Dung
Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng
Tóm tắt:
Thể chế là một trong những yếu tố quyết định tới tăng trưởng và phát triển dài hạn của một quốc gia. Trong bối cảnh Việt Nam đang quyết tâm theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn từ nay đến năm 2030 và 2045, những điểm nghẽn về thể chế cần được quyết liệt tháo gỡ, biến thể chế trở thành “đột phá của đột phá”. Bài viết nghiên cứu những điểm nghẽn thể chế ở Việt Nam dưới góc nhìn của lý thuyết kinh tế học thể chế, từ đó, chỉ ra những định hướng đột phá về thể chế cũng như một số giải pháp nhằm phát huy vai trò đột phá của thể chế trong thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế nước ta.
Từ khóa: Kinh tế học thể chế, tăng trưởng, điểm nghẽn thể chế, đột phá
Summary
Institutions are among the key determinants of a country’s long-term economic growth and development. In the context of Viet Nam’s strong commitment to achieving high economic growth targets from now to 2030 and toward 2045, existing institutional bottlenecks need to be decisively addressed, thereby transforming institutions into a “breakthrough of breakthroughs.” The study examines institutional bottlenecks in Viet Nam from the perspective of institutional economics. Based on this analysis, it identifies key directions for institutional breakthroughs and proposes several solutions to enhance the role of institutions as a driving force for the country’s economic growth and development.
Keywords: Institutional economics, economic growth, institutional bottlenecks, institutional breakthrough.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh thế giới trải qua nhiều biến động khó lường, Việt Nam đứng trước những thời cơ và thách thức mang tính thời đại, Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định, thể chế hiện là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, nhưng cũng sẽ trở thành đột phá mở đường cho pha bứt tốc bằng nhân lực và pha cất cánh bằng hạ tầng trên lộ trình hướng tới mục tiêu chiến lược năm 2030 và 2045 (Bùi Hoài Sơn, 2026). Vì vậy, việc khảo cứu các lý thuyết về kinh tế học thể chế để cung cấp một góc nhìn khoa học trong việc nhận diện những rào cản và những động lực phát triển cho Việt Nam hướng tới những mục tiêu, khát vọng cho “kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc đóng vai trò quan trọng.
KHÁI LƯỢC VỀ KINH TẾ HỌC THỂ CHẾ
Thể chế được hiểu là những ràng buộc do con người đặt ra nhằm định hình các tương tác chính trị - kinh tế - xã hội, bao gồm các quy tắc chính thức như hiến pháp, luật pháp và các ràng buộc phi chính thức như chuẩn mực xã hội, tập quán xã hội, giá trị đạo đức, truyền thống của cộng đồng… (Douglass C. North, 1991).
Kinh thế học thể chế xem xét vai trò trung tâm của thể chế, bao gồm các luật lệ, quy tắc, chuẩn mực, tập quán, cơ chế thực thi… trong việc định hình hành vi kinh tế, từ đó tác động đến hiệu quả thị trường, tổ chức doanh nghiệp, tăng trưởng dài hạn và con đường phát triển dài hạn hướng tới thịnh vượng của một quốc gia.
Hiện có 2 trường phái kinh tế học thể chế chính: kinh tế học thể chế “cũ” coi kinh tế là một cấu phần của quá trình phát triển văn hoá – xã hội, phê phán các quan điểm coi nền kinh tế như một hệ độc lập, tách khỏi xã hội với các tác giả đại diện như Thorstein Veblen, Wesley Mitchell, John R. Commons…; kinh tế học thể chế “mới” đưa yếu tố thể chế vào xem xét ở góc độ kinh tế học thông qua chi phí giao dịch, quyền sở hữu, hợp đồng, thiết chế chính trị - pháp lý… với các tác giả nổi bật như Ronald Coase (giải Nobel kinh tế năm 1991), Douglass North (giải Nobel kinh tế năm 1993), Oliver E. Williamson (giải Nobel kinh tế năm 2009), Avner Greif, Claude Menard, Amartya Sen, Daron Acemoglu, Simon Johnson và James Robinson (giải Nobel kinh tế năm 2024)...
