Quản lý sản xuất sầu riêng theo hướng bền vững: Nghiên cứu trường hợp tại xã Ea Knuếc, tỉnh Đắk Lắk

Nghiên cứu - Trao đổi 07:59 | 20/10/2026
Sầu riêng là cây trồng quan trọng, góp phần nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế tại xã Ea Knuếc, tỉnh Đắk Lắk. Quản lý sản xuất sầu riêng tại xã Ea Knuếc, tỉnh Đắk Lắk có những kết quả tích cực, song còn hạn chế về an toàn lao động, sử dụng nước, xử lý chất thải và thực hiện cam kết tiêu thụ.

Phạm Đan Khuê

Công ty TNHH Inox Kim Bảo Khang, Email: [email protected]

TS. Trần Thị Lan

Trường Đại học Tây Nguyên, Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu đánh giá quản lý sản xuất sầu riêng bền vững tại xã Ea Knuếc, tỉnh Đắk Lắk, qua khảo sát 194 hộ và phỏng vấn sâu 7 đại diện liên quan. Khung SAFA, thống kê mô tả và kiểm định được sử dụng để phân tích. Nhóm hộ có mã số vùng trồng đạt kết quả tốt hơn ở nhiều chỉ tiêu, tuy nhiên, còn hạn chế về nước tưới, chất thải và cam kết tiêu thụ. Bài viết đề xuất đồng bộ giải pháp kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế, gắn với phối hợp và giám sát thực hiện.

Từ khóa: Sầu riêng, quản lý sản xuất, phát triển bền vững, mã số vùng trồng, liên kết chuỗi giá trị, Ea Knuếc

Abstract

This study evaluates sustainable durian production management in Ea Knuec Commune, Dak Lak Province, based on a survey of 194 households and in-depth interviews with seven relevant stakeholders. The Sustainability Assessment of Food and Agriculture Systems (SAFA) framework, descriptive statistics, and statistical tests are used for the analysis. Households with registered growing area codes perform better on several indicators; however, limitations remain in irrigation water, waste management, and marketing commitments. The study proposes an integrated set of economic, social, environmental, and institutional solutions, supported by coordination and implementation monitoring.

Keywords: Durian, production management, sustainable development, growing area codes, value chain linkages, Ea Knuec

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sầu riêng là cây trồng quan trọng, góp phần nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế tại xã Ea Knuếc, tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh đặt ra yêu cầu quản lý chất lượng, sử dụng tài nguyên, bảo đảm an toàn lao động và duy trì liên kết tiêu thụ. Trong bối cảnh thị trường đòi hỏi truy xuất nguồn gốc và tuân thủ tiêu chuẩn, đánh giá hiệu quả kinh tế cần gắn với các phương diện xã hội, môi trường và thể chế. Bài viết phân tích thực trạng quản lý sản xuất sầu riêng tại địa phương, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao tính bền vững đến năm 2030.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Quản lý sản xuất sầu riêng theo hướng bền vững là quá trình hoạch định, tổ chức, điều hành và kiểm tra hoạt động sản xuất nhằm duy trì hiệu quả kinh tế, bảo đảm lợi ích xã hội, bảo vệ môi trường và tuân thủ thể chế. Cách tiếp cận này kế thừa quan niệm phát triển bền vững của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới của Liên hợp quốc - WCED (1987), gắn nhu cầu hiện tại với khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.

Nghiên cứu vận dụng phương pháp tiếp cận chức năng quản lý của Fayol (1949) để phân tích việc lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực, tổ chức thực hiện và kiểm soát sản xuất. Lý thuyết kinh tế nông hộ của Ellis (1993) giúp xem xét quyết định sản xuất trong quan hệ với nguồn lực, thu nhập và mục tiêu sinh kế.

