Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ tại tỉnh Vĩnh Long

Nghiên cứu - Trao đổi 08:21 | 19/10/2026
Thu nhập của nông hộ là chỉ tiêu kinh tế cốt lõi phản ánh năng lực bảo đảm đời sống, mức độ tích lũy tài chính và khả năng tái đầu tư mở rộng sản xuất của gia đình ở khu vực nông thôn. Khác với khu vực đô thị nơi thu nhập chủ yếu đến từ tiền lương cố định, sinh kế của nông hộ tại Đồng bằng sông Cửu Long mang tính chất hỗn hợp và đa dạng, gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất nông nghiệp (trồng lúa, cây ăn trái, chăn nuôi, thủy sản) với các hoạt động phi nông nghiệp và làm thuê (Đào Thế Tuấn, 1995). Trong tiến trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, thu nhập của hộ phản ánh hiệu quả của việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực sinh kế hữu hình và vô hình.

ThS. Võ Xuân Hòa

Viện Phát triển Nguồn lực (Đại học Trà Vinh), Email: [email protected]

PGS.TS. Nguyễn Hồng Hà (Tác giả liên hệ)

Trường Kinh tế, Luật (Đại học Trà Vinh), Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến thu nhập của nông hộ tại tỉnh Vĩnh Long. Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ khảo sát trực tiếp 329 nông hộ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. Sử dụng phương pháp kiểm định kinh tế lượng và mô hình hồi quy tuyến tính đa biến (OLS), kết quả thực nghiệm cho thấy 8 nhân tố có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến thu nhập nông hộ (R² hiệu chỉnh = 0,517), bao gồm: tuổi chủ hộ, lượng vốn vay, khoảng cách đến trung tâm chợ, số lao động, diện tích đất sản xuất, trình độ học vấn, dân tộc và vị trí xã hội; riêng biến giới tính không có ý nghĩa thống kê. Từ kết quả nghiên cứu, các hàm ý chính sách tài chính - kinh tế trọng tâm được đề xuất nhằm hoàn thiện kênh dẫn vốn tín dụng, thúc đẩy tích tụ đất đai, phát triển nguồn nhân lực và nâng cấp hạ tầng logistics nông sản, góp phần nâng cao sinh kế bền vững cho người dân tại tỉnh Vĩnh Long.

Từ khóa: Nông hộ, thu nhập, đất đai, vốn vay, giải pháp, tỉnh Vĩnh Long

Abstract

This study identifies and measures the factors influencing household income among agricultural households in Vinh Long Province. Primary data were collected through face-to-face surveys of 329 agricultural households in the province. Using econometric testing and an ordinary least squares (OLS) multiple linear regression model, the empirical results show that eight factors have statistically significant effects on household income (adjusted R² = 0.517): household head's age, loan amount, distance to the market center, number of workers, agricultural land area, educational attainment, ethnicity, and social status. Gender is not statistically significant. Based on these findings, the study proposes key financial and economic policy implications to improve credit access and capital flows, promote land consolidation, develop human resources, and upgrade agricultural logistics infrastructure, thereby contributing to sustainable livelihoods for residents of Vinh Long Province.

Keywords: Agricultural households, income, land, loans, solutions, Vinh Long Province

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đối với tỉnh Vĩnh Long - một địa bàn trọng điểm sản xuất nông nghiệp của vùng ĐBSCL với mạng lưới sông rạch chằng chịt, vấn đề nâng cao thu nhập cho nông hộ đang đứng trước nhiều thách thức lớn. Tình hình biến đổi khí hậu, hạn mặn gia tăng, biến động giá cả vật tư đầu vào và sản phẩm đầu ra đã tác động trực tiếp đến tính ổn định của nguồn thu nhập nông hộ (Lê Xuân Thái, 2014; Lưu Văn Xưa, 2018). Sự phân hóa về khả năng tiếp cận đất đai, nguồn vốn tín dụng, học vấn và mạng lưới thị trường đã tạo ra khoảng cách thu nhập đáng kể giữa các nhóm hộ nông dân.

Các nghiên cứu quốc tế (Shrestha & Eiumnoh, 2000; Abdulai & CroleRees, 2001; Klasen và cộng sự, 2013) cũng như các nghiên cứu trong nước (Nguyễn Lan Duyên, 2014; Nguyễn Quốc Nghi & Bùi Văn Trịnh, 2011; Phan Đình Khôi & Lê Hồng Nga, 2016) đã khẳng định rằng thu nhập nông hộ chịu ảnh hưởng đa chiều bởi nguồn lực vật chất, vốn con người, đặc điểm xã hội và điều kiện thị trường. Tuy nhiên, sự tác động của từng nhân tố có tính đặc thù địa phương như: tôn giáo, điều kiện xã hội, tham gia đoàn thể… Nghiên cứu này được thực hiện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long nhằm xác định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến thu nhập nông hộ, từ đó đề xuất các hàm ý chính sách tài chính - kinh tế phù hợp với thực tiễn địa phương.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Thu nhập nông hộ