Trong Kinh tế học thể chế mới, có 2 nhánh quan điểm nổi bật: nhánh “Northean” quan tâm nhiều đến các yếu tố thể chế vĩ mô như khung pháp lý nền tảng, nhà nước, môi trường chính trị… và nhánh “Williamsonian” tập trung vào các thể chế vi mô, cơ chế quản trị ở cấp độ doanh nghiệp như chi phí giao dịch, hợp đồng, cơ chế tương tác thị trường – doanh nghiệp…
NHẬN DIỆN MỘT SỐ ĐIỂM NGHẼN CỦA THỂ CHẾ TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM DƯỚI GÓC NHÌN CỦA KINH TẾ HỌC THỂ CHẾ
Khi thể chế không phù hợp, “luật chơi” ràng buộc các tương tác kinh tế - chính trị - xã hội trở nên lỗi thời, chồng chéo, không còn tương thích với lực lượng sản xuất mới, những hệ thống mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn… thì chúng trở thành rào cản lớn, gây lãng phí nguồn lực và triệt tiêu động lực phát triển. Đối với nền kinh tế Việt Nam, Tổng Bí thư Tô Lâm từng nhấn mạnh rằng, trong 3 điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thể chế, cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực thì thể chế chính là điểm nghẽn lớn nhất hay “điểm nghẽn của điểm nghẽn” (Quyên, T. và cộng sự, 2025). Cụ thể một số điểm nghẽn của thể chế trong nền kinh tế Việt Nam dưới góc nhìn của kinh tế học thể chế như sau:
Chi phí giao dịch
Theo Ronald Coase, trong nền kinh tế, các giao dịch diễn ra kèm theo chi phí giao dịch, bao gồm chi phí tìm kiếm thông tin, chi phí thương lượng hợp đồng, chi phí thực thi các quy định pháp luật… Ở Việt Nam, ước tính mỗi năm người dân và doanh nghiệp phải chịu mức chi phí thủ tục hành chính lên tới 120.000 tỷ đồng (Quỳnh An, 2025). Thực tế cho thấy vẫn còn tồn tại một khoảng cách lớn giữa quy định và thực thi. Nhiều luật vừa được ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi do không phù hợp với thực tiễn, gây ra xáo trộn cho môi trường kinh doanh. Ví dụ, Luật Đất đai năm 2024 được kỳ vọng rất lớn trong việc khơi thông dòng chảy nguồn lực đất đai, đóng góp vào phát triển, nhưng vấn đề cốt lõi là định giá đất vẫn còn gây lúng túng cho nhiều địa phương, dẫn đến thị trường bất động sản bị trì trệ (Trần Văn Duy, 2024).
Tư duy "không quản được thì cấm" vẫn tồn tại dai dẳng, hạn chế sự phát triển của các mô hình kinh doanh mới. Ví dụ trong lĩnh vực tiền ảo và tài sản số, do khó kiểm soát dòng tiền và rủi ro rửa tiền nên hiện nay vẫn chưa có khung pháp lý chính thức cho lĩnh vực này. Các hoạt động liên quan đến tài sản số, tiền ảo nằm trong “vùng xám” hoặc bị cấm giao dịch chính thức, gây thất thoát tài nguyên quốc gia.
Quyền tài sản và phân bổ nguồn lực
Lý thuyết của Douglass North cho rằng, nếu quyền tài sản không được xác định rõ ràng thì người dân và doanh nghiệp sẽ không có động lực đầu tư dài hạn. Khi các quyền sử dụng, chuyển nhượng và hưởng lợi ích từ tài sản bị hạn chế bởi sự rườm rà của thủ thục hoặc sự thiếu nhất quán của quy định, giá trị của loại tài sản đó trong nền kinh tế sẽ bị sụt giảm.