Trên nền tảng đó, khung tiêu chí SAFA của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc - FAO (2014) được vận dụng để đánh giá 4 phương diện: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế - quản trị. Các tiêu chí tập trung vào hiệu quả sản xuất, an toàn lao động, sử dụng tài nguyên, quản lý chất thải, ghi chép và tuân thủ mã số vùng trồng, làm căn cứ phân tích thực trạng tại Ea Knuếc.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp khảo sát định lượng và phỏng vấn sâu. Dữ liệu thứ cấp gồm báo cáo địa phương, số liệu thống kê và tài liệu liên quan giai đoạn 2021-2025, 6 tháng đầu năm 2026. Dữ liệu sơ cấp được thu thập năm 2026 bằng bảng hỏi tại 4 thôn trọng điểm của xã Ea Knuếc. Mẫu được chọn theo phương pháp phi xác suất có chủ đích, kết hợp phân tầng theo tình trạng tham gia mã số vùng trồng (PUC), gồm 194 hộ hợp lệ: 97 hộ có PUC và 97 hộ sản xuất tự do. Đồng thời, nghiên cứu phỏng vấn sâu 7 đại diện hợp tác xã, doanh nghiệp và cán bộ quản lý.

Dữ liệu được xử lý bằng Excel và SPSS 22, sử dụng thống kê mô tả, hạch toán hiệu quả kinh tế, kiểm định T-test, Chi-square hoặc Exact ở mức ý nghĩa 5%. Thông tin định tính được phân tích nội dung để đối chiếu, giải thích kết quả định lượng. Khung SAFA định hướng đánh giá 4 phương diện bền vững; SWOT hỗ trợ đề xuất giải pháp. Kết quả được diễn giải trong phạm vi mẫu, không suy luận quan hệ nhân quả.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả khảo sát 194 hộ trồng sầu riêng tại xã Ea Knuếc, gồm 97 hộ có mã số vùng trồng (PUC) và 97 hộ sản xuất tự do, được phân tích theo 4 nhóm nội dung: hiệu quả kinh tế; thu mua và liên kết tiêu thụ; tổ chức lao động và dịch vụ phụ trợ; quản lý môi trường và tuân thủ thể chế. Cách phân nhóm này vừa phản ánh hoạt động quản lý ở cấp nông hộ, vừa làm rõ sự phối hợp với các chủ thể trong chuỗi. Các khác biệt được diễn giải trong phạm vi mẫu khảo sát.

Thực trạng tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh tế

Kết quả ở Bảng 1 cho thấy tổng chi phí trung gian bình quân của nhóm có PUC đạt 218,09 triệu đồng/ha, cao hơn mức 213,92 triệu đồng/ha của nhóm hộ tự do, nhưng chênh lệch không có ý nghĩa thống kê. Chi phí cơ hội lao động gia đình cũng tương đối gần nhau. Riêng chi phí phân hữu cơ của nhóm có PUC cao hơn 4,24 triệu đồng/ha, với p = 0,006, phản ánh sự khác biệt trong phân bổ đầu tư vật tư.

Bảng 1: Chi phí và hiệu quả kinh tế sản xuất sầu riêng theo nhóm hộ

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

Hộ có PUC

Hộ sản xuất tự do

p

Tổng chi phí trung gian

Triệu đồng/ha

218,09 ± 30,07

213,92 ± 20,82

0,263

Chi phí phân hữu cơ¹

Triệu đồng/ha

43,83 ± 11,97

39,59 ± 9,25

0,006

Chi phí cơ hội lao động gia đình

Triệu đồng/ha

33,91 ± 5,21

33,61 ± 4,40

0,658

Năng suất

Tấn/ha

16,49 ± 1,98

15,54 ± 1,69

<0,001

Tỷ lệ sầu riêng đạt loại A, B

%

54,01 ± 5,81

52,90 ± 5,32

0,165

Giá bán bình quân

Nghìn đồng/kg

51,72 ± 3,32

50,23 ± 3,50

0,003

Doanh thu

Triệu đồng/ha

851,70 ± 106,38

779,82 ± 95,17

<0,001

Lợi nhuận ròng

Triệu đồng/ha

599,70 ± 102,26

532,30 ± 92,21

<0,001

Ghi chú: Giá trị trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn; mỗi nhóm gồm 97 hộ. ¹ Chi phí phân hữu cơ là khoản thành phần của tổng chi phí trung gian.