Nông hộ là đơn vị kinh tế cơ sở đặc thù, trong đó hoạt động sản xuất và tiêu dùng có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ. Theo Khung phân tích Sinh kế Bền vững (DFID, 1999), thu nhập nông hộ là kết quả của việc huy động và kết hợp 5 nhóm vốn sinh kế: vốn tự nhiên (đất đai), vốn tài chính (vốn vay, tích lũy), vốn con người (học vấn, lao động), vốn vật thể (khoảng cách giao thông, hạ tầng) và vốn xã hội (vị trí xã hội, mạng lưới liên kết). Lương Kim Ngân (2015) và Nguyễn Hữu Phục (2017) nhấn mạnh rằng thu nhập ròng của nông hộ là giá trị còn lại sau khi trừ đi toàn bộ chi phí trung gian, chi phí thuê ngoài và chi phí tài chính.

Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ

Diện tích đất sản xuất: Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế trong nông nghiệp. Quy mô diện tích đất lớn tạo điều kiện cho hộ mở rộng quy mô gieo trồng, áp dụng cơ giới hóa và đa dạng hóa cây trồng (Trương Hồng Võ Tuấn Kiệt & Hứa Tấn Tài, 2013; Lê Xuân Thái, 2014; Manjunatha và cộng sự, 2013). Theo đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H1: Nông hộ có diện tích đất sản xuất càng lớn sẽ tác động tích cực đến thu nhập.

Lượng vốn vay: Vốn tín dụng giúp nông hộ khắc phục tình trạng thiếu hụt tài chính đầu vụ, mua sắm máy móc, phân bón, giống chất lượng cao và đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp (Lê Đình Hải, 2017; Phạm Lê Thông & Phạm Trần Ngọc Hương, 2015). Theo đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H2: Nông hộ có lượng vốn vay tín dụng càng nhiều sẽ làm cho thu nhập tăng lên.

Trình độ học vấn: Học vấn là chỉ báo quan trọng đại diện cho vốn con người. Chủ hộ có trình độ học vấn cao hơn có khả năng tiếp thu tiến bộ kỹ thuật, tính toán hiệu quả chi phí và nhạy bén với thông tin thị trường (Pitt & Sumodiningrat, 1991; Adebayo và cộng sự, 2012; Nguyễn Quốc Nghi & Bùi Văn Trịnh, 2011). Theo đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H3: Nông hộ có trình độ học vấn cao sẽ có thu nhập từ nông nghiệp tốt hơn.

Tuổi chủ hộ: Tuổi tác đại diện cho kinh nghiệm sản xuất phong phú, sự am hiểu sâu sắc về điều kiện thời tiết, thổ nhưỡng và sự tích lũy quan hệ lâu năm với mạng lưới thương lái tại địa phương (Bernard và cộng sự, 2014; Võ Thành Khởi, 2015; Nguyễn Hữu Phục, 2017). Theo đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H4: Tuổi chủ hộ càng cao sẽ tác động tích cực đến thu nhập.

Khoảng cách đến trung tâm chợ: Tại địa bàn vùng sông nước tỉnh Vĩnh Long, các hộ ở xa trung tâm chợ thường sở hữu diện tích đất sản xuất tập trung quy mô lớn, tạo sản phẩm hàng hóa khối lượng lớn và kết nối thuận lợi với hệ thống giao thông đường thủy (ghe, sà lan) giúp thương lái thu mua tận vườn, tiết kiệm đáng kể chi phí vận chuyển so với việc tự bán lẻ (Abdulai & CroleRees, 2001; Nguyễn Lan Duyên, 2014). Theo đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H5: Khoảng cách đến trung tâm chợ có ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ.

Số lao động: Số lượng thành viên trong độ tuổi lao động đóng vai trò cung ứng sức lao động trực tiếp cho hộ, giúp giảm chi phí thuê lao động ngoài và đa dạng hóa hoạt động sinh kế (Chu Thị Kim Loan & Nguyễn Văn Hướng, 2015; Nguyễn Hoàng Thoại, 2018). Theo đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H6: Nông hộ có số lao động càng nhiều sẽ có ảnh hưởng tích cực đến thu nhập.

Vị trí xã hội: Việc thành viên trong hộ đảm nhận vị trí quản lý tại các tổ chức chính quyền, đoàn thể tạo lợi thế trong việc tiếp cận thông tin chính sách, nguồn vốn vay ưu đãi và mở rộng mạng lưới kinh doanh (Nguyễn Thùy Trang, 2017; Phan Đình Khôi & Lê Hồng Nga, 2016). Theo đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H7: Nông hộ có vị trí xã hội sẽ có tác động tích cực đến thu nhập của nông hộ.