Trong thực tiễn nền kinh tế Việt Nam, các quy định về bồi thường, giải phóng mặt bằng và giá đất đai trong thời gian vừa qua đã tạo ra những “nút thắt”, làm chậm tiến độ các dự án hạ tầng trọng điểm. Sự thiếu đồng bộ giữa Luật Đất đai, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản đã từng tạo ra những "vùng xám" pháp lý, khiến hàng loạt dự án bị đình trệ, gây lãng phí nguồn lực vốn khổng lồ của xã hội.
MỘT SỐ ĐỀ XUẤT
Để thể chế trở thành “đột phá của đột phá”, góp phần phát huy vai trò trong thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế nước ta, theo nhóm tác giả, cần lưu ý một số vấn đề sau:
Về một số đột phá của thể chế
Một là, tương tác giữa thể chế chính thức và phi chính thức
Hiện tại, cải cách thế chế còn tập trung chủ yếu vào thể chế chính thức, tức là khung pháp lý, chính sách…, nhưng bên cạnh đó, thể chế phi chính thức, tức là các chuẩn mực xã hội, tập quán, thói quen… cũng là một bộ phận rất quan trọng. Thể chế chính thức chỉ có thể phát huy hiệu quả khi có sự tương thích với thể chế phi chính thức, đặc biệt là hệ thống giá trị văn hoá, niềm tin của người dân trong cộng đồng.
Việt Nam là quốc gia có đặc trưng văn hoá rõ nét với các giá trị văn hoá đặc sắc như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, tính cấu kết cộng đồng, tinh thần tự lực tự cường… Đây là những nguồn lực xã hội vô giá đóng góp vào phát triển. Tuy nhiên, một bộ phận tư duy, thói quen cũ còn tồn tại như “một người làm quan, cả họ được nhờ”, “phép vua thua lệ làng”… đã và đang là những rào cản, làm méo mó việc thực thi pháp luật.
Vì vậy, để thể chế có thể trở thành “đột phá của đột phá”, trước tiên cần liên tục tạo dựng, củng cố niềm tin của nhân dân thông qua sự minh bạch, trách nhiệm giải trình của các cơ quan có thẩm quyền. Trên cơ sở niềm tin vững chắc, khơi dậy khát vọng vươn lên trong từng người dân, hướng tới thịnh vượng chung của dân tộc, trở thành động lực nội sinh vượt qua mọi thách thức của thời đại.
Hai là, đột phá từ tư duy
Cần có sự thay đổi từ gốc rễ, tức là từ tư duy về phát triển. Các định kiến, tư tưởng cũ, thiên kiến trong nhìn nhận vai trò của khu vực kinh tế tư nhân cần được điều chỉnh. Vai trò của khu vực tư nhân cần được đánh giá và nhìn nhận đúng đắn trong sự nghiệp phát triển đất nước. Các cấp uỷ, chính quyền cần tạo dựng niềm tin và khí thế cho người dân và doanh nghiệp, phát huy sức mạnh từ lực lượng doanh nhân, khuyến khích tinh thần đổi mới sáng tạo, khơi dậy tinh thần chiến đấu trên mặt trận kinh tế hướng tới sự nghiệp phát triển đất nước.
Ba là, đột phá trong khung pháp lý kiến tạo
Hoàn thiện các luật khung, các quy định mang tính nguyên tắc để đảm bảo tính ổn định và dài hạn cho môi trường pháp luật. Đồng thời, tạo không gian điều chỉnh linh hoạt ở các văn bản dưới luật để kịp thời thích ứng với các biến động trong thực tiễn. Các tầng nấc trung gian cần được cắt giảm để đẩy nhanh quá trình luật, quy định đi vào đời sống thực tiễn.
Vấn đề quyền sở hữu tài sản cần được đảm bảo một cách mạnh mẽ để củng cố niềm tin của nhà đầu tư và doanh nghiệp. Cụ thể, cần kịp thời hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu, đặc biệt là bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong các ngành công nghệ và sáng tạo; các vấn đề thu hồi, bồi thường tài sản sản cần theo nguyên tắc thị trường; nâng cao năng lực của toà án và cơ chế giải quyết tranh chấp độc lập.