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu khảo sát của đề án năm 2026, phản ánh vụ sản xuất năm 2025.

Về đầu ra, nhóm có PUC đạt năng suất 16,49 tấn/ha, cao hơn nhóm tự do 0,95 tấn/ha; giá bán bình quân cao hơn 1,49 nghìn đồng/kg. Doanh thu và lợi nhuận ròng tương ứng cao hơn 71,88 và 67,40 triệu đồng/ha; các chênh lệch đều có ý nghĩa thống kê. Trong điều kiện tổng chi phí trung gian chưa khác biệt rõ, kết quả kinh tế thuận lợi hơn của nhóm PUC thể hiện chủ yếu ở năng suất và giá bán.

Tuy nhiên, tỷ lệ sản phẩm đạt loại A, B chưa khác biệt có ý nghĩa thống kê. Vì vậy, giá bán cao hơn chưa đủ chứng minh chất lượng phân hạng vượt trội. Số liệu cũng chưa đo lường riêng giá trị gia tăng từ sơ chế hoặc chế biến. Kết quả trên phản ánh hiệu quả sản xuất ở cấp hộ và cần được xem xét cùng đặc điểm nguồn lực, phương thức canh tác và tổ chức tiêu thụ của từng nhóm.

Thực trạng thu mua và liên kết tiêu thụ

Cơ cấu kênh tiêu thụ thể hiện sự khác biệt rõ giữa 2 nhóm. Có 64,95% hộ có PUC bán sản phẩm qua hợp tác xã hoặc doanh nghiệp có mã PUC theo hợp đồng, trong khi tỷ lệ này ở nhóm tự do chỉ đạt 2,06%. Ngược lại, 91,75% hộ tự do tiêu thụ qua thương lái hoặc cơ sở thu mua tại xã. Xét toàn mẫu, kênh thu mua tại địa phương chiếm 63,40%, cho thấy vai trò quan trọng của các chủ thể này trong tổ chức đầu ra.

Bảng 2: Kênh tiêu thụ và tổ chức lao động, dịch vụ phụ trợ theo nhóm hộ

Nhóm nội dung và chỉ tiêu

Đơn vị tính

Hộ có PUC

Hộ sản xuất tự do

Toàn mẫu

Kênh tiêu thụ

Thương lái vãng lai

% hộ

0,00

6,19

3,09

Thương lái/cơ sở thu mua tại xã

% hộ

35,05

91,75

63,40

HTX/doanh nghiệp có mã PUC theo hợp đồng

% hộ

64,95

2,06

33,51

Lao động và dịch vụ phụ trợ

Trang bị bảo hộ lao động đầy đủ

% hộ

91,75

41,24

66,49

Số buổi tập huấn trong 2 năm gần nhất

Buổi

2,65 ± 1,01

1,70 ± 1,14

2,18 ± 1,17

Thuê thợ chuyên nghiệp cắt, kiểm tra độ chín

% hộ

93,81

53,61

73,71

Thuê bốc vác, xe kéo/xe tải vận chuyển

% hộ

86,60

39,18

62,89

Không thuê dịch vụ bên ngoài

% hộ

4,12

46,39

25,26

Phụ nữ tham gia ghi chép nhật ký

% hộ

82,47

7,22

44,85

Phụ nữ tham gia quản lý tài chính

% hộ

94,85

80,41

87,63

Ghi chú: Kiểm định kênh tiêu thụ sau khi gộp hai kênh thương lái: χ² = 86,091; p < 0,001; Cramer’s V = 0,666. Các chỉ tiêu lao động và dịch vụ được trình bày đều có p < 0,001, riêng phụ nữ tham gia quản lý tài chính có p = 0,002. Các chỉ tiêu sử dụng dịch vụ không phải những phương án loại trừ nhau.

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu khảo sát của đề án năm 2026

Kiểm định sau khi gộp 2 kênh thương lái cho thấy cơ cấu tiêu thụ khác biệt có ý nghĩa thống kê, với Cramer’s V = 0,666. Nhóm PUC có mức độ tham gia kênh HTX/doanh nghiệp cao hơn, nhưng vẫn còn 35,05% hộ bán qua cơ sở thu mua tại xã. Điều này cho thấy tham gia vùng trồng có mã số chưa đồng nghĩa với việc toàn bộ sản phẩm được tiêu thụ qua 1 kênh thống nhất. Cần phân biệt kênh tiêu thụ với mức độ bảo đảm đầu ra. Giao dịch của các hộ đều dựa trên hợp đồng hoặc thỏa thuận mua bán. Điểm cam kết bán theo hợp đồng đạt 3,37 ở nhóm PUC và 2,92 ở nhóm tự do, nhưng cả 2 vẫn thuộc mức “Bình thường” theo quy ước của đề án. Như vậy, liên kết đã hình thành, song mức độ thực hiện cam kết còn cần củng cố; tỷ lệ bán qua HTX/doanh nghiệp chưa đủ chứng minh cơ chế bao tiêu ổn định.

Thực trạng tổ chức lao động và dịch vụ thu hoạch - vận chuyển

Bảng 2 cho thấy nhóm PUC sử dụng dịch vụ thu hoạch chuyên nghiệp nhiều hơn: 93,81% thuê thợ cắt và kiểm tra độ chín, so với 53,61% ở nhóm tự do. Tỷ lệ thuê bốc vác và phương tiện vận chuyển tương ứng đạt 86,60% và 39,18%. Các khác biệt có ý nghĩa thống kê, phản ánh mức độ sử dụng dịch vụ chuyên môn hóa cao hơn của nhóm PUC trong khâu thu hoạch và đưa sản phẩm ra khỏi vườn.

Ở phương diện xã hội, tỷ lệ trang bị bảo hộ đầy đủ của nhóm PUC đạt 91,75%, cao hơn rõ rệt so với 41,24% của nhóm tự do. Số buổi tập huấn bình quân cũng cao hơn. Phụ nữ tham gia quản lý tài chính phổ biến ở cả 2 nhóm nhưng khác biệt lớn nằm ở ghi chép nhật ký: 82,47% so với 7,22%. Kết quả thể hiện vai trò của lao động nữ trong quản lý thông tin sản xuất, bên cạnh quản lý thu nhập và chi tiêu.

Những kết quả này cho thấy tổ chức lao động và dịch vụ phụ trợ là bộ phận quan trọng của quản lý bền vững. Tuy nhiên, khảo sát mới ghi nhận việc sử dụng dịch vụ vận chuyển tại cấp hộ, chưa đo lường chi phí logistics, tổn thất sau thu hoạch, kho lạnh hoặc thời gian giao hàng. Vì vậy, phạm vi phân tích tập trung vào cách thức tổ chức dịch vụ, chưa đánh giá hiệu quả toàn bộ hệ thống logistics.

Thực trạng quản lý môi trường và tuân thủ thể chế

Nước ngầm là nguồn tưới chủ yếu, chiếm 90,21% toàn mẫu, trong khi tỷ lệ áp dụng béc phun tự động hoặc tưới tiết kiệm chỉ đạt 27,32%. Nhóm PUC có tỷ lệ áp dụng cao hơn, nhưng ngay trong nhóm này vẫn còn hơn một nửa số hộ tưới tràn gốc hoặc kéo dây thủ công. Kết quả cho thấy sử dụng nước hiệu quả còn là nội dung cần cải thiện ở cả 2 nhóm.

Bảng 3: Một số thực hành môi trường và mức độ tuân thủ quản lý theo nhóm hộ

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

Hộ có PUC

Hộ sản xuất tự do

Toàn mẫu

p

Áp dụng béc phun tự động/tưới tiết kiệm

% hộ

46,39

8,25

27,32

<0,001

Phân hữu cơ/vi sinh chiếm 30-60% tổng lượng phân bón¹

% hộ

84,54

30,93

57,73

<0,001

Dùng máy cắt cỏ cơ giới

% hộ

98,97

81,44

90,21

<0,001

Thu gom bao bì thuốc BVTV đúng quy định

% hộ

87,63

49,48

68,56

<0,001

Tách biệt bình phun hoặc súc rửa, khử khuẩn nghiêm ngặt

% hộ

84,54

26,80

55,67

<0,001

Tự giác ghi nhật ký và tuân thủ quy định vùng trồng

Điểm

3,45 ± 0,95

2,88 ± 0,97

3,16 ± 1,00

<0,001

Cam kết bán theo hợp đồng

Điểm

3,37 ± 1,06

2,92 ± 0,95

3,14 ± 1,03

0,002

Rất mong muốn áp dụng chuyển đổi số²

% hộ

87,63

18,56

53,09

<0,001

Ghi chú: Chỉ tiêu điểm sử dụng thang Likert năm mức, trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn. ¹ Giá trị p áp dụng cho toàn bộ phân bố ba mức tỷ trọng phân hữu cơ/vi sinh. ² Giá trị p của kiểm định Exact áp dụng cho toàn bộ phân bố ba mức sẵn sàng chuyển đổi số.

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu khảo sát của đề án năm 2026.

Nhóm có PUC cũng có tỷ lệ thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định và quản lý bình phun phù hợp cao hơn. Tuy nhiên, toàn mẫu vẫn có 31,44% hộ xử lý bao bì chưa đúng và 44,33% dùng chung bình phun, không súc rửa kỹ. Đây là những hạn chế liên quan trực tiếp đến nguy cơ ô nhiễm và nhiễm chéo hóa chất. Sự khác biệt về tỷ trọng phân hữu cơ cần được xem xét theo nhu cầu dinh dưỡng của cây, tránh đồng nhất tỷ trọng cao với hiệu quả môi trường cao.

Về thể chế, điểm tự giác ghi chép và tuân thủ của nhóm có PUC đạt 3,45, cao hơn mức 2,88 của nhóm tự do. Tỷ lệ rất mong muốn áp dụng chuyển đổi số cũng cao hơn, nhưng mới phản ánh ý định, chưa chứng minh mức sử dụng thực tế. Đáng chú ý, 73,20% hộ tự do cho biết có thể cân nhắc áp dụng, thể hiện dư địa mở rộng công cụ quản lý số. Nhìn chung, nhóm có PUC đạt kết quả tích cực hơn ở nhiều nội dung, song tính bền vững vẫn phụ thuộc vào chất lượng thực hành và duy trì tuân thủ; các khác biệt quan sát được chưa xác lập tác động nhân quả của PUC.

GIẢI PHÁP QUẢN LÝ SẢN XUẤT SẦU RIÊNG THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

Trên cơ sở kết quả khảo sát và định hướng phát triển đến năm 2030, quản lý sản xuất sầu riêng tại xã Ea Knuếc cần chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng nguồn lực và khả năng thích ứng. Các giải pháp cần triển khai đồng bộ trên các phương diện gồm kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế, phù hợp với nhu cầu của từng nhóm hộ.

Nâng cao hiệu quả kinh tế và củng cố liên kết tiêu thụ

Nông hộ cần duy trì hạch toán theo vụ, ghi nhận chi phí, sản lượng, giá bán và doanh thu trên đơn vị diện tích. Việc đánh giá hiệu quả phải tính đến lao động gia đình, khấu hao và phân bổ hợp lý các khoản đầu tư dài hạn. Hợp tác xã hỗ trợ biểu mẫu, đối chiếu số liệu và hướng dẫn lựa chọn phương án đầu tư theo khả năng tài chính.

Nâng cao giá trị sản phẩm cần gắn với cải thiện chất lượng, điều chỉnh vật tư và tổ chức thu hoạch phù hợp. Hợp tác xã phối hợp với doanh nghiệp, thương lái và cơ sở đóng gói để kết nối tiêu thụ. Thỏa thuận mua bán phải làm rõ tiêu chuẩn phân loại, phương thức cân, xác định giá, đặt cọc và thanh toán. Đối với hộ sản xuất tự do, ưu tiên tiếp cận dịch vụ chung trước khi mở rộng tham gia vùng nguyên liệu có mã số.

Nâng cao năng lực quản lý và bảo đảm an toàn lao động

Khi tỷ lệ trang bị bảo hộ đầy đủ mới đạt 66,49% toàn mẫu, hỗ trợ cần tập trung vào phòng ngừa rủi ro khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, làm việc trên cao và thu hoạch. Tập huấn nên tổ chức theo mùa vụ, kết hợp thực hành tại vườn và hướng dẫn sau đào tạo. Hiệu quả được đánh giá qua khả năng vận dụng, thay đổi thực hành và mức duy trì an toàn.

Đồng thời, cần phát triển dịch vụ chăm sóc, thu hoạch, bốc xếp và vận chuyển theo nhu cầu, công khai giá và trách nhiệm cung cấp. Tăng cơ hội tiếp cận tập huấn cho phụ nữ, khuyến khích chia sẻ quyết định và phân công ghi chép phù hợp giữa các thành viên trong hộ.

Quản lý tài nguyên và kiểm soát tác động môi trường

Trong điều kiện 90,21% hộ sử dụng nước ngầm nhưng chỉ 27,32% áp dụng béc phun tự động hoặc tưới tiết kiệm, cần ưu tiên rà soát nhu cầu nước và khu vực thiếu nước. Đầu tư hệ thống tưới phải phù hợp với địa hình, nguồn nước và khả năng vận hành; hiệu quả được theo dõi bằng lượng nước, chi phí tưới và tình trạng vườn cây.

Nông hộ cần sử dụng vật tư có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ liều lượng, thời gian cách ly và áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp. Phân hữu cơ, vi sinh được lựa chọn theo nhu cầu dinh dưỡng và điều kiện đất. Chính quyền, hợp tác xã phối hợp tổ chức thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật, hướng dẫn quản lý bình phun, nước súc rửa và xử lý sớm nguy cơ ô nhiễm.

Duy trì tuân thủ và từng bước số hóa quản lý

Quản lý mã số vùng trồng cần gắn với duy trì điều kiện sản xuất, hồ sơ và truy xuất nguồn gốc. Hợp tác xã hỗ trợ ghi chép, kiểm tra nội bộ và theo dõi khắc phục sai lệch; nông hộ chịu trách nhiệm về thông tin cung cấp. Công cụ số nên được thí điểm theo năng lực sử dụng, có hỗ trợ nhập liệu và kết hợp hồ sơ giấy khi cần. Kết quả đánh giá dựa trên mức sử dụng thường xuyên, chất lượng dữ liệu và khả năng truy xuất.

Phối hợp triển khai và giám sát kết quả

UBND xã điều phối theo thẩm quyền; hợp tác xã tổ chức dịch vụ; doanh nghiệp, cơ sở thu mua và đóng gói bảo đảm minh bạch giao dịch. Giai đoạn 2027-2028 ưu tiên khắc phục hạn chế và thí điểm; giai đoạn 2029-2030 đánh giá, điều chỉnh và mở rộng phương án hiệu quả, dựa trên chỉ tiêu kinh tế, an toàn, tài nguyên và tuân thủ.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu cho thấy quản lý sản xuất sầu riêng tại xã Ea Knuếc có những kết quả tích cực, song còn hạn chế về an toàn lao động, sử dụng nước, xử lý chất thải và thực hiện cam kết tiêu thụ. Trong mẫu khảo sát, nhóm hộ có mã số vùng trồng đạt kết quả tốt hơn ở nhiều chỉ tiêu kinh tế và thực hành quản lý; tuy nhiên, chưa thể xác lập tác động nhân quả của mã số. Để nâng cao tính bền vững, cần đồng bộ hạch toán, liên kết chuỗi, đào tạo, bảo vệ tài nguyên và duy trì tuân thủ, gắn trách nhiệm các chủ thể với giám sát kết quả thực tế./.

Tài liệu tham khảo:

1. Ellis, F. (1993). Peasant economics: Farm households and agrarian development (2nd ed.). Cambridge University Press.

2. Fayol, H. (1949). General and industrial management (C. Storrs, Trans.). Pitman.

3. Food and Agriculture Organization of the United Nations. (2014). SAFA: Sustainability assessment of food and agriculture systems—Guidelines (Version 3.0).

4. Pretty, J. (2008). Agricultural sustainability: Concepts, principles and evidence. Philosophical Transactions of the Royal Society B: Biological Sciences, 363(1491), 447-465.

5. Ủy ban nhân dân xã Ea Knuếc. (2026). Báo cáo đánh giá tình hình phát triển ngành hàng sầu riêng trên địa bàn xã Ea Knuếc 6 tháng đầu năm 2026 [Báo cáo nội bộ].

6. World Commission on Environment and Development. (1987). Our common future. Oxford University Press.

Ngày nhận bài: 29/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 5/10/2026; Ngày duyệt đăng: 12/10/2026

Các tin khác

Kết quả đổi mới sáng tạo sản phẩm trong các doanh nghiệp công nghệ ở Việt Nam

Kết quả đổi mới sáng tạo sản phẩm trong các doanh nghiệp công nghệ ở Việt Nam

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu khảo sát 528 doanh nghiệp công nghệ Việt Nam để mô tả thực trạng kết quả đổi mới sản phẩm, đối chiếu với thực trạng hoạt động đổi mới sản phẩm, từ đó gợi mở một số hàm ý quản trị và chính sách.
Thị trường lao động nghề môi giới bất động sản ở Việt Nam: Thực trạng và xu hướng chuyển dịch

Thị trường lao động nghề môi giới bất động sản ở Việt Nam: Thực trạng và xu hướng chuyển dịch

Nghề môi giới bất động sản đóng vai trò trung gian kết nối giữa cung - cầu, góp phần định hướng nhu cầu nhà ở, đầu tư phù hợp, giảm rủi ro giao dịch bất hợp pháp, đồng thời hỗ trợ quản lý thị trường cho cơ quan nhà nước thông qua dữ liệu và phản hồi thị trường.
Ưu tiên chính sách khuyến khích đầu tư công tư cho hạ tầng tái chế rơm rạ ở Đồng bằng sông Hồng: Tiếp cận từ mô hình phân tích thứ bậc

Ưu tiên chính sách khuyến khích đầu tư công tư cho hạ tầng tái chế rơm rạ ở Đồng bằng sông Hồng: Tiếp cận từ mô hình phân tích thứ bậc

Mặc dù có tiềm năng lớn về nguồn sinh khối nông nghiệp, song hiệu quả thu gom và sử dụng rơm rạ tại Đồng bằng sông Hồng vẫn còn hạn chế do tỷ lệ đốt bỏ và vùi trực tiếp tại ruộng còn cao, trong khi các hoạt động thu gom và tái sử dụng chưa được tổ chức rộng rãi.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mô hình trồng nho kết hợp du lịch sinh thái: Nghiên cứu trường hợp tại xã Ninh Hải, tỉnh Khánh Hòa

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mô hình trồng nho kết hợp du lịch sinh thái: Nghiên cứu trường hợp tại xã Ninh Hải, tỉnh Khánh Hòa

Chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp gắn với phát triển du lịch nông thôn, du lịch sinh thái đang là xu thế phát triển bền vững tại nhiều địa phương ở Việt Nam. Xã Ninh Hải (tỉnh Khánh Hòa) sở hữu những điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu đặc thù, rất thích hợp cho việc phát triển cây nho - loại cây ăn quả đặc sản có giá trị kinh tế cao và tạo cảnh quan độc đáo.
Từ nhận diện đến kết nối: Mô hình 4C thiết kế trải nghiệm điểm chạm tại Cù Lao Chàm

Từ nhận diện đến kết nối: Mô hình 4C thiết kế trải nghiệm điểm chạm tại Cù Lao Chàm

Tại điểm đến văn hóa - sinh thái, từng sản phẩm có thể hoạt động tốt nhưng hành trình vẫn đứt gãy nếu nhận diện thiếu nội dung xác thực, diễn giải không gắn đúng nơi, tương tác biến cư dân thành người trình diễn hoặc trải nghiệm không mở ra hành động tiếp theo.
Minh bạch hóa và quyền phản hồi trong quản lý rủi ro thuế ở Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị giải pháp hoàn thiện

Minh bạch hóa và quyền phản hồi trong quản lý rủi ro thuế ở Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị giải pháp hoàn thiện

Trong bối cảnh áp dụng cơ chế tự khai, tự tính và tự nộp, cơ quan Thuế không thể duy trì nguồn lực để kiểm tra toàn diện mọi người nộp thuế với cùng một mức độ. Do đó, quản lý rủi ro trở thành phương thức cốt lõi để phân bổ hiệu quả nguồn lực: dữ liệu được thu thập và phân tích nhằm nhận diện khả năng không tuân thủ, xác định thứ tự ưu tiên thanh tra, kiểm tra và lựa chọn các biện pháp quản lý phù hợp.
Tác động của thanh toán số đến hành vi mua sắm trực tuyến của thế hệ Z tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của thanh toán số đến hành vi mua sắm trực tuyến của thế hệ Z tại TP. Hồ Chí Minh

Thanh toán số ngày càng tác động đến hành vi mua sắm trực tuyến, góp phần thay đổi thói quen tiêu dùng và nâng cao trải nghiệm mua sắm của khách hàng.
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ đào tạo: Nghiên cứu trường hợp Trường Cao đẳng Dược Hà Nội

Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ đào tạo: Nghiên cứu trường hợp Trường Cao đẳng Dược Hà Nội

Việc đánh giá và nâng cao chất lượng dịch vụ đào tạo không chỉ là một yêu cầu về mặt quản lý, mà còn là một chiến lược sống còn để thu hút và giữ chân người học, đảm bảo đầu ra đáp ứng được kỳ vọng của nhà tuyển dụng.
Trí tuệ nhân tạo và thách thức trong kỷ nguyên số: Bối cảnh kế toán và kiểm toán

Trí tuệ nhân tạo và thách thức trong kỷ nguyên số: Bối cảnh kế toán và kiểm toán

AI đang chuyển dịch vai trò của công nghệ trong kế toán và kiểm toán từ hỗ trợ xử lý giao dịch sang tham gia phân tích, nhận diện mẫu hình và đề xuất quyết định. Học máy, khai phá dữ liệu và các mô hình tạo sinh có thể xử lý khối lượng dữ liệu lớn với tốc độ vượt xa phương pháp thủ công.
Từ kế toán số đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp: Đề xuất mô hình về vai trò trung gian của chuyển đổi số và điều tiết của phong cách lãnh đạo chuyển đổi

Từ kế toán số đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp: Đề xuất mô hình về vai trò trung gian của chuyển đổi số và điều tiết của phong cách lãnh đạo chuyển đổi

Tại Việt Nam, mục tiêu kinh tế số đóng góp 30% GDP vào năm 2030 được xác định tại Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 được phê duyệt theo Quyết định số 411/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhằm tiếp tục thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới quy trình và tăng cường ứng dụng công nghệ.