Dân tộc chủ hộ: Dân tộc phản ánh lợi thế về vị trí địa lý cư trú và khả năng tiếp cận các nguồn lực kinh tế - xã hội. Hộ người Kinh có vị trí cư trú ven sông rạch thuận lợi tưới tiêu và giao thương tốt hơn so với hộ nhóm dân tộc khác (Nguyễn Thị Ngọc Diệu, 2015). Theo đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H8: Nông hộ dân tộc kinh có thu nhập cao hơn dân tộc khác.

Giới tính chủ hộ: Giới tính chủ hộ phản ánh sự khác biệt về sức lao động thể lực và khả năng tiếp cận các cơ hội sản xuất kinh doanh. Hộ do nữ làm chủ thường gặp nhiều rào cản hơn về sức lao động và gánh nặng công việc gia đình. Nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H9: Giới tính chủ hộ là nam có tác động tích cực đến thu nhập.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Quy mô mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện có phân tầng theo địa bàn. Quy mô mẫu nghiên cứu đạt N = 329 nông hộ sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Long. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp chủ hộ bằng bảng câu hỏi cấu trúc hóa đã qua kiểm định sơ bộ. Bảng câu hỏi thu thập chi tiết các thông tin về nguồn lực đất đai, vốn vay, nhân khẩu, học vấn, vị trí xã hội và các khoản thu nhập ròng trong năm 2025.

Mô hình hồi quy đa biến và định nghĩa biến

Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến (OLS) được sử dụng để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ, mô hình tổng quát được xác định như sau:

Y​= β₀​+ β₁X1​+ β₂​X2​+ β₃​X3​+ β₄​X4​+ β₅​X5​+ β₆​X6​+ β₇X7​+ β₈​X8​+ β₉​X9​+ε​

Trong đó Y: là biến phụ thuộc; X1, X2,…là các biến độc lập.

Cụ thể:

THUNHAP = β₀ + β₁DIENTICHDAT + β₂LUONGVONVAY+ β₃HOCVAN + β₄TUOI + β₅KHOANGCACH + β₆SOLAODONG + β₇VITRIXAHOI + β₈DANTOC + β₉GIOITINH + ε

Bảng 1: Bảng tổng hợp các biến trong mô hình nghiên cứu

Mã biến

Tên biến

Ký hiệu

Đơn vị đo lường

Kỳ vọng

Nghiên cứu kế thừa

Y

Thu nhập nông hộ

THUNHAP

Triệu đồng/hộ/năm

-

DFID (1999), Lương Kim Ngân (2015), Nguyễn Hữu Phục (2017)

X1

Diện tích đất sản xuất

DIENTICHDAT

m²

+

Trương Hồng Võ Tuấn Kiệt & Hứa Tấn Tài (2013), Lê Xuân Thái (2014), Manjunatha và cộng sự (2013)

X2

Lượng vốn vay

LUONGVONVAY

Triệu đồng

+

Lê Đình Hải (2017), Phạm Lê Thông & Phạm Trần Ngọc Hương (2015)

X3

Trình độ học vấn

HOCVAN

Số năm đi học

+

Pitt & Sumodiningrat (1991), Adebayo và cộng sự (2012), Nguyễn Quốc Nghi & Bùi Văn Trịnh (2011)

X4

Tuổi chủ hộ

TUOI

Năm

+

Bernard và cộng sự (2014), Võ Thành Khởi (2015), Nguyễn Hữu Phục (2017)

X5

Khoảng cách đến chợ

KHOANGCACH

Km

+/-

Abdulai & CroleRees (2001), Nguyễn Lan Duyên (2014)

X6

Số lao động

SOLAODONG

Số người trong độ tuổi lao động

+

Chu Thị Kim Loan & Nguyễn Văn Hướng (2015), Nguyễn Hoàng Thoại (2018)

X7

Vị trí xã hội

VITRIXAHOI

Có giữ chức vụ quản lý = 1; Không = 0

+

Nguyễn Thùy Trang (2017), Phan Đình Khôi & Lê Hồng Nga (2016)

X8

Dân tộc chủ hộ

DANTOC

Kinh = 1; Khác = 0

+

Nguyễn Thị Ngọc Diệu (2015), Nguyễn Quốc Nghi & Bùi Văn Trịnh (2011)

X9

Giới tính chủ hộ

GIOITINH

Nam = 0; Nữ = 1

-

Nguyễn Thị Ngọc Diệu (2015)

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp

Các biến độc lập được lựa chọn dựa trên sự tích hợp chặt chẽ giữa Khung phân tích Sinh kế Bền vững (DFID, 1999) và các nghiên cứu thực nghiệm tiêu biểu tại Đồng bằng sông Cửu Long cũng như quốc tế. Hệ thống biến này đại diện đầy đủ cho 5 nhóm vốn sinh kế cốt lõi: Vốn tự nhiên (DIENTICHDAT), Vốn tài chính (LUONGVONVAY), Vốn con người (HOCVAN, SOLAODONG), Vốn vật thể & Thị trường (KHOANGCACH), Vốn xã hội (VITRIXAHOI), và các Đặc điểm nhân khẩu - xã hội (TUOI, GIOITINH, DANTOC). Tất cả 9 biến giải thích đều được xác định rõ chiều tác động kỳ vọng đơn chiều (+) hoặc (-) phù hợp với lập luận kinh tế và đặc thù sinh kế nông hộ tại tỉnh Vĩnh Long. Hầu hết các nguồn lực sinh kế đều được kỳ vọng mang dấu dương (+), đóng vai trò là động lực thúc đẩy gia tăng thu nhập hộ. Đặc biệt, biến KHOANGCACH được kỳ vọng mang dấu dương (+) phản ánh nét đặc thù của vùng sông nước Vĩnh Long: các hộ ở xa trung tâm chợ thường có diện tích đất canh tác lớn, sản xuất hàng hóa tập trung và vận chuyển nông sản trực tiếp bằng đường thủy (ghe, sà lan…) giúp tối ưu hóa chi phí vận chuyển.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Đặc điểm mẫu khảo sát và sinh kế nông hộ

Kết quả phân tích thống kê mô tả từ N = 329 nông hộ tại tỉnh Vĩnh Long cho thấy: Tuổi trung bình của chủ hộ là 48,24 tuổi (dao động từ 32 đến 61 tuổi). Nam chủ hộ chiếm tỷ lệ 76,7%, nữ chủ hộ chiếm 23,3%. Chủ hộ dân tộc Kinh chiếm 59,3%, các dân tộc khác (chủ yếu là Khmer) chiếm 40,7%. Trình độ học vấn trung bình của chủ hộ đạt 7,40 năm đi học (tương đương cấp THCS).

Số lao động bình quân của hộ đạt 3,43 người. Diện tích đất canh tác bình quân đạt 8.403,94 m²/hộ. Khoảng cách trung bình từ nhà đến trung tâm chợ là 4,09 km. Có 70,67% số hộ tham gia vay vốn tín dụng với lượng vốn vay bình quân đạt 44,22 triệu đồng/hộ vay (trong đó tín dụng chính thức từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách Xã hội chiếm ưu thế). Mức thu nhập bình quân của nông hộ đạt 151,89 triệu đồng/hộ/năm (thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 42,19 triệu đồng/người/năm). Sinh kế của nông hộ rất đa dạng khi có 57,3% số hộ kết hợp từ 3 nguồn thu nhập trở lên.

Kết quả kiểm định mô hình hồi quy OLS

Kết quả ước lượng mô hình hồi quy đa biến OLS được trình bày chi tiết trong Bảng 2. Các kiểm định kỹ thuật kinh tế lượng cho thấy mô hình đạt độ tin cậy và chất lượng cao:

Mức độ giải thích: Hệ số xác định R² = 0,546 và R² hiệu chỉnh = 0,517. Các biến độc lập giải thích được 51,7% sự biến thiên của thu nhập nông hộ sau khi điều chỉnh số biến.

Kiểm định độ phù hợp tổng thể: Kiểm định F đạt giá trị F = 18,725 với mức ý nghĩa Sig. F < 0,001, khẳng định mô hình có ý nghĩa thống kê tổng thể ở mức tin cậy 99%.

Kiểm định đa cộng tuyến: Tất cả các hệ số phóng đại phương sai (VIF) đều nằm trong khoảng từ 1,058 đến 1,374 (nhỏ hơn rất nhiều so với ngưỡng 2,0), chứng tỏ không có hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập.

Kiểm định tự tương quan: Giá trị Durbin-Watson = 2,171 nằm trong phạm vi chuẩn (1,5 - 2,5), cho thấy không có hiện tượng tự tương quan chuỗi.

Bảng 2: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến (OLS)

STT

Biến độc lập

Hệ số B

Sai số SE

Beta

chuẩn hóa

Giá trị t

Mức Sig.

Hệ số VIF

1

Hằng số (Constant)

-96,010

30,561

-

-3,142

0,002

-

2

Tuổi chủ hộ (TUOI)

2,561***

0,613

0,265

4,179

<0,001

1,238

3

Lượng vốn vay (LUONGVONVAY)

0,250***

0,076

0,210

3,267

0,001

1,270

4

Khoảng cách đến chợ (KHOANGCACH)

5,578***

1,833

0,185

3,044

0,003

1,145

5

Số lao động (SOLAODONG)

11,850***

4,524

0,163

2,619

0,010

1,193

6

Diện tích đất (DIENTICHDAT)

0,001**

0,001

0,153

2,391

0,018

1,259

7

Học vấn chủ hộ (HOCVAN)

2,852**

1,234

0,150

2,310

0,022

1,300

8

Dân tộc chủ hộ (DANTOC)

20,230**

9,300

0,145

2,175

0,031

1,374

9

Vị trí xã hội (VITRIXAHOI)

22,808**

10,284

0,135

2,218

0,028

1,142

10

Giới tính chủ hộ (GIOITINH)

-1,958

9,479

-0,012

-0,207

0,837

1,058

Ghi chú: N = 329; R² = 0,546; R² hiệu chỉnh = 0,517; Kiểm định F = 18,725 (Sig. < 0,001); Durbin-Watson = 2,171. *** Mức ý nghĩa 1% (p < 0,01); ** Mức ý nghĩa 5% (p < 0,05).

Nguồn: Kết quả phân tích bằng phần mềm SPSS từ dữ liệu khảo sát

Thảo luận chi tiết kết quả nghiên cứu

8 trong số 9 biến độc lập có ý nghĩa thống kê ở mức 1% và 5%. Thứ tự mức độ tác động chuẩn hóa (Beta) giảm dần như sau: Tuổi chủ hộ (Beta = 0,265) > Lượng vốn vay (Beta = 0,210) > Khoảng cách (Beta = 0,185) > Số lao động (Beta = 0,163) > Diện tích đất (Beta = 0,153) > Học vấn (Beta = 0,150) > Dân tộc (Beta = 0,145) > Vị trí xã hội (Beta = 0,135).

Tuổi chủ hộ (B = 2,561; Sig. < 0,001): Trong điều kiện các biến độc lập khác không đổi, khi tuổi của chủ hộ tăng thêm 1 tuổi, thu nhập của nông hộ sẽ tăng thêm 2,561 triệu đồng/năm. Điều này phản ánh giá trị tích lũy kinh nghiệm canh tác, sự hiểu biết về thổ nhưỡng thời tiết và mạng lưới thương lái lâu năm của chủ hộ lớn tuổi tại ĐBSCL (Nguyễn Hữu Phục, 2017).

Lượng vốn vay (B = 0,250; Sig. = 0,001): Trong điều kiện các biến độc lập khác không đổi, khi lượng vốn vay tăng thêm 1 triệu đồng, thu nhập của nông hộ sẽ tăng thêm 0,250 triệu đồng/năm. Vốn vay đóng vai trò cực kỳ quan trọng giúp nông hộ mua phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, cây con giống chất lượng cao và chi trả dịch vụ cơ giới hóa đầu vụ, tránh việc bị đại lý vật tư nông nghiệp tính giá cao khi mua chịu (Lê Đình Hải, 2017).

Khoảng cách đến trung tâm chợ (B = 5,578; Sig. = 0,003): Trong điều kiện các biến độc lập khác không đổi, khi khoảng cách từ nông hộ đến chợ/trung tâm tăng thêm 1 km, thu nhập của nông hộ sẽ tăng thêm 5,578 triệu đồng/năm - một kết quả đặc thù của vùng sông nước Vĩnh Long. Các hộ ở xa trung tâm thường sở hữu diện tích đất lớn, sản xuất tập trung quy mô hàng hóa, sản phẩm được thương lái đến thu mua trực tiếp tại vườn/ruộng và vận chuyển bằng đường thuỷ giúp tiết kiệm chi phí vận chuyển.

Số lao động (B = 11,850; Sig. = 0,010): Trong điều kiện các biến độc lập khác không đổi, khi hộ gia đình có thêm 1 lao động trực tiếp trong độ tuổi lao động, thu nhập của nông hộ sẽ tăng thêm 11,850 triệu đồng/năm nhờ tận dụng lao động gia đình giảm chi phí thuê ngoài.

Diện tích đất sản xuất (B = 0,001; Sig. = 0,018): Trong điều kiện các biến độc lập khác không đổi, khi diện tích đất của hộ tăng thêm 1.000 m² (1 công đất), thu nhập của nông hộ sẽ tăng thêm 1,0 triệu đồng/năm. Đất đai rộng tạo tiền đề cho chuyển đổi cơ cấu cây trồng có giá trị cao (Lê Xuân Thái, 2014).

Trình độ học vấn (B = 2,852; Sig. = 0,022): Trong điều kiện các biến độc lập khác không đổi, khi trình độ học vấn của chủ hộ tăng thêm 1 năm đi học, thu nhập của nông hộ sẽ tăng thêm 2,852 triệu đồng/năm nhờ tiếp thu kỹ thuật mới và quản lý chi phí tốt hơn.

Dân tộc chủ hộ (B = 20,230; Sig. = 0,031): Trong điều kiện các biến độc lập khác không đổi, các nông hộ có chủ hộ là người Kinh có thu nhập bình quân cao hơn 20,230 triệu đồng/năm so với nhóm nông hộ thuộc các dân tộc khác do vị trí cư trú ven sông thuận lợi tưới tiêu và giao thương tốt hơn.

Vị trí xã hội (B = 22,808; Sig. = 0,028): Trong điều kiện các biến độc lập khác không đổi, nông hộ có thành viên giữ vị trí quản lý tại các tổ chức chính trị - xã hội hoặc đoàn thể địa phương có thu nhập cao hơn 22,808 triệu đồng/năm nhờ vốn xã hội và thông tin thị trường nhạy bén.

Giới tính chủ hộ (B = -1,958; Sig. = 0,837): Sự khác biệt về giới tính của chủ hộ không tạo ra sự chênh lệch có ý nghĩa thống kê đối với thu nhập của nông hộ.

HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Hoàn thiện kênh dẫn vốn tín dụng và đơn giản hóa thủ tục thế chấp

Kết quả nghiên cứu cho thấy vốn vay tác động tích cực đến thu nhập nông hộ (B = 0,250). Do đó, các cơ quan quản lý tài chính cần phối hợp với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank), Ngân hàng Chính sách xã hội… và chính quyền địa phương mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng cho các nông hộ có nhu cầu vốn, đặc biệt là các hộ thiếu tài sản bảo đảm, thông qua triển khai hiệu quả chính sách cho vay theo Nghị định số 116/2018/NĐ-CP. Đồng thời, cần đa dạng hóa hình thức cho vay dựa trên phương án sản xuất, kinh doanh khả thi, phát huy vai trò bảo lãnh, hỗ trợ của Hội Nông dân và Hội Liên hiệp Phụ nữ, kết hợp hướng dẫn sử dụng vốn hiệu quả nhằm nâng cao năng lực sản xuất và cải thiện thu nhập bền vững cho nông hộ.

Thúc đẩy thực hiện mô hình Cánh đồng lớn

Kết quả nghiên cứu cho thấy mỗi 1.000m² đất sản xuất tăng thêm giúp thu nhập ròng của nông hộ tăng khoảng 1 triệu đồng. Trong bối cảnh quỹ đất hạn hẹp, tỉnh Vĩnh Long cần thúc đẩy thị trường quyền sử dụng đất, hỗ trợ nông hộ tích tụ, tập trung đất đai thông qua mô hình “Cánh đồng lớn” và hợp tác xã kiểu mới. Đồng thời, khuyến khích áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích, qua đó cải thiện thu nhập và phát triển sinh kế nông hộ bền vững.

Phát triển nguồn nhân lực và chuyển giao kỹ thuật canh tác

Kết quả nghiên cứu cho thấy trình độ học vấn có tác động tích cực đến thu nhập nông hộ (B = 2,852). Do đó, tỉnh Vĩnh Long cần đẩy mạnh đào tạo nghề ngắn hạn, tập huấn kỹ thuật nông nghiệp thông minh, ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến và kỹ năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Đồng thời, chú trọng bồi dưỡng kỹ năng quản lý tài chính hộ gia đình, thương mại điện tử nông sản và phát huy sự kết hợp giữa kinh nghiệm của lao động lớn tuổi với kiến thức, kỹ năng công nghệ của thế hệ trẻ, qua đó nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất và thu nhập cho nông hộ.

Nâng cấp hạ tầng logistics nông sản và mạng lưới thương lái

Chính quyền địa phương cần ưu tiên đầu tư, nâng cấp đồng bộ hệ thống giao thông thủy và bộ, kết hợp phát triển hệ thống kho bãi bảo quản, cơ sở sơ chế và các trung tâm thu mua nông sản tập trung nhằm giảm chi phí vận chuyển, hạn chế tổn thất sau thu hoạch và nâng cao khả năng tiếp cận thị trường của nông hộ. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế quản lý và tạo lập môi trường pháp lý minh bạch, thuận lợi cho hoạt động của mạng lưới thương lái, doanh nghiệp thu mua và các tổ chức liên kết tiêu thụ nông sản. Việc thúc đẩy liên kết giữa nông hộ với các tác nhân trong chuỗi cung ứng, tăng cường cung cấp thông tin giá cả thị trường và minh bạch hóa các giao dịch sẽ góp phần hạn chế tình trạng ép giá, nâng cao vị thế thương lượng của người sản xuất và cải thiện giá trị nông sản đầu ra.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu đã xác định và đo lường thành công 8 nhân tố có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến thu nhập nông hộ tại tỉnh Vĩnh Long với R² hiệu chỉnh = 0,517. Thu nhập nông hộ là kết quả tổng hợp của nguồn lực tài chính, đất đai, con người, thị trường và vốn xã hội. Hạn chế của nghiên cứu nằm ở việc sử dụng dữ liệu cắt ngang (Cross-sectional data) chưa phân tích được sự thay đổi theo thời gian. Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng sử dụng dữ liệu bảng (Panel data) và phân tách thu nhập theo từng nguồn sinh kế chuyên biệt.

Tài liệu tham khảo:

1. Abdulai, A., & CroleRees, A. (2001). Determinants of income diversification amongst rural households in Southern Mali. Food Policy, 26(4), 437-452. https://doi.org/10.1016/S0306-9192(01)00013-6

2. Adebayo, C. O., Akogwu, G. O., & Yisa, E. S. (2012). Determinants of income diversification among farm households in Kaduna state: Application of Tobit regression model. PAT, 8(2), 1-10. https://patnsukjournal.net/8-2-1

3. Bernard, A. S. A., Samuel, A., & Edward, E. O. (2014). Determinants of income diversification of farm households in the western region of Ghana. Quarterly Journal of International Agriculture, 53(1), 55-72. https://doi.org/10.22004/ag.econ.173650

4. Chu Thị Kim Loan & Nguyễn Văn Hướng (2015). Ảnh hưởng của nguồn lực đến thu nhập của nông hộ tỉnh Thanh Hóa: Nghiên cứu điển hình ở huyện Thọ Xuân và Hà Trung. Tạp chí Khoa học và Phát triển, 13(6), 1051-1060.

5. DFID. (1999). Sustainable livelihoods guidance sheets. Department for International Development. https://www.livelihoodscentre.org/documents/20720/100145/Sustainable+livelihoods+guidance+sheets.pdf

6. Đào Thế Tuấn (1995). Kinh tế học gia đình. Tạp chí Xã hội học, (1), 9-15. https://tapchixahoihoc.vass.gov.vn/1995-1-9

7. Klasen, S., Priebe, J., & Rudolf, R. (2013). Cash crop choice and income dynamics in rural areas: Evidence for post-crisis Indonesia. Agricultural Economics, 44(3), 349-364. https://doi.org/10.1111/agec.12015

8. Lê Đình Hải (2017). Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp, (4), 168-176. https://vjfs.vnu.edu.vn/4-168

9. Lê Xuân Thái (2014). Các yếu tố ảnh hưởng thu nhập của nông hộ trong các mô hình sản xuất trên đất lúa tại tỉnh Vĩnh Long. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, (35), 79-86. https://sj.ctu.edu.vn/35-79

10. Lương Kim Ngân (2015). Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ tại huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa [Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Nha Trang].

11. Lưu Văn Xưa. (2018). Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ khi chuyển đổi cơ cấu canh tác trên đất sản xuất lúa tại huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long [Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Trà Vinh].

12. Manjunatha, A. V., Anik, A. R., Speelman, S., & Nuppenau, E. A. (2013). Impact of land fragmentation, farm size, land ownership and crop diversity on profit and efficiency of irrigated farms in India. Land Use Policy, 31, 397-405. https://doi.org/10.1016/j.landusepol.2012.08.005

13. Nguyễn Hoàng Thoại (2018). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của gia đình chính sách tại huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long [Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Trà Vinh].

14. Nguyễn Hữu Phục (2017). Giải pháp nâng cao thu nhập nông hộ trên địa bàn huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh [Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Trà Vinh].

15. Nguyễn Lan Duyên (2014). Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ ở An Giang. Tạp chí Khoa học Trường Đại học An Giang, 3(2), 63-69. https://sj.agu.edu.vn/3-2-63

16. Nguyễn Quốc Nghi & Bùi Văn Trịnh (2011). Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân tộc thiểu số ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, (18a), 240-250. https://sj.ctu.edu.vn/18a-240

17. Nguyễn Thị Ngọc Diệu (2015). Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của đồng bào dân tộc Khmer huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh [Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh].

18. Nguyễn Thùy Trang (2017). Tác động sự tham gia Hội Phụ nữ đến thu nhập nông hộ tại tỉnh Hậu Giang. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, (48c), 64-69. https://sj.ctu.edu.vn/48c-64

19. Phạm Lê Thông & Phạm Trần Ngọc Hương. (2015). Tác động của tín dụng nhỏ từ Quỹ Hỗ trợ Phụ nữ Phát triển kinh tế đến thu nhập của hộ nghèo tại huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, (112), 19-27. http://buh.edu.vn/content.aspx?Id=VNCKHVCN&SubId=TCMXB

20. Phan Đình Khôi & Lê Hồng Nga (2016). Tác động của chương trình cho vay hộ nghèo đến thu nhập của hộ: Bằng chứng thực nghiệm ở Bạc Liêu. Tạp chí Khoa học Kinh tế, 4(02), 88-99. https://jef.udn.vn/4-2-88

21. Pitt, M. M., & Sumodiningrat, G. (1991). Risk, schooling and the choice of seed technology in developing countries: A meta-profit function approach. International Economic Review, 32(2), 457-473. https://doi.org/10.2307/2526968