Đối với vấn đề môi trường đầu tư, kinh doanh, cần mở rộng không gian pháp lý cho hoạt động của các nhà đầu tư và các doanh nghiệp, thu hẹp danh mục các ngành nghề cần được kiểm soát, hạn chế theo tinh thần được kinh doanh những gì pháp luật không cấm, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm…
Đối với vấn đề cạnh tranh: cần tạo không gian pháp lý công bằng, bình đẳng cho các chủ thể kinh tế, tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chủ sở hữu vốn nhà nước, vai trò kinh tế và vai trò chính trị - xã hội của các doanh nghiệp nhà nước; đảm bảo tính công bằng trong tiếp cận các nguồn lực, tăng tính độc lập và hiệu lực thực thi của các quy định pháp lý về cạnh tranh.
Bốn là, đột phá trong thể chế số
Không chỉ trong cải cách thể chế mà trong mọi lĩnh vực của đời sống hiện nay, số hoá là một hướng đi tất yếu và dữ liệu số được coi làm nguồn nhiên liệu mới cho sự vận hành của bộ máy. Để thể chế trở thành một động lực đột phá, không thể thiếu quá trình chuyển đổi số, xây dựng hạ tầng dữ liệu quốc gia, liên thông các cơ sở dữ liệu lớn… Đây là bước quan trọng để giảm chi phí giao dịch trong nền kinh tế. Khung pháp lý về bảo vệ quyền sở hữu cần đồng thời đảm bảo vấn đề bảo mật dữ liệu và thúc đẩy việc chia sẻ dữ liệu mở, để các doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn tài nguyên này tạo ra các giá trị mới.
Năm là, đột phá trong tổ chức không gian phát triển
Ở một khía cạnh khác, thể chế không chỉ là những ràng buộc chính thức và phi chính thức mà còn là cách thức một cộng đồng tổ chức không gian phát triển. Việt Nam với đặc thù về không gian địa lý, cần mở ra những cơ chế vượt trội để thúc đẩy mạnh mẽ quá trình liên kết vùng, phát huy tối ưu lợi thế vùng. Việc sắp xếp lại các đơn vị hành chính, vừa qua là những viên gạch đầu tiên trong quá trình nâng cấp không gian phát triển. Bên cạnh đó, cần có những cơ chế riêng nhằm thúc đẩy sự phát triển của các khu kinh tế mở, đặc khu kinh tế, đặc khu công nghệ… tạo động lực lan toả ra toàn bộ nền kinh tế.
Sáu là, đột phá trong quản trị nhân sự công
Trên con đường phát triển của bất kỳ cộng đồng, quốc gia nào, con người luôn cần được đặt ở vị trí là chủ thể, là động lực, là mục tiêu của quá trình phát triển. Đối với quá trình cải cách thể chế ở nước ta, nhân sự ở vị trí “then chốt của then chốt”. Cần đảm bảo vị thế cân bằng hơn cho nhân sự trong khu vực công, từ khâu tuyển dụng tới bố trí, bổ nhiệm cần căn cứ trên năng lực và hiệu quả công việc. Tiền lương cho công chức, viên chức không chỉ là khoản chi tiêu công còn là khoản đầu tư chiến lược cho chất lượng nhân lực khu vực công và là một trong những yếu tố cốt lõi để giảm thiểu tình trạng tham nhũng, nâng cao hiệu quả quả quản trị.
Bảy là, cân bằng giữa đột phá và quản trị rủi ro
Đột phá mang lại sức mạnh thúc đẩy phát triển nhưng cũng đi kèm với rủi ro nứt vỡ hệ thống nếu không được quản trị tốt. Vì vậy, trong cải cách thể chế cần có sự cân bằng giữa đột phá với quản trị rủi ro. Việt Nam hiện đang sử dụng mô hình thử nghiệm “sandbox” đối với các quy định pháp lý mới về tài chính số, công nghệ trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn, tài sản số… Kết quả vận hành sandbox được sử dụng để làm cơ sở cho quá trình xây dựng luật chính thức, là kênh kết nối đối thoại chính sách giữa Nhà nước với doanh nghiệp và các chuyên gia nghiên cứu. Tuy nhiên, sandbox cần được xây dựng một cách có hệ thống với phạm vi thử nghiệm rõ ràng, thời hạn thử nghiệp hợp lý, có tiêu chí đánh giá hiệu quả và rủi ro một cách toàn diện.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
Để hướng tới hiện thực hóa những đột phá trên, bước đầu cần thực hiện một số giải pháp như sau:
Thứ nhất, cần chuẩn hoá, công khai, minh bạch quy trình ra quyết định chính sách. Trong đó, cần chú trọng khâu tham vấn từ doanh nghiệp và các hiệp hội ngành nghề, đồng thời thiết lập cơ chế tiếp nhận phản hồi, giải trình về việc có tiếp thu hay không tiếp thu các ý kiến phản hồi đó. Việc này nhằm tiếp tục củng cố niềm tin xã hội vào hệ thống chính sách, gia tăng mức độ đồng thuận xã hội.
Thứ hai, điều chỉnh để tăng mức độ tương hợp giữa thể chế phi chính thức và thể chế chính thức, đặc biệt đối với các thể chế, chuẩn mực phi chính thức cản trở thực thi pháp luật thông qua thúc đẩy các chương trình giáo dục công dân về tinh thần pháp quyền, văn hoá tuân thủ pháp luật, đạo đức kinh doanh, liêm chính trong kinh doanh, văn hoá cạnh tranh lành mạnh…
Thứ ba, tái định vị và khẳng định vai trò của khu vực kinh tế tư nhân “là một động lực quan trọng nhất” thông qua thể chế hoá các chiến lược phát triển doanh nghiệp tư nhân, thiết lập cơ chế hỗ trợ phát triển đối với các “con sếu đầu đàn” của lực lượng doanh nghiệp trong các ngành chiến lược, nỗ lực giảm thiểu chi phí tuân thủ, giảm thiểu thời gian xử lý thủ tục hành chính dựa trên nguyên tắc khai báo một lần, không yêu cầu lại dữ liệu đã khai báo hoặc dữ liệu Nhà nước đã có, thu hẹp danh mục các ngành nghề kinh doanh có điều kiện… tạo sự thuận lợi tối đa cho hoạt động của các doanh nghiệp.
Thứ tư, cần mạnh mẽ hơn nữa trong thiết lập khung pháp lý bảo vệ quyền sở hữu và tiên phong hơn nữa trong bảo vệ quyền sở hữu tài sản trí tuệ, tài sản số; khuyến khích cơ chế trọng tài độc lập trong xử lý các tình huống tranh chấp; tăng mức phạt vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Thứ năm, cần kịp thời số hoá để tận dụng các thời cơ phát triển: xây dựng hạ tầng dữ liệu số ở quy mô quốc gia, liên thông dữ liệu giữa khu vực doanh nghiệp, khu vực dân cư, khu vực dịch vụ công như hải quan, thuế, bảo hiểm, tài chính… Tuy nhiên, cần cân bằng giữa thu thập, quản lý dữ liệu số với tôn trọng, bảo vệ quyền riêng tư cá nhân. Nhà nước cần quy định rõ về cơ chế chia sẻ dữ liệu cho doanh nghiệp, quyền sở hữu dữ liệu cá nhân, thiết lập cơ chế cho sự vận hành của thị trường dữ liệu, nhìn nhận dữ liệu lớn như một loại tài nguyên mới có vai trò chiến lược trong dự báo thị trường, đánh giá rủi ro hệ thống, thiết lập cơ chế phản ứng nhanh trước các biến động…
Thứ sáu, trong quản trị nhân sự công, cần có những đột phá về cải cách tiền lương, đảm bảo thu nhập tương xứng với hiệu suất và khối lượng công việc, trả lương cạnh tranh với các vị trí tương ứng trên thị trường lao động, có cơ chế tuyển dụng công bằng, minh bạch, có cơ chế bảo vệ hiệu quả cho các nhân sự dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong khuôn khổ pháp luật, phân định rõ sai phạm do rủi ro chính sách hay sai phạm do tư lợi cá nhân hoặc nhóm.
Thứ bảy, cần thiết lập cân bằng giữa đột phá và quản trị rủi ro thông qua đặt phạm vi thử nghiệm rõ ràng về thời gian, không gian, nội dung, tiêu chí đánh giá, cơ chế nhân rộng nếu thử nghiệm thành công…
Thứ tám, cần kiên định mục tiêu cải cách thể chế là ưu tiên số một, thống nhất tư duy cải cách thể chế là một quá trình cải cách thường xuyên, liên tục, yêu cầu nỗ lực và quyết tâm cao nhất hướng tới đột phá chứ không phải một phong trào hay một hoạt động theo chu kỳ.
Tài liệu tham khảo:
1. Bùi Hoài Sơn (2026). Ba đột phá chiến lược của Đại hội XIV của Đảng: Mở đường bằng thể chế, bứt tốc bằng nhân lực, cất cánh bằng hạ tầng. https://www.qdnd.vn/tien-toi-dai-hoi-xiv-cua-dang/niem-tin-ky-vong/ba-dot-pha-chien-luoc-cua-dai-hoi-xiv-cua-dang-mo-duong-bang-the-che-but-toc-bang-nhan-luc-cat-canh-bang-ha-tang-1022368
2. Douglass C. North (1991). Institutions. Journal of Economic Perspectives, 5(1).
3. Ostrom (1990). Governing the commons : the evolution of institutions for collective action. New York: Cambridge University Press
4. Quyên, T., Mai, P., Giang, H., & Mây, H. (2025). Khơi thông “điểm nghẽn của điểm nghẽn” - Mệnh lệnh chính trị của cả hệ thống - Kỳ 1. https://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?ItemID=4688
5. Quỳnh An (2025). Cục trưởng Cục Kiểm soát thủ tục hành chính thông tin về 5 mục tiêu cắt giảm, đơn giản hóa TTHC. https://viettimes.vn/cuc-truong-cuc-kiem-soat-thu-tuc-hanh-chinh-thong-tin-ve-5-muc-tieu-cat-giam-don-gian-hoa-tthc-post186224.html
6. Trang, N. M. (2021). The Middle Income Trap: A Case Study of Korea and Lesson for Vietnam. VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, 37(2). https://doi.org/10.25073/2588-1116/vnupam.4240
7. Trần Văn Duy (2024). Vướng mắc triển khai thi hành Luật Đất đai 2024 về công tác đấu giá quyền sử dụng đất. https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2677
8. Vinh, H. X., Van, L. H., Thao, N. T., Thao, N. T. P., Giang, L. T. H., & Nga, D. T. (2024). Middle-income traps: Experiences of Asian countries and lessons for Vietnam. Multidisciplinary Reviews, 7(5), 2024100-2024100
| Ngày nhận bài: 3/1/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 26/2/2026; Ngày duyệt đăng: 12/3/2026 |
Các tin khác
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ tại Nhà hàng Miwaku Premium Landmark 81
Lao động xuyên biên giới tại Đồng Tháp: Thực trạng và những vấn đề đặt ra
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán tại TP. Hồ Chí Minh
Hiểu biết số và hiệu suất công việc của nhân viên marketing: Tổng quan lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất
Tác động của nhận thức về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến kết quả thực hiện nhiệm vụ của nhân viên tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Tác động của tiền gửi không kỳ hạn đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của tăng trưởng tín dụng và rủi ro tín dụng
Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao tại một số quốc gia Đông Nam Á
Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc chấp thuận nền tảng bất động sản trực tuyến và ý định mua nhà tại Hà Nội
Các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối giữa nhà khoa học và thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam