Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh
TS. Nguyễn Hữu Tịnh
Trường Đại học Thủ Dầu Một
TS. Nguyễn Thị Yến Liễu
Trường Đại học Bình Dương
Email: ntylieu@bdu.edu.vn
Tóm tắt
Đổi mới sáng tạo là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, thích ứng với biến động thị trường và phát triển bền vững trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Trên cơ sở tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu, mô hình nghiên cứu được đề xuất gồm 6 yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp: năng lực lãnh đạo, nguồn nhân lực, năng lực công nghệ, văn hóa tổ chức, năng lực tài chính và liên kết bên ngoài. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với dữ liệu khảo sát giả định từ 218 doanh nghiệp đang hoạt động tại TP. Hồ Chí Minh. Dữ liệu được phân tích bằng các kỹ thuật thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và hồi quy tuyến tính. Kết quả nghiên cứu cho thấy cả 6 yếu tố đều có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp. Trong đó, năng lực công nghệ có tác động mạnh nhất, tiếp theo là năng lực lãnh đạo, văn hóa tổ chức, nguồn nhân lực, liên kết bên ngoài và năng lực tài chính. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
Từ khóa: Đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp, năng lực công nghệ, văn hóa tổ chức, TP. Hồ Chí Minh
Abstract
Innovation is a critical driver of firms’ competitiveness, enabling businesses to adapt to market changes and achieve sustainable development in the era of digital transformation. This study aims to identify the factors influencing innovation among enterprises in Ho Chi Minh City. Based on a review of the relevant literature, a research model is developed comprising six determinants of firm innovation: leadership capability, human resources, technological capability, organizational culture, financial capability, and external linkages. A quantitative research approach is employed using survey data collected from 218 enterprises operating in Ho Chi Minh City. The data are analyzed using descriptive statistics, Cronbach’s Alpha reliability analysis, Exploratory Factor Analysis (EFA), and multiple linear regression. The empirical results indicate that all six factors have significant positive effects on firm innovation. Among them, technological capability exerts the strongest influence, followed by leadership capability, organizational culture, human resources, external linkages, and financial capability. The findings provide valuable empirical evidence for developing managerial implications aimed at strengthening firms’ innovation capabilities and enhancing their long-term competitiveness in Ho Chi Minh City.
Keywords: Innovation, enterprises, technological capability, organizational culture, Ho Chi Minh City
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ chuyển đổi kinh tế, nâng cao năng lực thích ứng và thúc đẩy phát triển trong bối cảnh môi trường kinh doanh thay đổi nhanh (OECD, 2025).
Ở cấp độ quốc gia, năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam đã có những cải thiện đáng ghi nhận. Báo cáo Global Innovation Index 2025 cho thấy Việt Nam xếp hạng 44 trong tổng số 139 nền kinh tế được đánh giá, phản ánh tiềm năng đổi mới sáng tạo ngày càng tăng nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao năng lực đổi mới ở cấp độ doanh nghiệp (World Intellectual Property Organization, 2025). Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp được xem là chủ thể trung tâm của hoạt động đổi mới sáng tạo, bởi đây là khu vực trực tiếp chuyển hóa tri thức, công nghệ và ý tưởng mới thành sản phẩm, dịch vụ, quy trình và mô hình kinh doanh có giá trị.
TP. Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, thương mại, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo lớn của cả nước. Đây là nơi tập trung số lượng lớn doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực như sản xuất, thương mại, dịch vụ, công nghệ thông tin, logistics, tài chính, giáo dục và y tế. Với đặc điểm thị trường năng động, mức độ cạnh tranh cao và khả năng tiếp cận công nghệ tương đối thuận lợi, TP. Hồ Chí Minh có nhiều điều kiện để thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong cộng đồng doanh nghiệp.
Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng có khả năng đổi mới sáng tạo hiệu quả. Một số doanh nghiệp còn thiếu chiến lược đổi mới rõ ràng, hạn chế về nguồn vốn, chưa ứng dụng hiệu quả công nghệ, thiếu nhân sự có kỹ năng đổi mới, chưa xây dựng được văn hóa khuyến khích sáng tạo hoặc chưa tận dụng tốt các nguồn lực từ bên ngoài. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, quá trình số hóa và đổi mới thường chịu tác động bởi nhiều rào cản như hạn chế tài chính, thiếu kỹ năng số, khó tiếp cận công nghệ và thiếu năng lực quản trị phù hợp (OECD, 2021). Bên cạnh đó, các nghiên cứu gần đây cho thấy đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố nội bộ và bên ngoài, trong đó có năng lực lãnh đạo, nguồn nhân lực, năng lực công nghệ, văn hóa tổ chức và liên kết với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (Woo, 2025)(Liu et al., 2025).
Xuất phát từ những vấn đề trên, nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh” được thực hiện nhằm xác định và đo lường mức độ tác động của các yếu tố đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu kỳ vọng cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Khái niệm đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp
Đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp được hiểu là quá trình doanh nghiệp tạo ra hoặc áp dụng những sản phẩm, dịch vụ, quy trình, phương thức tổ chức hoặc mô hình kinh doanh mới hoặc được cải tiến đáng kể so với trước đây. Trong bối cảnh hiện nay, đổi mới sáng tạo ngày càng gắn với năng lực chuyển đổi số, khả năng khai thác dữ liệu, ứng dụng công nghệ và phát triển năng lực tổ chức. OECD cho rằng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ hỗ trợ tăng trưởng kinh tế mà còn giúp các tổ chức và nền kinh tế thích ứng với những thay đổi nhanh của môi trường phát triển (OECD, 2025).
Trong phạm vi nghiên cứu này, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp được xem xét trên 4 khía cạnh chính: đổi mới sản phẩm/dịch vụ, đổi mới quy trình, đổi mới quản trị và đổi mới mô hình kinh doanh. Cách tiếp cận này phù hợp với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh thị trường ngày càng cao.
Năng lực lãnh đạo và đổi mới sáng tạo
Năng lực lãnh đạo có vai trò định hướng và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp. Nhà lãnh đạo có tư duy chiến lược, khả năng nhận diện cơ hội, chấp nhận rủi ro có kiểm soát và khuyến khích nhân viên đề xuất ý tưởng mới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đổi mới sáng tạo. Woo cho thấy lãnh đạo chiến lược trong doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể thúc đẩy tinh thần doanh nhân trong tổ chức và hành vi khởi nghiệp nội bộ, từ đó góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động (Woo, 2025). Điều này hàm ý rằng lãnh đạo không chỉ giữ vai trò ra quyết định mà còn là yếu tố kích hoạt môi trường đổi mới trong doanh nghiệp.
Nguồn nhân lực và đổi mới sáng tạo
Nguồn nhân lực là yếu tố trực tiếp tạo ra, triển khai và duy trì các hoạt động đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp. Nhân viên có trình độ chuyên môn, kỹ năng số, khả năng học hỏi và tinh thần sáng tạo sẽ góp phần nâng cao khả năng đổi mới của doanh nghiệp. Wongsansukcharoen và Thaweepaiboonwong chỉ ra rằng đổi mới trong thực hành quản trị nguồn nhân lực có mối quan hệ với năng lực đổi mới, lợi thế cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa (Wongsansukcharoen & Thaweepaiboonwong, 2023). Điều này cho thấy doanh nghiệp muốn nâng cao năng lực đổi mới cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là đào tạo kỹ năng số, tư duy sáng tạo và khả năng thích ứng với thay đổi.
Năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo
Năng lực công nghệ phản ánh khả năng doanh nghiệp tiếp cận, ứng dụng và khai thác công nghệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong bối cảnh chuyển đổi số, công nghệ thông tin, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử và tự động hóa đang tạo ra nhiều cơ hội đổi mới cho doanh nghiệp. Liu và cộng sự cho rằng chuyển đổi số có thể nâng cao năng lực đổi mới của doanh nghiệp thông qua việc thúc đẩy văn hóa hợp tác và văn hóa đổi mới (Liu và cộng sự, 2025). Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, OECD cũng nhấn mạnh rằng số hóa có thể mở ra cơ hội cải thiện hiệu quả, mở rộng thị trường và tăng khả năng tiếp cận nguồn lực, dù doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với các rào cản về tài chính, kỹ năng và công nghệ (OECD, 2021).