22. Shrestha, R. P., & Eiumnoh, A. (2000). Determinants of household earnings in rural economy of Thailand. Asia-Pacific Journal of Rural Development, 10(1), 27-42. https://doi.org/10.1177/1018529120000102

23. Trương Hồng Võ Tuấn Kiệt & Hứa Tấn Tài (2013). Ảnh hưởng sở hữu đất đai đến thu nhập nông hộ: Trường hợp xã Mỹ Tú, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, (28), 79-83. https://sj.ctu.edu.vn/28-79

24. Võ Thành Khởi (2015). Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình ở huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Tạp chí Kinh tế & Phát triển, (218), 112-120. http://ktpt.neu.edu.vn/218-112

Ngày nhận bài: 28/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 5/10/2026; Ngày duyệt đăng: 10/10/2026

Các tin khác

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ tại Nhà hàng Miwaku Premium Landmark 81

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ tại Nhà hàng Miwaku Premium Landmark 81

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng cao của phân khúc ẩm thực cao cấp, chất lượng dịch vụ trở thành yếu tố quan trọng quyết định sự hài lòng của khách hàng.
Lao động xuyên biên giới tại Đồng Tháp: Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Lao động xuyên biên giới tại Đồng Tháp: Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Có thể hiểu lao động xuyên biên giới là sự di chuyển của người lao động qua đường biên giới quốc gia để thực hiện hoạt động lao động tại quốc gia bên kia, trong thời gian ngắn hạn hoặc theo một thỏa thuận lao động nhất định, nhằm tạo ra thu nhập hoặc các giá trị kinh tế.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán tại TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán tại TP. Hồ Chí Minh

Cùng với sự phát triển của công nghệ số và các nền tảng giao dịch trực tuyến, nhà đầu tư cá nhân ngày càng dễ dàng tiếp cận thông tin, tham gia giao dịch và tác động đáng kể đến thanh khoản cũng như sự vận động của thị trường.
Hiểu biết số và hiệu suất công việc của nhân viên marketing: Tổng quan lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất

Hiểu biết số và hiệu suất công việc của nhân viên marketing: Tổng quan lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất

Trong môi trường marketing số, hiểu biết số ngày càng trở thành năng lực quan trọng quyết định khả năng khai thác dữ liệu, nội dung và nền tảng công nghệ của nhân viên.
Tác động của nhận thức về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến kết quả thực hiện nhiệm vụ của nhân viên tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Tác động của nhận thức về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến kết quả thực hiện nhiệm vụ của nhân viên tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Trong các ngân hàng thương mại cổ phần, nhận thức của nhân viên về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có thể ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin và kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Tác động của tiền gửi không kỳ hạn đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của tăng trưởng tín dụng và rủi ro tín dụng

Tác động của tiền gửi không kỳ hạn đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của tăng trưởng tín dụng và rủi ro tín dụng

Khả năng sinh lời là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động và năng lực tài chính của ngân hàng thương mại, chịu ảnh hưởng bởi cơ cấu nguồn vốn, tốc độ tăng trưởng tín dụng và chất lượng danh mục cho vay.
Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao tại một số quốc gia Đông Nam Á

Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao tại một số quốc gia Đông Nam Á

Thu hút FDI tại Đông Nam Á đang chuyển từ chú trọng quy mô sang chất lượng dòng vốn, giá trị gia tăng và khả năng lan tỏa công nghệ. Nghiên cứu tiếp cận FDI theo cơ cấu ngành để làm rõ vai trò của tăng trưởng kinh tế, độ mở thương mại, chất lượng thể chế, vốn nhân lực và năng lượng tái tạo đối với khả năng thu hút FDI chất lượng cao trong khu vực.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc chấp thuận nền tảng bất động sản trực tuyến và ý định mua nhà tại Hà Nội

Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc chấp thuận nền tảng bất động sản trực tuyến và ý định mua nhà tại Hà Nội

Các nền tảng bất động sản trực tuyến ngày càng trở thành công cụ hỗ trợ người mua tìm kiếm, so sánh và đánh giá các lựa chọn nhà ở trước khi ra quyết định, đặc biệt tại Hà Nội, nơi giá căn hộ sơ cấp tăng đáng kể trong năm 2025.
Các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối giữa nhà khoa học và thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối giữa nhà khoa học và thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam

Tri thức khoa học tạo ra giá trị kinh tế và xã hội khi được phát triển thành công nghệ, sản phẩm, quy trình hoặc giải pháp có khả năng ứng dụng.
Mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ sinh thái khởi nghiệp, năng lực tự thân và tư duy trong quyết định khởi nghiệp

Mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ sinh thái khởi nghiệp, năng lực tự thân và tư duy trong quyết định khởi nghiệp

Các nguồn lực hỗ trợ bên ngoài chỉ có thể biến thành quyết định khởi nghiệp thực tế khi chúng được chuyển hóa thành niềm tin vào năng lực cá nhân và tư duy khởi nghiệp.