Từ “điểm nghẽn thể chế” đến khát vọng phát triển: Nhìn từ yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam
ThS. Nguyễn Văn Trai
Học viện Chính trị khu vực IV
Email: [email protected]
Hà Phú Quí
Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Vĩnh Lợi, tỉnh Cà Mau
Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích bản chất của “điểm nghẽn thể chế” và tác động của nó đối với quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam. Nghiên cứu cho thấy, trở ngại lớn nhất đối với phát triển hiện nay không phải là sự thiếu hụt nguồn lực mà là những hạn chế trong cơ chế giải phóng, phân bổ và sử dụng nguồn lực xã hội. Trên cơ sở làm rõ yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa vào năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, nghiên cứu khẳng định cải cách thể chế, tinh gọn bộ máy và nâng cao năng lực quản trị quốc gia là điều kiện quyết định để tạo động lực tăng trưởng mới và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045.
Từ khóa: Điểm nghẽn thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng, cải cách thể chế, đổi mới sáng tạo, quản trị quốc gia
Abstract
The study analyzes the nature of “institutional bottlenecks” and their impact on the process of transforming Viet Nam’s growth model. The findings indicate that the most significant obstacle to current development is not a shortage of resources, but rather limitations in the mechanisms for mobilizing, allocating, and effectively utilizing social resources. By clarifying the need to shift toward a growth model driven by productivity, science and technology, innovation, and digital transformation, the study emphasizes that institutional reform, streamlined governance structures, and enhanced national governance capacity are decisive conditions for generating new growth drivers and realizing the country’s development aspirations toward 2045.
Keywords: Institutional bottlenecks, growth model transformation, institutional reform, innovation, national governance
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong hành trình hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam đang đứng trước một yêu cầu mang tính bước ngoặt: phải tạo ra những đột phá mới về chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia. Thực tiễn cho thấy, trở ngại lớn nhất hiện nay không còn nằm ở sự thiếu hụt vốn đầu tư, nguồn nhân lực hay tài nguyên phát triển, mà nằm ở những rào cản thể chế đang làm chậm quá trình giải phóng và phân bổ nguồn lực xã hội. Khi thể chế không theo kịp sự vận động của khoa học công nghệ, chuyển đổi số và các mô hình kinh doanh mới, chi phí phát triển sẽ gia tăng, động lực đổi mới sáng tạo bị suy giảm và cơ hội tăng trưởng có nguy cơ bị bỏ lỡ. Trong bối cảnh đó, tháo gỡ “điểm nghẽn thể chế” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính hay hoàn thiện pháp luật đơn thuần, mà là điều kiện quyết định để đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, phát huy sức mạnh nội sinh và tạo dựng nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
BẢN CHẤT CỦA “ĐIỂM NGHẼN THỂ CHẾ” VÀ YÊU CẦU GIẢI PHÓNG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
Trong kinh tế học thể chế mới, North (1991) cho rằng, thể chế là những ràng buộc do con người tạo ra nhằm định hình các tương tác chính trị, kinh tế và xã hội, bao gồm những quy tắc chính thức như hiến pháp, pháp luật, quyền tài sản và những ràng buộc phi chính thức như tập quán, truyền thống, chuẩn mực, quy tắc ứng xử. Quan trọng hơn, thể chế tạo nên cấu trúc khuyến khích của nền kinh tế, tác động đến sự lựa chọn của các chủ thể, chi phí giao dịch, chi phí sản xuất và kết quả phát triển (North, 1991). Theo đó, chất lượng thể chế không thể chỉ đo bằng số lượng văn bản được ban hành, mà phải được đánh giá bằng khả năng giảm bất định, bảo đảm quyền tài sản, khuyến khích đầu tư, sáng tạo, cạnh tranh và phân bổ nguồn lực hiệu quả.
Phát triển cách tiếp cận này, Acemoglu và cộng sự (2005) xem thể chế kinh tế là nguyên nhân nền tảng giải thích sự khác biệt về phát triển dài hạn giữa các quốc gia. Thể chế xác lập những khuyến khích và giới hạn đối với các chủ thể kinh tế, qua đó ảnh hưởng đến đầu tư, đổi mới, tích lũy và phân bổ nguồn lực. Đáng chú ý, các tác giả đặt thể chế kinh tế trong quan hệ với phân bổ quyền lực chính trị và nguồn lực xã hội; bởi những nhóm khác nhau có lợi ích khác nhau đối với việc lựa chọn và duy trì thể chế. Cách tiếp cận này mở rộng phân tích thể chế từ “luật chơi” sang vấn đề quyền lực, lợi ích và khả năng chi phối quá trình phân bổ nguồn lực.
Trên nền tảng đó, “điểm nghẽn thể chế” không nên được hiểu giản đơn là một quy định bất hợp lý, một thủ tục phức tạp hay một khoảng trống pháp luật. Đó mới là những biểu hiện bề mặt. Sâu hơn, điểm nghẽn xuất hiện khi cấu trúc thể chế hiện hữu không còn tương thích với yêu cầu phát triển, khiến các quy tắc, cơ chế phân bổ quyền lực, phương thức quản lý hoặc năng lực thực thi cản trở sự vận động hiệu quả của nguồn lực. Khi đó, thể chế từ khuôn khổ kiến tạo trật tự và thúc đẩy phát triển có thể chuyển hóa thành lực cản đối với chính quá trình phát triển.
Trong nghiên cứu này, có thể hiểu “điểm nghẽn thể chế” là trạng thái trong đó một hoặc một số cấu phần của hệ thống thể chế không còn phù hợp, thiếu đồng bộ hoặc vận hành kém hiệu quả so với yêu cầu phát triển, làm méo mó cấu trúc khuyến khích, gia tăng chi phí giao dịch, cản trở phân bổ nguồn lực, hạn chế đầu tư và đổi mới sáng tạo, qua đó làm suy giảm khả năng phát triển của lực lượng sản xuất. Nội hàm này bao gồm bất cập trong thiết kế thể chế, thiếu đồng bộ giữa các quy định, hạn chế trong tổ chức thực thi và sự chậm thích ứng của thể chế trước những biến đổi của lực lượng sản xuất.
Nhận diện này có sự tương đồng rõ nét với những vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn Việt Nam. Tại Phiên khai mạc Kỳ họp thứ tám, Quốc hội khóa XV (năm 2024), Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ, trong 3 điểm nghẽn lớn là thể chế, hạ tầng và nhân lực thì thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” cần tập trung khắc phục (Anh Phương, 2024). Những hạn chế được nhận diện không chỉ nằm ở chất lượng xây dựng pháp luật mà còn ở tình trạng quy định thiếu đồng bộ, chồng chéo, khó thực thi, gây thất thoát, lãng phí và chưa khơi thông đầy đủ nguồn lực phát triển. Quan điểm này đặt vấn đề thể chế vượt khỏi phạm vi kỹ thuật pháp lý để trở thành vấn đề trực tiếp của tăng trưởng và năng lực phát triển quốc gia.
Đáng chú ý, cùng với quá trình cải cách mạnh mẽ, nhận diện về điểm nghẽn tiếp tục được phát triển. Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Chính phủ với các địa phương vào ngày 4/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá, thể chế không còn là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” như trước, trong khi tổ chức thực thi nhiệm vụ đang nổi lên thành điểm nghẽn cần tập trung xử lý (Phạm Thúy, 2026). Sự chuyển dịch này có ý nghĩa quan trọng về phương pháp luận: điểm nghẽn thể chế không phải trạng thái bất biến và cũng không chỉ tồn tại trong khâu xây dựng pháp luật; nó có thể dịch chuyển từ thiết kế chính sách sang tổ chức thực hiện, từ quy định sang năng lực hành động của bộ máy. Vì vậy, đánh giá chất lượng thể chế phải gắn với hiệu quả thực thi và kết quả phát triển thực tế.
Từ đây có thể thấy, điểm nghẽn không nhất thiết xuất hiện khi thiếu quy định. Nó có thể hình thành ngay trong hệ thống có nhiều quy định nhưng chồng chéo, xung đột, thiếu nhất quán hoặc phân tán trách nhiệm. Khi một dự án chịu sự điều chỉnh của nhiều luật, một nguồn lực phải đi qua nhiều cơ quan, một quyết định phải đáp ứng những yêu cầu pháp lý không thống nhất, nền kinh tế có thể rơi vào nghịch lý “thừa quy định nhưng thiếu khả năng hành động”. Chi phí khi đó không chỉ là thời gian thực hiện thủ tục mà còn bao gồm rủi ro pháp lý, chi phí cơ hội và những cơ hội đầu tư bị bỏ lỡ.
Ở tầng sâu hơn, điểm nghẽn thể chế nằm trong cấu trúc khuyến khích và quan hệ giữa quyền lực, lợi ích, trách nhiệm với động cơ hành vi. Nếu người thực thi nhận thấy “không làm thì an toàn hơn làm”, doanh nghiệp dành nguồn lực tìm kiếm quan hệ thay vì nâng cao năng suất, hoặc chủ thể có quyền phân bổ nguồn lực có lợi ích trong duy trì cơ chế thiếu cạnh tranh, thì thể chế vẫn có thể kìm hãm phát triển dù hệ thống văn bản tương đối đầy đủ. Đây chính là ranh giới mà phân tích điểm nghẽn thể chế phải vượt khỏi kỹ thuật lập pháp để đi vào bản chất kinh tế chính trị.
Do đó, bản chất sâu xa của điểm nghẽn thể chế là sự tích tụ của những quy tắc, quan hệ và cơ chế quản trị không còn đủ mức độ phù hợp với yêu cầu phát triển mới của lực lượng sản xuất, khiến tiềm năng nguồn lực xã hội không thể chuyển hóa đầy đủ thành năng suất và giá trị gia tăng. Đây là sự khác biệt giữa “thiếu nguồn lực” và “nguồn lực bị khóa”. Nền kinh tế có thể có vốn nhưng vốn không đi được vào dự án; có đất đai nhưng chưa được khai thác hiệu quả; có công nghệ nhưng khó thương mại hóa; có doanh nghiệp muốn đầu tư nhưng không thể triển khai; có cán bộ đủ năng lực nhưng không dám quyết định vì rủi ro thể chế. Khi đó, giới hạn tăng trưởng không nằm trước hết ở quy mô nguồn lực mà ở cơ chế đưa nguồn lực vào vận động.
Theo logic này, điểm nghẽn thể chế có thể nhận diện trên 4 phương diện: điểm nghẽn trong thiết kế khi quy định không phù hợp thực tiễn hoặc tạo cấu trúc khuyến khích sai lệch; điểm nghẽn về tính đồng bộ khi các quy định chồng chéo, xung đột; điểm nghẽn thực thi khi chính sách đúng nhưng trách nhiệm không rõ, năng lực tổ chức yếu hoặc xuất hiện né tránh, đùn đẩy; và điểm nghẽn thích ứng khi tốc độ đổi mới thể chế chậm hơn tốc độ phát triển của lực lượng sản xuất, đặc biệt trước kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu và các mô hình kinh doanh mới.
Như vậy, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế không thể chỉ dừng ở cắt giảm thủ tục hoặc sửa đổi những quy định riêng lẻ, mà phải điều chỉnh cấu trúc khuyến khích, quan hệ quyền hạn - trách nhiệm và phương thức quản trị nhằm tạo lập sự phù hợp động giữa quan hệ sản xuất với trình độ mới của lực lượng sản xuất. Thước đo cuối cùng của cải cách thể chế không phải là đã sửa bao nhiêu luật, bãi bỏ bao nhiêu thủ tục hay ban hành bao nhiêu chính sách, mà là nguồn lực có được khơi thông, chi phí giao dịch có giảm, doanh nghiệp có dám đầu tư và đổi mới, bộ máy có chuyển từ né tránh sang hành động và năng suất xã hội có được nâng lên hay không. Chỉ khi đó, cải cách thể chế mới thực sự chuyển hóa thành quá trình giải phóng lực lượng sản xuất và tạo động lực nội sinh cho tăng trưởng.
ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ VÀ CẠNH TRANH TOÀN CẦU
Trong 40 năm Đổi mới, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chủ yếu được thúc đẩy bởi việc mở rộng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên, tận dụng lợi thế lao động chi phí thấp và đẩy mạnh xuất khẩu. Mô hình này đã góp phần quan trọng đưa Việt Nam từ một quốc gia có thu nhập thấp trở thành nền kinh tế có quy mô ngày càng lớn trong khu vực. Tuy nhiên, những động lực tăng trưởng truyền thống đang dần suy giảm hiệu quả và bộc lộ những giới hạn mang tính cấu trúc. Quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam từ sau Đại hội XIII của Đảng đã chuyển trọng tâm từ mục tiêu tăng trưởng đơn thuần sang nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ và các chuỗi giá trị toàn cầu đang được tái cấu trúc, yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng đã trở thành vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với tương lai phát triển của đất nước.
Thực tiễn cho thấy, tốc độ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn mới không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào việc gia tăng vốn đầu tư hay khai thác các lợi thế sẵn có. Nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng hạn chế, lợi thế lao động giá rẻ đang dần suy giảm, trong khi yêu cầu phát triển xanh, phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia ngày càng trở nên cấp thiết. Điều đó đòi hỏi nền kinh tế phải chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu, lấy năng suất, chất lượng, hiệu quả và đổi mới sáng tạo làm động lực chủ yếu.
Khoảng cách về năng suất lao động giữa Việt Nam với các quốc gia phát triển trong khu vực vẫn còn rất lớn. So sánh năng suất lao động theo sức mua tương đương (PPP) của Việt Nam năm 2023, Việt Nam chỉ bằng 11% so với năng suất lao động của Singapore, bằng 57% so với năng suất của người Trung Quốc (An Linh 2025). Điều đó cho thấy nền kinh tế Việt Nam vẫn chủ yếu tham gia vào các phân đoạn có giá trị gia tăng thấp trong chuỗi giá trị toàn cầu, tập trung vào lắp ráp, gia công và các ngành thâm dụng lao động. Dù khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo hiện đóng góp khoảng 24,43% GDP năm 2024 (Tổng cục Thống kê, nay là Cục Thống kê, 2024), nhưng khả năng làm chủ công nghệ lõi, năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) và tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam vẫn còn khá thấp. Nói cách khác, Việt Nam đang “sản xuất nhiều” nhưng chưa thực sự “làm chủ được nhiều”.
Đây chính là giới hạn lớn nhất của mô hình tăng trưởng dựa vào lợi thế chi phí thấp. Trong điều kiện cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc sản xuất toàn cầu, giá trị gia tăng ngày càng tập trung vào các khâu nghiên cứu, thiết kế, sở hữu công nghệ, quản trị dữ liệu và phát triển thương hiệu. Trong khi đó, các hoạt động gia công, lắp ráp và sản xuất thâm dụng lao động đang có xu hướng dịch chuyển xuống những nấc thấp hơn của chuỗi giá trị. Nếu không tạo được bước đột phá về năng lực đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ, Việt Nam sẽ gặp khó khăn trong việc nâng cao năng suất lao động, cải thiện chất lượng tăng trưởng và nâng tầm vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đây cũng là lý do khiến đổi mới mô hình tăng trưởng không còn là yêu cầu mang tính lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu mang tính chiến lược đối với tương lai phát triển đất nước.
Trong bối cảnh đó, mô hình tăng trưởng mới cần được xây dựng trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao. Nếu trong giai đoạn trước, vốn và lao động là những yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng thì trong giai đoạn hiện nay, tri thức, công nghệ và dữ liệu đang trở thành những nguồn lực có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh quốc gia. Quốc gia nào làm chủ được công nghệ mới, khai thác hiệu quả dữ liệu và xây dựng được hệ sinh thái đổi mới sáng tạo năng động sẽ có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao hơn và duy trì được tốc độ tăng trưởng bền vững hơn. Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải thực sự trở thành động lực trung tâm của phát triển đất nước và phải được đo bằng hiệu quả thực tiễn đối với tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động và chất lượng cuộc sống của người dân. Đây không chỉ là định hướng phát triển khoa học công nghệ mà còn là yêu cầu tái cấu trúc toàn bộ mô hình tăng trưởng trong điều kiện mới (Tổng Bí thư Tô Lâm, 2025).
Đáng chú ý, dữ liệu đang nổi lên như một loại tư liệu sản xuất mới của nền kinh tế số. Khả năng thu thập, xử lý, phân tích và khai thác dữ liệu không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp tối ưu hóa hoạt động sản xuất kinh doanh, phát triển sản phẩm mới và mở rộng thị trường. Cùng với đó, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, bán dẫn, Internet vạn vật và các công nghệ số thế hệ mới đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, phương thức quản trị và mô hình cạnh tranh của nền kinh tế hiện đại.
Đối với Việt Nam, việc phát triển các ngành công nghệ cao, công nghiệp bán dẫn, trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và kinh tế số không đơn thuần là mở rộng thêm một số lĩnh vực sản xuất mới. Về thực chất, đây là quá trình tái định vị quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu, từng bước chuyển từ vị trí tham gia vào các khâu có giá trị gia tăng thấp sang tham gia vào những mắt xích tạo ra giá trị gia tăng cao hơn. Thành công của quá trình này sẽ quyết định khả năng nâng cao năng suất lao động, tăng năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo ra những động lực tăng trưởng mới trong dài hạn.
Tuy nhiên, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo chỉ có thể trở thành động lực phát triển khi được đặt trong một môi trường thể chế phù hợp. Thực tiễn cho thấy nhiều ý tưởng sáng tạo, nhiều mô hình kinh doanh mới và nhiều dự án công nghệ có tiềm năng vẫn gặp khó khăn trong quá trình triển khai do những rào cản về cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính. Điều đó cho thấy, đổi mới mô hình tăng trưởng không chỉ là câu chuyện của công nghệ hay vốn đầu tư mà trước hết là câu chuyện của cải cách thể chế, của việc xây dựng môi trường phát triển đủ minh bạch, ổn định và thuận lợi để khuyến khích sáng tạo, khơi thông nguồn lực và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh.
Theo Hồ Sỹ Ngọc (2026), mô hình tăng trưởng trong kỷ nguyên mới phải được xây dựng trên nền tảng năng suất, đổi mới sáng tạo và chất lượng thể chế thay vì phụ thuộc vào mở rộng đầu tư và khai thác các lợi thế truyền thống. Nhận định này cho thấy đổi mới mô hình tăng trưởng thực chất là quá trình chuyển đổi các động lực phát triển quốc gia sang các yếu tố có hàm lượng tri thức và công nghệ cao hơn.
CẢI CÁCH THỂ CHẾ VÀ TINH GỌN BỘ MÁY: ĐỘT PHÁ CỦA ĐỘT PHÁ
Đối với Việt Nam hiện nay, cải cách thể chế không còn là yêu cầu mang tính kỹ thuật nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hay đơn giản hóa thủ tục hành chính. Về thực chất, đây là quá trình tái cấu trúc cơ chế vận hành của nền kinh tế và bộ máy quản trị quốc gia nhằm tạo lập môi trường phát triển phù hợp với yêu cầu của mô hình tăng trưởng mới. Khi động lực tăng trưởng được chuyển dịch sang khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu và kinh tế số, những rào cản thể chế nếu không được tháo gỡ sẽ trở thành lực cản trực tiếp đối với quá trình phát triển. Quan điểm này cũng thống nhất với tư duy phát triển mới được Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh khi khẳng định rằng phát triển kinh tế tư nhân và giải phóng mọi nguồn lực xã hội phải trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng quốc gia. Theo Tổng Bí thư, động lực phát triển trong giai đoạn mới không chỉ đến từ khu vực nhà nước mà phải được tạo dựng trên nền tảng phát huy mạnh mẽ sức sáng tạo, tinh thần doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của toàn xã hội. Chính vì vậy, cải cách thể chế cần tập trung tháo gỡ các rào cản đang cản trở sự phát triển của doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế (Tổng Bí thư Tô Lâm, 2025).
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy khoảng cách giữa chủ trương và quá trình thực thi vẫn còn tồn tại ở nhiều lĩnh vực. Không ít chính sách được đánh giá là đúng đắn nhưng khi triển khai lại gặp khó khăn do sự chồng chéo của hệ thống pháp luật, sự phân tán trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý hoặc những hạn chế trong tổ chức thực hiện.
Một trong những vấn đề nổi lên hiện nay là sự tồn tại của tư duy quản lý hành chính trong khi nền kinh tế đang vận hành theo yêu cầu của quản trị hiện đại. Trong nhiều trường hợp, cơ quan quản lý vẫn tập trung vào kiểm soát quy trình hơn là tạo lập môi trường phát triển; chú trọng quản lý đầu vào hơn là đánh giá kết quả đầu ra; đặt nặng cơ chế tiền kiểm hơn là hậu kiểm. Điều này làm gia tăng chi phí tuân thủ, kéo dài thời gian thực hiện thủ tục và làm giảm tính linh hoạt của nền kinh tế.
Đáng chú ý, một trong những lực cản lớn đối với phát triển hiện nay là tình trạng né tránh trách nhiệm, sợ sai, sợ chịu trách nhiệm trong một bộ phận cán bộ, công chức. Khi quyền hạn và trách nhiệm chưa được xác định rõ ràng, khi cơ chế bảo vệ người dám nghĩ, dám làm chưa đủ mạnh, tâm lý an toàn sẽ dễ thay thế tinh thần đổi mới. Hệ quả là nhiều cơ hội phát triển bị bỏ lỡ, nhiều quyết định đầu tư bị kéo dài và nhiều nguồn lực xã hội không được khai thác kịp thời. Đây không chỉ là vấn đề về năng lực thực thi mà còn phản ánh những hạn chế của thể chế quản trị hiện hành.
Trong bối cảnh đó, cải cách thể chế phải được nhìn nhận như một cuộc cải cách phát triển toàn diện. Trong mô hình tăng trưởng mới, thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực tiếp tục được xác định là 3 đột phá chiến lược có ý nghĩa quyết định đối với năng lực phát triển quốc gia. Tuy nhiên, thể chế giữ vai trò nền tảng bởi đây là yếu tố chi phối hiệu quả huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực phát triển. Mục tiêu không chỉ là sửa đổi một số quy định pháp luật riêng lẻ mà là xây dựng một môi trường phát triển minh bạch, ổn định, dễ dự báo và khuyến khích đổi mới sáng tạo. Nhà nước cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển; từ việc can thiệp trực tiếp vào quá trình phân bổ nguồn lực sang việc thiết lập luật chơi công bằng, minh bạch và bảo đảm cạnh tranh lành mạnh trên thị trường.
Song hành với cải cách thể chế là yêu cầu tinh gọn tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu năng quản trị quốc gia. Việc thực hiện chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh gọn đầu mối và xây dựng mô hình chính quyền địa phương 2 cấp không chỉ nhằm tiết kiệm nguồn lực ngân sách mà sâu xa hơn là nâng cao chất lượng quản trị quốc gia. Vì vậy, cải cách thể chế và tinh gọn bộ máy không chỉ là giải pháp tháo gỡ những khó khăn trước mắt mà còn là điều kiện quyết định để hình thành các động lực tăng trưởng mới trong dài hạn. Đây chính là đột phá của mọi đột phá, là chìa khóa để giải phóng nguồn lực xã hội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo nền tảng vững chắc cho quá trình hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045.