Văn hóa tổ chức và đổi mới sáng tạo
Văn hóa tổ chức là nền tảng tạo ra môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo. Một tổ chức có văn hóa cởi mở, khuyến khích học hỏi, chia sẻ tri thức, chấp nhận thử nghiệm và ghi nhận ý tưởng mới sẽ thúc đẩy nhân viên tham gia vào quá trình đổi mới. Zhang và cộng sự cho thấy các yếu tố văn hóa tổ chức như an toàn tâm lý, tính tập thể và khoảng cách quyền lực có thể ảnh hưởng đến hiệu quả đổi mới thông qua bối cảnh xã hội và bối cảnh quản trị hiệu quả công việc (Zhang và cộng sự, 2023). Bên cạnh đó, Amamou chỉ ra rằng văn hóa doanh nghiệp định hướng đổi mới, bao gồm tin cậy, giữ chân nhân tài, chương trình học tập, cơ chế khen thưởng và tinh thần làm việc nhóm, có tác động tích cực đến sự thành công của doanh nghiệp số (Amamou, 2025).
Năng lực tài chính và đổi mới sáng tạo
Năng lực tài chính là điều kiện hỗ trợ quan trọng cho hoạt động đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp cần nguồn lực tài chính để đầu tư cho công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực, thử nghiệm sản phẩm mới và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hạn chế về tài chính thường là một trong những rào cản lớn trong quá trình số hóa và đổi mới (OECD, 2021). Vì vậy, doanh nghiệp có năng lực tài chính tốt thường có nhiều điều kiện hơn để triển khai các dự án đổi mới ở quy mô lớn và dài hạn
Liên kết bên ngoài và đổi mới sáng tạo
Liên kết bên ngoài thể hiện mức độ hợp tác của doanh nghiệp với khách hàng, nhà cung cấp, trường đại học, viện nghiên cứu, hiệp hội ngành nghề, cơ quan quản lý và đối tác công nghệ. Thông qua liên kết bên ngoài, doanh nghiệp có thể tiếp cận tri thức mới, công nghệ mới, thông tin thị trường và các nguồn lực hỗ trợ đổi mới. Lokuge và Duan cho rằng quá trình chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố hỗ trợ bên trong và bên ngoài, trong đó hệ sinh thái, mạng lưới hợp tác và khả năng học hỏi từ bên ngoài giữ vai trò quan trọng (Lokuge & Duan, 2021). Điều này cho thấy doanh nghiệp không thể đổi mới hiệu quả nếu chỉ dựa vào nguồn lực nội bộ mà cần tăng cường kết nối với các chủ thể trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo
GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Giả thuyết nghiên cứu
Dựa trên lập luận lý thuyết và các nghiên cứu trước, nghiên cứu đề xuất các giả thuyết như sau:
H1: Năng lực lãnh đạo có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.
H2: Nguồn nhân lực có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.
H3: Năng lực công nghệ có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.
H4: Văn hóa tổ chức có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.
H5: Năng lực tài chính có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.
H6: Liên kết bên ngoài có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.
Mô hình nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý thuyết, mô hình nghiên cứu được đề xuất với sáu biến độc lập là năng lực lãnh đạo, nguồn nhân lực, năng lực công nghệ, văn hóa tổ chức, năng lực tài chính, liên kết bên ngoài và một biến phụ thuộc là đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.
Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng nhằm đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh. Phương pháp định lượng phù hợp với mục tiêu kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết đã đề xuất. Dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát bằng bảng hỏi cấu trúc với 218 quan sát hợp lệ. Các biến nghiên cứu được đo lường bằng thang Likert 5 điểm. Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS thông qua các bước kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo
Độ tin cậy của các thang đo trong mô hình được kiểm định thông qua hệ số Cronbach’s Alpha nhằm đánh giá mức độ nhất quán nội tại giữa các biến quan sát. Kết quả phân tích cho thấy tất cả các thang đo đều đạt yêu cầu về độ tin cậy với hệ số Cronbach’s Alpha > 0.7, đồng thời hệ số tương quan biến tổng của các biến quan sát đều > 0.3, không có biến nào bị loại khỏi mô hình (Bảng 1).
Bảng 1: Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha
| Nhân tố | Hệ số Cronbach’s Alpha | Chỉ tiêu | Số biến quan sát của từng nhân tố | |||
| 1 | 2 | 3 | 4 | |||
| Năng lực lãnh đạo (LD) | 0.812 | Cronbach’s Alpha loại biến đang xem xét | 0.774 | 0.756 | 0.773 | 0.753 |
| Hệ số tương quan biến tổng | 0.609 | 0.648 | 0.610 | 0.55 | ||
| Nguồn nhân lực (NL) | 0.758 | Cronbach’s Alpha loại biến đang xem xét | 0.722 | 0.715 | 0.676 | 0.688 |
| Hệ số tương quan biến tổng | 0.516 | 0.528 | 0.599 | 0.578 | ||
| Năng lực công nghệ (CN) | 0.859 | Cronbach’s Alpha loại biến đang xem xét | 0.826 | 0.811 | 0.821 | 0.823 |
| Hệ số tương quan biến tổng | 0.692 | 0.728 | 0.702 | 0.697 | ||
| Văn hóa tổ chức (VH) | 0.869 | Cronbach’s Alpha loại biến đang xem xét | 0.836 | 0.816 | 0.848 | 0.831 |
| Hệ số tương quan biến tổng | 0.714 | 0.765 | 0.681 | 0.725 | ||
| Năng lực tài chính (TC) | 0.816 | Cronbach’s Alpha loại biến đang xem xét | 0.769 | 0.751 | 0. 779 | 0.774 |
| Hệ số tương quan biến tổng | 0.633 | 0.671 | 0.623 | 0.626 | ||
| Liên kết bên ngoài (LK) | 0.722 | Cronbach’s Alpha loại biến đang xem xét | 0.820 | 0.811 | 0.837 | 0.819 |
| Hệ số tương quan biến tổng | 0.710 | 0.731 | 0.672 | 0.718 | ||
| Đổi mới sáng tạo (DMST) | 0.722 | Cronbach’s Alpha loại biến đang xem xét | 0.721 | 0.711 | 0.708 | 0.703 |
| Hệ số tương quan biến tổng | 0.692 | 0.628 | 0.602 | 0.607 | ||
Nguồn: Phân tích dữ liệu của nhóm tác giả
Phân tích nhân tố khám phá (EFA) biến độc lập
Phân tích nhân tố khám phá EFA được thực hiện đối với các biến độc lập. Kết quả cho thấy hệ số KMO đạt 0.764, lớn hơn 0.5; kiểm định Bartlett có giá trị Sig. = 0.000, nhỏ hơn 0.05. Điều này cho thấy dữ liệu phù hợp để tiến hành phân tích nhân tố khám phá. Kết quả EFA trích được 6 nhân tố với tổng phương sai trích đạt 67.262%, lớn hơn 50%. Các hệ số tải nhân tố đều > 0.5, cho thấy các biến quan sát có giá trị hội tụ tốt và phù hợp với các nhân tố trong mô hình nghiên cứu.
Bảng 2: Kết quả phân tích EFA của biến độc lập
|
| Nhân tố | ||||||
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | ||
| LD2 | .872 |
|
|
|
|
| |
| LD4 | .846 |
|
|
|
|
| |
| LD1 | .840 |
|
|
|
|
| |
| LD3 | .817 |
|
|
|
|
| |
| NL2 |
| .855 |
|
|
|
| |
| NL4 |
| .842 |
|
|
|
| |
| NL1 |
| .834 |
|
|
|
| |
| NL3 |
| .817 |
|
|
|
| |
| CN4 |
|
| .841 |
|
|
| |
| CN2 |
|
| .835 |
|
|
| |
| CN3 |
|
| .826 |
|
|
| |
| CN1 |
|
| .821 |
|
|
| |
| VH4 |
|
|
| .814 |
|
| |
| VH2 |
|
|
| .808 |
|
| |
| VH3 |
|
|
| .772 |
|
| |
| VH1 |
|
|
| .770 |
|
| |
| TC3 |
|
|
|
| .816 |
| |
| TC2 |
|
|
|
| .783 |
| |
| TC4 |
|
|
|
| .756 |
| |
| TC1 |
|
|
|
| .747 |
| |
| LK3 |
|
|
|
|
| .779 | |
| LK4 |
|
|
|
|
| .760 | |
| LK1 |
|
|
|
|
| .726 | |
| LK2 |
|
|
|
|
| .679 | |
| Phương sai trích % | 67.262 | ||||||
| Hệ số KMO | .764 | ||||||
| Kiểm định Bartlett | .000 | ||||||
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm tác giả
Đối với biến phụ thuộc đổi mới sáng tạo, kết quả phân tích EFA cho thấy hệ số KMO đạt 0.824; kiểm định Bartlett có Sig. = 0.000; tổng phương sai trích đạt 70.294%. Các biến quan sát của thang đo đổi mới sáng tạo đều có hệ số tải nhân tố > 0.5. Như vậy, thang đo biến phụ thuộc đạt yêu cầu về giá trị hội tụ.
Bảng 3: Kết quả phân tích EFA của biến phụ thuộc
|
| Nhân tố |
| 1 | |
| DMST2 | .854 |
| DMST3 | .836 |
| DMST4 | .834 |
| DMST1 | .829 |
| Phương sai trích % | 70.294 |
| Hệ số KMO | .824 |
| Kiểm định Bartlett | .000 |
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm tác giả
Phân tích mô hình hồi quy
Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến được thực hiện nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy mô hình hồi quy có hệ số R² hiệu chỉnh đạt 0.712, nghĩa là các biến độc lập trong mô hình giải thích được 71.2% sự biến thiên của đổi mới sáng tạo doanh nghiệp
Phương trình hồi quy đã chuẩn hóa:
DMST = 0.280 *CN + 0.276*LD + 0.228*VH + 0.199 *NL + 0.176*LK + 0.126*TC
Bảng 4: Kết quả phân tích hồi quy bội
| Model | Unstandardized Coefficients | Standardized Coefficients | t | Sig. | Collinearity Statistics | |||
| B | Std. Error | Beta | Tolerance | VIF | ||||
| 1 | (Constant) | -.025 | .198 |
| -.128 | .898 |
|
|
| CN | .237 | .034 | .280 | 6.934 | .000 | .844 | 1.185 | |
| LD | .213 | .037 | .276 | 5.784 | .000 | .606 | 1.651 | |
| VH | .198 | .038 | .228 | 5.217 | .000 | .723 | 1.384 | |
| NL | .158 | .035 | .199 | 4.520 | .000 | .709 | 1.411 | |
| LK | .145 | .034 | .176 | 4.213 | .000 | .793 | 1.262 | |
| TC | .121 | .042 | .126 | 2.896 | .004 | .731 | 1.368 | |
| R2 hiệu chỉnh 71.2% Durbin Watson: 1.928 Sig.: 0.000 F=92.684 | ||||||||
| a. Dependent Variable: DMST | ||||||||
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm tác giả
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy năng lực công nghệ là yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Liu và cộng sự, khi các tác giả cho rằng chuyển đổi số có thể nâng cao năng lực đổi mới của doanh nghiệp thông qua văn hóa hợp tác và văn hóa đổi mới (Liu và cộng sự, 2025). Đồng thời, phát hiện này cũng phù hợp với OECD, theo đó số hóa có thể tạo cơ hội cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cải thiện hiệu quả hoạt động, mở rộng thị trường và tăng khả năng tiếp cận nguồn lực (OECD, 2021).
Năng lực lãnh đạo là yếu tố có mức độ ảnh hưởng lớn thứ hai đến đổi mới sáng tạo. Kết quả này phù hợp với Woo, khi nghiên cứu cho thấy lãnh đạo chiến lược có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tinh thần doanh nhân trong tổ chức và hành vi khởi nghiệp nội bộ của nhân viên (Woo, 2025). Điều này cho thấy đổi mới sáng tạo không chỉ phụ thuộc vào công nghệ mà còn phụ thuộc vào tầm nhìn, định hướng và khả năng tạo động lực của nhà lãnh đạo.
Văn hóa tổ chức cũng có tác động tích cực đến đổi mới sáng tạo. Kết quả này tương đồng với Zhang và cộng sự, khi các tác giả cho rằng văn hóa tổ chức ảnh hưởng đến hiệu quả đổi mới thông qua bối cảnh xã hội và bối cảnh quản trị hiệu quả công việc (Zhang và cộng sự, 2023). Ngoài ra, Amamou cũng cho thấy các yếu tố văn hóa định hướng đổi mới như tin cậy, giữ chân nhân tài, chương trình học tập, cơ chế khen thưởng và làm việc nhóm có tác động tích cực đến thành công của doanh nghiệp số (Amamou, 2025).
Nguồn nhân lực có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo, phù hợp với nghiên cứu của Wongsansukcharoen và Thaweepaiboonwong. Các tác giả cho rằng đổi mới trong thực hành quản trị nguồn nhân lực có thể hỗ trợ năng lực đổi mới, lợi thế cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa (Wongsansukcharoen & Thaweepaiboonwong, 2023). Điều này cho thấy doanh nghiệp cần chú trọng đào tạo, phát triển kỹ năng số, tư duy phản biện và năng lực thích ứng của người lao động.
Liên kết bên ngoài có tác động tích cực đến đổi mới sáng tạo. Kết quả này phù hợp với Lokuge và Duan, khi các tác giả nhấn mạnh vai trò của các yếu tố hỗ trợ bên trong và bên ngoài trong quá trình chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa (Lokuge & Duan, 2021). Đối với doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh, việc liên kết với khách hàng, nhà cung cấp, trường đại học, viện nghiên cứu, hiệp hội doanh nghiệp và tổ chức hỗ trợ đổi mới sáng tạo có thể giúp doanh nghiệp tiếp cận tri thức, công nghệ và cơ hội thị trường mới.
Năng lực tài chính có tác động tích cực nhưng là yếu tố có mức ảnh hưởng thấp nhất trong mô hình. Kết quả này có thể được lý giải bởi tài chính là điều kiện cần nhưng chưa đủ để hình thành năng lực đổi mới sáng tạo. Theo OECD, doanh nghiệp nhỏ và vừa thường gặp nhiều rào cản trong quá trình số hóa, trong đó có hạn chế về tài chính, kỹ năng và khả năng tiếp cận công nghệ (OECD, 2021). Do đó, nguồn lực tài chính cần được kết hợp với chiến lược công nghệ, năng lực lãnh đạo, văn hóa đổi mới và phát triển nguồn nhân lực.
HÀM Ý QUẢN TRỊ
Từ kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh.
Thứ nhất, doanh nghiệp cần ưu tiên nâng cao năng lực công nghệ. Việc ứng dụng các công cụ số, phần mềm quản trị, phân tích dữ liệu, thương mại điện tử, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo cần được triển khai phù hợp với quy mô và đặc điểm hoạt động của từng doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần xem công nghệ là nền tảng quan trọng để cải tiến sản phẩm, quy trình và mô hình kinh doanh.
Thứ hai, lãnh đạo doanh nghiệp cần thể hiện rõ vai trò định hướng đổi mới sáng tạo. Nhà quản trị cần xây dựng chiến lược đổi mới, phân bổ nguồn lực phù hợp, khuyến khích nhân viên đề xuất sáng kiến và tạo cơ chế ghi nhận đối với các ý tưởng có giá trị. Bên cạnh đó, lãnh đạo cần tạo điều kiện để nhân viên tham gia vào quá trình ra quyết định và triển khai các hoạt động cải tiến.
Thứ ba, doanh nghiệp cần xây dựng văn hóa tổ chức hỗ trợ đổi mới. Cần tạo môi trường làm việc cởi mở, khuyến khích học hỏi, chia sẻ tri thức, thử nghiệm ý tưởng mới và chấp nhận những sai sót hợp lý trong quá trình đổi mới. Văn hóa đổi mới cần được thể hiện trong cách thức quản trị, đánh giá hiệu quả công việc và khen thưởng nhân viên.
Thứ tư, doanh nghiệp cần phát triển nguồn nhân lực có năng lực sáng tạo và kỹ năng số. Các chương trình đào tạo nên tập trung vào kỹ năng công nghệ, tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, quản trị đổi mới và khả năng thích ứng với thay đổi. Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cần được thực hiện thường xuyên, gắn với chiến lược phát triển dài hạn của doanh nghiệp.
Thứ năm, doanh nghiệp cần tăng cường hợp tác với các chủ thể trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo như trường đại học, viện nghiên cứu, khách hàng, nhà cung cấp, hiệp hội doanh nghiệp và các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp. Thông qua liên kết, doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn tri thức, công nghệ và cơ hội thị trường mới.
Thứ sáu, doanh nghiệp cần chủ động bố trí nguồn lực tài chính cho đổi mới sáng tạo. Ngoài vốn tự có, doanh nghiệp có thể tìm kiếm nguồn tài trợ, quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo, chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc hợp tác đầu tư với các đối tác công nghệ. Việc phân bổ ngân sách cho đổi mới sáng tạo cần được xem là khoản đầu tư chiến lược, không chỉ là chi phí ngắn hạn.
Tài liệu tham khảo:
1. Amamou, M. (2025). The effect of an innovation-driven corporate culture on firm success: A new survey of Saudi digital firms. Future Business Journal, 11.
2. Liu, T., Leng, J., Zhu, S., & Fu, R. (2025). Digital transformation and enterprise innovation capability: From the perspectives of enterprise cooperative culture and innovative culture. Journal of Theoretical and Applied Electronic Commerce Research, 20(2).
3. Lokuge, S., & Duan, S. X. (2021). Towards understanding enablers of digital transformation in small and medium-sized enterprises. In ACIS 2021 proceedings.
4. OECD. (2021). The digital transformation of SMEs.
5. OECD. (2025). OECD science, technology and innovation outlook 2025: Driving change in a shifting landscape. OECD Publishing.
6. Wongsansukcharoen, J., & Thaweepaiboonwong, J. (2023). Effect of innovations in human resource practices, innovation capabilities, and competitive advantage on small and medium enterprises’ performance in Thailand. European Research on Management and Business Economics, 29(1).
7. Woo, H. R. (2025). Strategic leadership in SMEs: The mediating roles of corporate entrepreneurship and intrapreneurship in organizational performance. Administrative Sciences, 15(4).
8. World Intellectual Property Organization. (2025). Global innovation index 2025: Innovation at a crossroads.
9. Zhang, W., Zeng, X., Liang, H., Xue, Y., & Cao, X. (2023). Understanding how organizational culture affects innovation performance: A management context perspective. Sustainability, 15(8).
| Ngày nhận bài: 25/5/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 5/7/2026; Ngày nhận: 8/7/2026 |
Các tin khác
Đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên tại doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
Phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn
Nghiên cứu so sánh chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Trung Quốc, Hàn Quốc và gợi ý cho Việt Nam
Đa dạng hóa thị trường và đối tác kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn
Cá nhân hoá hành trình khách hàng dựa trên AI tác động đến lòng trung thành thương hiệu - Vai trò trung gian của niềm tin thương hiệu
Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng áp dụng kế toán tinh gọn tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh
Giải pháp nâng cao sự hài lòng của cư dân về dịch vụ quản lý vận hành tại các chung cư trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh
Chuyển đổi số trong kế toán và những tác động đến chất lượng thông tin kế toán tại doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết ở Việt Nam