HIỆN THỰC HÓA KHÁT VỌNG TĂNG TRƯỞNG 2 CON SỐ
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức 2 con số trong những thập niên tới không đơn thuần là một chỉ tiêu kinh tế hay một khát vọng phát triển, mà phản ánh yêu cầu khách quan của quá trình phát triển rút ngắn trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt. Khi nhiều quốc gia đang đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh, làm chủ các công nghệ chiến lược và tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu, Việt Nam không có nhiều dư địa để phát triển theo lộ trình tuần tự như các nước đi trước. Muốn thu hẹp khoảng cách phát triển và hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, nền kinh tế phải duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian đủ dài đi đôi với việc không ngừng nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Tuy nhiên, tăng trưởng 2 con số không thể đạt được bằng việc mở rộng đầu tư công một cách cơ học hay thúc đẩy tăng trưởng tín dụng trong ngắn hạn. Những giải pháp này có thể tạo ra tác động tích cực trong một giai đoạn nhất định nhưng không thể trở thành nền tảng cho tăng trưởng dài hạn. Thực tiễn của nhiều quốc gia cho thấy, tăng trưởng dựa chủ yếu vào mở rộng vốn đầu tư thường dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn suy giảm, áp lực nợ công gia tăng và những rủi ro đối với ổn định kinh tế vĩ mô. Về bản chất, nền tảng quyết định tăng trưởng bền vững không nằm ở quy mô nguồn lực được huy động mà nằm ở năng suất lao động, hiệu quả phân bổ nguồn lực và khả năng tạo ra giá trị gia tăng mới của nền kinh tế. Theo nhóm tác giả, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, cần lưu ý một số điều kiện sau:
Điều kiện đầu tiên để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao là phải tạo được bước đột phá về năng suất lao động. Trong nền kinh tế hiện đại, năng suất lao động không chỉ phản ánh trình độ kỹ năng của người lao động mà còn phản ánh trình độ công nghệ, năng lực quản trị, chất lượng thể chế và hiệu quả tổ chức sản xuất. Khi tốc độ gia tăng lao động và vốn đầu tư ngày càng chậm lại, năng suất trở thành nguồn gốc quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, mọi chiến lược phát triển dài hạn đều phải hướng tới mục tiêu nâng cao năng suất lao động xã hội thông qua đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ mới và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Theo Nguyễn Lan Hương và Bùi Văn Huyền (2025), nâng cao năng suất lao động là điều kiện tiên quyết để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong dài hạn. Bởi lẽ, khi các dư địa tăng trưởng dựa vào lao động và vốn đầu tư ngày càng thu hẹp, năng suất sẽ trở thành nguồn gốc chủ yếu của tăng trưởng kinh tế.
Điều kiện thứ hai là phát triển mạnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số. Trong thế kỷ XXI, những quốc gia dẫn đầu không phải là những quốc gia sở hữu nhiều tài nguyên nhất mà là những quốc gia làm chủ được tri thức và công nghệ. Giá trị gia tăng ngày càng được tạo ra từ các hoạt động nghiên cứu, thiết kế, sáng tạo công nghệ, quản trị dữ liệu và phát triển thương hiệu. Điều đó đòi hỏi Việt Nam phải xây dựng được hệ sinh thái đổi mới sáng tạo năng động, thúc đẩy liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu và các chủ thể xã hội nhằm chuyển nhanh các kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, dịch vụ và giá trị kinh tế thực tế.
Điều kiện thứ ba là tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không có quốc gia nào duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài nếu môi trường thể chế thiếu minh bạch, thiếu ổn định và thiếu khả năng dự báo. Một nền kinh tế muốn phát triển nhanh phải có một hệ thống thể chế đủ năng lực khuyến khích sáng tạo, bảo vệ quyền tài sản, bảo đảm cạnh tranh công bằng và phân bổ nguồn lực theo tín hiệu của thị trường. Cải cách thể chế vì thế không chỉ là nhiệm vụ hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước mà còn là điều kiện để giải phóng các nguồn lực phát triển và củng cố niềm tin của thị trường.
Điều kiện thứ tư là phát triển khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Điều này hoàn toàn phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, trong đó xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân và là lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia (Bộ Chính trị, 2025). Trong nhiều năm qua, khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng, tạo việc làm và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, để khu vực này phát huy đầy đủ vai trò của mình, cần tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư kinh doanh, bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật, tạo điều kiện tiếp cận bình đẳng các nguồn lực phát triển và giảm thiểu các rào cản hành chính không cần thiết. Khi tinh thần doanh nghiệp được khơi dậy và niềm tin thị trường được củng cố, khu vực tư nhân sẽ trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng cho tăng trưởng dài hạn.
Điều kiện thứ năm là xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức. Trong điều kiện chuyển đổi số và phát triển công nghệ cao, lợi thế cạnh tranh không còn chủ yếu nằm ở số lượng lao động mà nằm ở chất lượng nguồn nhân lực. Giáo dục, đào tạo và phát triển nhân tài phải trở thành một ưu tiên chiến lược nhằm hình thành đội ngũ lao động có năng lực sáng tạo, kỹ năng số, khả năng thích ứng nhanh với công nghệ mới và đủ năng lực tham gia vào các ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao.
Tài liệu tham khảo:
1. Acemoglu, D., Johnson, S., & Robinson, J. A. (2005). Institutions as a fundamental cause of long-run growth. In P. Aghion & S. N. Durlauf (Eds.), Handbook of Economic Growth (Vol. 1A, pp. 385–472). Elsevier. DOI: 10.1016/S1574-0684(05)01006-3
2. An Linh (2025). Chính phủ: Năng suất lao động Việt Nam chỉ bằng 1/10 Singapore, bằng 1/2 Trung Quốc, https://danviet.vn/chinh-phu-nang-suat-lao-dong-viet-nam-chi-bang-1-10-singapore-bang-1-2-trung-quoc-d1371531.html
3. Anh Phương (2024). Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Thể chế là “điểm nghẽn” của “điểm nghẽn”, https://www.sggp.org.vn/tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-the-che-la-diem-nghen-cua-diem-nghen-post764593.html
4. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
5. Hồ Sỹ Ngọc (2026). Xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên mới, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/1243302/xac-lap-mo-hinh-tang-truong-kinh-te-viet-nam-trong-ky-nguyen-moi.aspx#
6. Nguyễn Lan Hương, Bùi Văn Huyền (2025). Nâng cao năng suất lao động hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số ở Việt Nam, https://tapchikinhtetaichinh.vn/nang-cao-nang-suat-lao-dong-huong-toi-muc-tieu-tang-truong-kinh-te-hai-con-so-o-viet-nam-127198.html&link=autochanger.
7. North, D. C. (1991). Institutions. Journal of Economic Perspectives, 5(1), 97–112, web: https://doi.org/10.1257/jep.5.1.97
8. Phạm Thúy (2206). Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Điểm nghẽn về thể chế cơ bản đã được tháo gỡ, https://daibieunhandan.vn/tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-diem-nghen-ve-the-che-co-ban-da-duoc-thao-go-10422593.html.
9. Tổng cục Thống kê (2024). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2024.
10. Tổng Bí thư Tô Lâm (2025). Động lực mới cho phát triển kinh tế, https://baochinhphu.vn/tong-bi-thu-to-lam-va-tu-duy-ly-luan-moi-ve-kinh-te-tu-nhan-102250513043053242.htm?utm_source=chatgpt.com
| Ngày nhận bài: 9/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 3/8/2026; Ngày duyệt đăng: 11/8/2026 |
Các tin khác
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ tại Nhà hàng Miwaku Premium Landmark 81
Lao động xuyên biên giới tại Đồng Tháp: Thực trạng và những vấn đề đặt ra
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán tại TP. Hồ Chí Minh
Hiểu biết số và hiệu suất công việc của nhân viên marketing: Tổng quan lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất
Tác động của nhận thức về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến kết quả thực hiện nhiệm vụ của nhân viên tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Tác động của tiền gửi không kỳ hạn đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của tăng trưởng tín dụng và rủi ro tín dụng
Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao tại một số quốc gia Đông Nam Á
Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc chấp thuận nền tảng bất động sản trực tuyến và ý định mua nhà tại Hà Nội
Các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối giữa nhà khoa học và thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam