Kết quả đổi mới sáng tạo sản phẩm trong các doanh nghiệp công nghệ ở Việt Nam
ThS. Vũ Việt Anh
NCS Khoa Kinh tế và Quản lý, Trường Quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội; Email: [email protected]
ThS. Phạm Thị Hoa Hồng (Tác giả liên hệ)
Công ty Cổ phần Tư vấn và Đào tạo Kingsman; Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu làm rõ thực trạng kết quả đổi mới sản phẩm của các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam dựa trên kết quả khảo sát 528 doanh nghiệp bằng phương pháp chọn mẫu phi xác suất. Nghiên cứu cho thấy, kết quả đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp hiện ở mức khá tích cực nhưng chưa cao và thấp hơn so với mức độ hoạt động đổi mới sản phẩm. Đáng chú ý, biến quan sát về việc thường xuyên tìm kiếm sản phẩm/dịch vụ mới cho thị trường có giá trị trung bình thấp và độ lệch chuẩn rất cao, phản ánh sự phân hóa rõ nét giữa các doanh nghiệp. Nghiên cứu cũng ghi nhận sự phân tầng đáng chú ý trong năng lực số của doanh nghiệp, đặc biệt là năng lực nắm bắt số đạt mức thấp nhất trong toàn bộ các nhân tố được thống kê. Kết quả nghiên cứu cung cấp một bức tranh thực chứng cập nhật, làm cơ sở đề xuất một số hàm ý quản trị và chính sách nhằm thúc đẩy kết quả đổi mới sản phẩm bền vững tại các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam.
Từ khóa: Đổi mới sản phẩm, hoạt động đổi mới sản phẩm, doanh nghiệp công nghệ, thống kê mô tả, Việt Nam
Abstract
This study examines the current state of product innovation outcomes among Vietnamese technology enterprises based on a survey of 528 firms using non-probability sampling. The findings indicate that product innovation outcomes are relatively positive but remain below a high level and lag behind the level of product innovation activities. Notably, the survey item concerning the frequent search for new products or services for the market has a low mean and a very high standard deviation, reflecting substantial differences among enterprises. The study also identifies considerable disparities in firms’ digital capabilities, with digital sensing capability recording the lowest level among all measured factors. These findings provide an up-to-date empirical picture and serve as a basis for proposing managerial and policy implications to promote sustainable product innovation outcomes among Vietnamese technology enterprises.
Keywords: Product innovation, product innovation activities, technology enterprises, descriptive statistics, Viet Nam
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tại Việt Nam, khu vực doanh nghiệp công nghệ, đặc biệt là công nghệ số, đang trải qua giai đoạn bùng nổ mạnh mẽ về quy mô. Tính đến năm 2025, cả nước ghi nhận 80.052 doanh nghiệp công nghệ số đang hoạt động, tăng 10% so với năm 2024; tổng doanh thu toàn ngành ước đạt 198 tỷ USD, đóng góp khoảng 41,4 tỷ USD vào GDP quốc gia (Hiền Minh, 2025). Tuy nhiên, Việt Nam mới chỉ có 962 doanh nghiệp được chính thức cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ tính đến tháng 11/2025 (Thu Giang, 2025); có tới 77,30% doanh nghiệp không thực hiện bất kỳ khoản đầu tư nào cho nghiên cứu và phát triển (R&D) và hơn 80% doanh nghiệp hoàn toàn tự thực hiện quá trình đổi mới trong nội bộ, thiếu sự hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Hệ quả là, tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam thực hiện đổi mới sáng tạo năm 2025 chỉ đạt 34,6%, giảm so với mức 38,8% của giai đoạn 2023-2024, trong khi Việt Nam vẫn duy trì thứ hạng 44/139 quốc gia về Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) 2 năm liên tiếp 2024 và 2025.
Nghịch lý giữa tốc độ tăng trưởng nhanh về quy mô và sự chững lại của năng lực đổi mới sáng tạo cốt lõi đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có những nghiên cứu cập nhật, phản ánh thực trạng kết quả đổi mới sản phẩm, thành quả cụ thể của quá trình kiến tạo sản phẩm mới tại khối doanh nghiệp công nghệ Việt Nam.
Mặc dù nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã đề cập đến các nhân tố tác động đến đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp (Thanh và cộng sự, 2020; Trương Đức Thao và cộng sự, 2022), nhưng số liệu thống kê mô tả cập nhật, phản ánh trực tiếp mức độ kết quả đổi mới sản phẩm hiện tại của doanh nghiệp công nghệ, đặt trong sự đối chiếu với hoạt động đổi mới sản phẩm và bối cảnh của các nhân tố liên quan vẫn còn hạn chế.
Xuất phát từ khoảng trống đó, nghiên cứu sử dụng dữ liệu khảo sát 528 doanh nghiệp công nghệ Việt Nam để mô tả thực trạng kết quả đổi mới sản phẩm, đối chiếu với thực trạng hoạt động đổi mới sản phẩm, từ đó gợi mở một số hàm ý quản trị và chính sách.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾT QUẢ ĐỔI MỚI SẢN PHẨMDoanh nghiệp công nghệ và đổi mới sản phẩm
Theo Luật Khoa học và Công nghệ (Quốc hội, 2013), doanh nghiệp công nghệ được hiểu là doanh nghiệp trực tiếp thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và sản xuất, kinh doanh các sản phẩm hình thành từ kết quả nghiên cứu, phát triển công nghệ đó. Lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp này chủ yếu dựa trên sự khác biệt hóa sản phẩm, đòi hỏi doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới, phát triển sản phẩm.
Về đổi mới sản phẩm, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 2005) định nghĩa đây là việc triển khai, giới thiệu ra thị trường một hàng hóa/dịch vụ mới hoặc có cải tiến đáng kể về đặc tính, thành phần, chức năng sử dụng. Các nghiên cứu gần đây (Thanh và cộng sự, 2020) nhấn mạnh đổi mới sản phẩm không đơn thuần là hoạt động tạo ra hiện vật kỹ thuật, mà là sự tích hợp toàn diện giữa công nghệ, tri thức, thực tiễn quản lý và đổi mới thị trường.
Kết quả đổi mới sản phẩm
Nhiều nghiên cứu tiếp cận hoạt động đổi mới sản phẩm như một năng lực tích hợp bậc cao khả năng mô hình hóa (Kim và Mauborgne, 1997; Lawson và Samson, 2001), quản lý các năng lực khác của tổ chức để tạo ra tính mới cho sản phẩm dựa trên nền tảng kiến thức từ trước, trong khi “kết quả đổi mới sản phẩm” được xem là thành quả của quá trình kiến tạo sản phẩm mới, phản ánh mức độ thành công khi sản phẩm/dịch vụ mới được thương mại hóa, mang lại doanh thu, thị phần và lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp (Estrada và cộng sự, 2016; Sok và O'Cass, 2015). Sự phân định rõ giữa 2 khái niệm “hoạt động” và “kết quả” đổi mới sản phẩm là nền tảng quan trọng để nghiên cứu mô tả riêng biệt, đối chiếu 2 biến số này trên cùng một mẫu khảo sát.
Trong phạm vi nghiên cứu này, kết quả đổi mới sản phẩm được đo lường kế thừa thang đo của Nhâm Phong Tuân (2016), Olson và Schwab (2000), Razli (2009), phản ánh mức độ giới thiệu sản phẩm/dịch vụ mới, cải tiến sản phẩm hiện có, tìm kiếm sản phẩm mới cho thị trường và mức độ đóng góp của sản phẩm mới vào sự thay đổi của ngành. Hoạt động đổi mới sản phẩm được đo lường kế thừa thang đo của Razli (2009), phát triển từ (Shoham, 1999), phản ánh tần suất doanh nghiệp thăm hỏi khách hàng/đại lý về nhu cầu đổi mới sản phẩm, tham gia triển lãm ngành, nghiên cứu sản phẩm mới của đối thủ và áp dụng các hình thức khảo sát nhu cầu khách hàng. Việc mô tả đúng thực trạng của 2 biến số này, đặt trong bối cảnh của các nhân tố liên quan, có ý nghĩa quan trọng để phác họa bức tranh thực chứng về năng lực đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp công nghệ Việt Nam hiện nay.
Giả thuyết và mô hình nghiên cứu
Tổng quan sơ bộ cho thấy, đã có các nghiên cứu xem xét mối quan hệ của hoạt động đổi mới sản phẩm đến kết quả đổi mới sản phẩm (Trương Đức Thao và cộng sự, 2022); các nhân tố tác động đến hoạt động đổi mới sản phẩm (Razli, 2009); tác động của các nhân tố đến kết quả hoạt động, trong đó có kết quả đổi mới sản phẩm (Hai và cộng sự, 2021; Narver và Slater, 1990; Trương Đức Thao và Nguyễn Đức Xuân, 2020a).
Bên cạnh đó, với đặc điểm các sản phẩm tại doanh nghiệp công nghệ và phù hợp với các đặc điểm của thời đại số hiện nay, nghiên cứu này đã tổng hợp và kế thừa kết quả nghiên cứu về năng lực số, cách thức đo lường năng lực số của doanh nghiệp, vai trò của năng lực số đối với đổi mới sáng tạo sản phẩm của doanh nghiệp (Annarelli và cộng sự, 2021; Khin và Ho, 2019). Từ đó, nghiên cứu đề xuất mô hình như Hình.
Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất
![]() |
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUPhương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập qua khảo sát bằng bảng hỏi đối với đại diện/nhà quản lý của các doanh nghiệp công nghệ tại Việt Nam, theo phương pháp chọn mẫu phi xác suất (thuận tiện kết hợp phân tầng theo loại hình, quy mô doanh nghiệp), triển khai thành 2 giai đoạn thu thập dữ liệu từ tháng 11/2025-6/2026. Sau khi làm sạch dữ liệu trên Excel (loại bỏ các phiếu thiếu thông tin, trả lời một mức độ cho toàn bộ thang đo hoặc có thời gian trả lời bất thường bằng hàm COUNTIF và STDEV), thu được 528 phiếu khảo sát hợp lệ, vượt xa cỡ mẫu tối thiểu 150-300 phiếu theo khuyến nghị phổ biến đối với các nghiên cứu định lượng tương tự (Hair và cộng sự, 1998).
Bảng 1: Cơ cấu mẫu khảo sát (n = 528)
| Tiêu chí | Phân loại | Số DN | Tỉ lệ (%) |
|---|---|---|---|
| Giới tính người trả lời | Nam | 289 | 54,7 |
| Nữ | 239 | 45,3 | |
| Trình độ người trả lời | Đại học | 310 | 58,7 |
| Sau đại học | 218 | 41,3 | |
| Thâm niên công tác | Dưới 10 năm | 123 | 23,3 |
| Trên 10 năm | 405 | 76,7 | |
| Lĩnh vực hoạt động | Sản xuất sản phẩm công nghệ | 104 | 19,7 |
| Kinh doanh sản phẩm công nghệ | 151 | 28,6 | |
| Ứng dụng công nghệ để tạo sản phẩm/dịch vụ | 159 | 30,1 | |
| Khác | 114 | 21,6 | |
| Quy mô lao động | Dưới 200 lao động | 153 | 29,0 |
| Từ 201 - 1.000 lao động | 164 | 31,1 | |
| Trên 1.000 lao động | 211 | 40,0 |
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu của nhóm tác giả
Về đặc điểm mẫu khảo sát, tỷ lệ nam và nữ khá tương đồng (54,7% và 45,3%), 100% có trình độ đại học trở lên và đại bộ phận có thâm niên công tác trên 10 năm (76,7%), đảm bảo người trả lời có đủ hiểu biết về hoạt động đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp để cung cấp thông tin chính xác, tin cậy. Về phía doanh nghiệp, quy mô lao động trên 1.000 người (40,0%) và từ 201-1.000 người (31,1%) chiếm tỷ trọng lớn nhất; lĩnh vực hoạt động được phân bố khá đồng đều giữa bốn nhóm (19,7%-30,1%), phản ánh mẫu nghiên cứu bao quát tương đối toàn diện các loại hình doanh nghiệp công nghệ phổ biến tại Việt Nam.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬNThực trạng kết quả đổi mới sản phẩm
Bảng 2: Thực trạng kết quả đổi mới sản phẩm của các doanh nghiệp
| TT | Biến quan sát | N | Trung bình | Độ lệch chuẩn |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Công ty tôi đã giới thiệu nhiều sản phẩm/dịch vụ mới ra thị trường | 528 | 3,848 | 0,721 |
| 2 | Công ty tôi thường xuyên cải tiến cho các sản phẩm/dịch vụ đã có | 528 | 3,462 | 0,769 |
| 3 | Công ty tôi thường xuyên tìm kiếm các sản phẩm/dịch vụ mới cho thị trường | 528 | 2,604 | 1,416 |
| 4 | Chúng tôi đưa ra nhiều sản phẩm/dịch vụ mới hơn so với đối thủ cạnh tranh | 528 | 3,771 | 0,751 |
| 5 | Sản phẩm/dịch vụ mới của công ty đã đóng góp đáng kể vào sự thay đổi của ngành | 528 | 3,597 | 0,825 |
|
| Trung bình chung | 528 | 3,456 | 0,564 |
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu của nhóm tác giả
Kết quả thống kê mô tả cho thấy, giá trị trung bình chung của thang đo Kết quả đổi mới sản phẩm đạt 3,456 điểm trên thang đo 5 mức độ - Mức 3, tiếp cận Mức 4 (Bảng 2), phản ánh doanh nghiệp công nghệ Việt Nam nhìn chung đã đạt được những kết quả đổi mới sản phẩm ở mức khá tích cực, song chưa đạt đến mức độ cao, đồng đều. Biến quan sát “Công ty tôi đã giới thiệu nhiều sản phẩm/dịch vụ mới ra thị trường” được đánh giá cao nhất (3,848 điểm) và “Chúng tôi đưa ra nhiều sản phẩm/dịch vụ mới hơn so với đối thủ cạnh tranh” cũng ở mức khá cao (3,771 điểm), cho thấy các doanh nghiệp công nghệ được khảo sát có tần suất tung sản phẩm mới ra thị trường tương đối tốt.
Đáng lưu ý, biến quan sát “Công ty tôi thường xuyên tìm kiếm các sản phẩm/dịch vụ mới cho thị trường” có giá trị trung bình thấp nhất và thấp bất thường so với bốn biến còn lại (2,604 điểm) - mức đánh giá thuộc Mức 3 nhưng sát ngưỡng Mức 2 - đồng thời có độ lệch chuẩn rất cao (1,416, gấp khoảng 1,7-2,5 lần độ lệch chuẩn của các biến còn lại), cho thấy mức độ phân tán, thiếu đồng thuận rất lớn trong đánh giá của người trả lời đối với biến quan sát này. Kết quả này hàm ý sự phân hóa rõ nét giữa nhóm doanh nghiệp chủ động, thường xuyên tìm kiếm sản phẩm mới cho thị trường và nhóm doanh nghiệp còn khá bị động trong hoạt động này, khác biệt hẳn so với mức độ đồng thuận khá cao ở các khía cạnh khác của kết quả đổi mới sản phẩm.
Đối chiếu với thực trạng hoạt động đổi mới sản phẩm
Bảng 3: Thực trạng hoạt động đổi mới sản phẩm của các doanh nghiệp
| TT | Biến quan sát | N | Trung bình | Độ lệch chuẩn |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Chúng tôi thường xuyên thăm hỏi khách hàng, đại lý, trung gian phân phối về nhu cầu đổi mới sản phẩm | 528 | 3,909 | 0,721 |
| 2 | Chúng tôi tích cực tham gia các triển lãm của ngành về sản phẩm mới | 528 | 3,729 | 0,760 |
| 3 | Chúng tôi tích cực nghiên cứu sản phẩm mới của đối thủ cạnh tranh | 528 | 3,441 | 0,849 |
| 4 | Chúng tôi áp dụng nhiều hình thức phỏng vấn, khảo sát nhu cầu khách hàng về sản phẩm mới | 528 | 3,337 | 0,826 |
|
| Trung bình chung | 528 | 3,604 | 0,647 |
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu của nhóm tác giả
Nếu Kết quả đổi mới sản phẩm đại diện cho thành quả cụ thể của quá trình kiến tạo sản phẩm mới thì hoạt động đổi mới sản phẩm phản ánh mức độ nỗ lực, tần suất triển khai các hành động cụ thể hướng tới đổi mới. Kết quả thống kê mô tả cho thấy trung bình thang đo Hoạt động đổi mới sản phẩm đạt 3,604 điểm (Bảng 3), cao hơn khoảng 0,15 điểm so với thang đo kết quả đổi mới sản phẩm (3,456 điểm) cho thấy mức độ nỗ lực triển khai hoạt động đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp công nghệ Việt Nam hiện đang cao hơn tương đối so với thành quả cụ thể đạt được, phản ánh một độ trễ nhất định giữa nỗ lực và kết quả thương mại hóa thực tế.
Phân tích sâu hơn cho thấy biến quan sát “Chúng tôi thường xuyên thăm hỏi khách hàng, đại lý, trung gian phân phối về nhu cầu đổi mới sản phẩm” đạt giá trị trung bình cao nhất (3,909 điểm), tiếp đến là việc tham gia các triển lãm ngành (3,729 điểm); trong khi biến quan sát mang tính hệ thống, chính thức hơn “Chúng tôi áp dụng nhiều hình thức phỏng vấn, khảo sát nhu cầu khách hàng về sản phẩm mới” lại có giá trị trung bình thấp nhất nhóm (3,337 điểm). Kết quả này cho thấy các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam đã triển khai khá tích cực các hoạt động tìm kiếm thông tin thông qua kênh tiếp xúc trực tiếp và tham gia sự kiện ngành, song hình thức khảo sát nhu cầu khách hàng một cách chính thức, có hệ thống vẫn chưa được chú trọng đúng mức.
Bối cảnh các nhân tố liên quan đến kết quả đổi mới sản phẩm
Để làm rõ thêm bối cảnh hình thành Kết quả đổi mới sản phẩm nêu trên, kết quả thống kê mô tả đối với các nhân tố được xem là có liên hệ với kết quả đổi mới sản phẩm trong Khung lý thuyết định hướng thị trường (Slater và Narver, 1995; Trương Đức Thao và Nguyễn Đức Xuân, 2020b) và Lý thuyết năng lực động (Teece và cộng sự, 1997) cho thấy một bức tranh đa chiều (Bảng 4).
Bảng 4: Tổng hợp giá trị trung bình các nhân tố liên quan (n = 528)
| Nhân tố | Trung bình | Độ lệch chuẩn | Mức đánh giá |
|---|---|---|---|
| Định hướng khách hàng | 3,274 | 0,704 | Mức 3 - Bình thường |
| Định hướng đối thủ cạnh tranh | 3,350 | 0,747 | Mức 3 - Bình thường |
| Phối hợp liên chức năng | 3,589 | 0,660 | Mức 4 - Đồng ý |
| Hoạt động nghiên cứu thị trường | 3,094 | 0,680 | Mức 3 - Bình thường |
| Chiến lược marketing | 4,000 | 0,608 | Mức 4 - Đồng ý |
| Năng lực cảm nhận số | 3,597 | 0,644 | Mức 4 - Đồng ý |
| Năng lực nắm bắt số | 2,849 | 0,737 | Mức 3 - Bình thường |
| Năng lực tái thiết lập số | 3,321 | 0,774 | Mức 3 - Bình thường |
| Hoạt động đổi mới sản phẩm | 3,604 | 0,647 | Mức 4 - Đồng ý |
| Kết quả đổi mới sản phẩm | 3,456 | 0,564 | Mức 3 - Bình thường |
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu của nhóm tác giả
Chiến lược marketing là nhân tố được đánh giá cao nhất trong số các nhân tố liên quan (4,000 điểm, Mức 4), phản ánh sự quan tâm tương đối toàn diện của doanh nghiệp công nghệ đối với các thành phần marketing hỗn hợp. Ở nhóm định hướng thị trường, Phối hợp liên chức năng được đánh giá tốt nhất (3,589 điểm), trong khi Hoạt động nghiên cứu thị trường ở mức thấp nhất trong nhóm nhân tố đầu vào (3,094 điểm) và Định hướng khách hàng cũng chỉ đạt Mức 3 (3,274 điểm) cho thấy tư duy “lấy khách hàng làm trung tâm” tại doanh nghiệp công nghệ Việt Nam vẫn còn là dư địa cải thiện quan trọng.
Đáng chú ý nhất là sự phân tầng rõ rệt giữa 3 thành phần năng lực số: Năng lực cảm nhận số đạt mức khá tốt (3,597 điểm, Mức 4), trong khi Năng lực nắm bắt số chỉ đạt 2,849 điểm (Mức 3) thấp nhất trong toàn bộ các nhân tố được thống kê và Năng lực tái thiết lập số ở mức trung bình (3,321 điểm). Khoảng cách giữa cảm nhận và nắm bắt số cho thấy phần lớn doanh nghiệp công nghệ đã biết về áp lực, cơ hội chuyển đổi số, song năng lực chuyển hóa nhận thức đó thành hành động cụ thể, chủ động tìm kiếm xu hướng công nghệ mới, xây dựng tầm nhìn số dài hạn lại còn khá hạn chế, phù hợp với quan điểm của Warner và Wäger (2019) rằng năng lực động về chuyển đổi số là một quá trình tích lũy tuần tự qua nhiều giai đoạn, không phải doanh nghiệp nào cũng đạt được sự đồng đều giữa các giai đoạn, cũng như nhận định của Annarelli và cộng sự (2021) rằng năng lực số là một cấu trúc đa chiều, phức hợp, không nên được giả định là đồng nhất giữa các chiều kích cấu thành.
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊKết quả thống kê mô tả từ khảo sát 528 doanh nghiệp công nghệ Việt Nam cho thấy Kết quả đổi mới sản phẩm hiện đang ở mức khá tích cực nhưng chưa cao (trung bình 3,456 điểm), thấp hơn khoảng 0,15 điểm so với Hoạt động đổi mới sản phẩm (3,604 điểm) phản ánh một độ trễ nhất định giữa nỗ lực triển khai và thành quả thương mại hóa cụ thể. Phát hiện đáng chú ý nhất là mức độ phân tán rất lớn trong đánh giá về việc “thường xuyên tìm kiếm sản phẩm/dịch vụ mới cho thị trường” (trung bình 2,604 điểm, độ lệch chuẩn 1,416) cho thấy, sự phân hóa rõ nét giữa nhóm doanh nghiệp chủ động và nhóm còn bị động trong việc tìm kiếm cơ hội sản phẩm mới. Bên cạnh đó, bối cảnh các nhân tố liên quan cho thấy sự phân tầng rõ rệt trong năng lực số của doanh nghiệp, đặc biệt là Năng lực nắm bắt số đạt mức thấp nhất trong toàn bộ các nhân tố được thống kê (2,849 điểm). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý như sau:
Đối với doanh nghiệp: Cần chính thức hóa hoạt động khảo sát, tìm kiếm sản phẩm mới cho thị trường, thay vì để tùy thuộc vào sự chủ động không đồng đều giữa các bộ phận, đồng thời ưu tiên đầu tư phát triển năng lực nắm bắt xu hướng công nghệ - nhân tố hiện có mức độ thực hành thấp nhất nhưng có vai trò nền tảng để chuyển hóa nhận thức chuyển đổi số thành hành động cụ thể.
Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Thực trạng 77,3% doanh nghiệp không đầu tư R&D và hơn 80% doanh nghiệp tự thực hiện đổi mới nội bộ cho thấy cần có chính sách khuyến khích mạnh mẽ hơn việc liên kết giữa doanh nghiệp công nghệ với các viện nghiên cứu, trường đại học nhằm hỗ trợ hoạt động tìm kiếm, tiếp cận sản phẩm và công nghệ mới một cách hệ thống hơn.
Tài liệu tham khảo:1. Annarelli, A., Battistella, C., Nonino, F., Parida, V., & Pessot, E. (2021). Literature review on digitalization capabilities: Co-citation analysis of antecedents, conceptualization and consequences. Technological Forecasting and Social Change, 166, 120635. https://doi.org/10.1016/j.techfore.2021.120635
2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Báo cáo số liệu nổi bật lĩnh vực đổi mới sáng tạo năm 2025. Cổng thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công nghệ.
3. Estrada, I., Faems, D., & de Faria, P. (2016). Coopetition and product innovation performance: The role of internal knowledge sharing mechanisms and formal knowledge protection mechanisms. Industrial Marketing Management, 53, 56-65.
4. Hai, H. V., Xuan, N. D., Thao, T. D., & Hien, P. T. T. (2021). The effects of strategy and market orientation on the performance of Vietnamese startups. Management Science Letters, 11(4).
5. Hair, J. F., Anderson, R. E., Tatham, R. L., & Black, W. C. (1998). Multivariate Data Analysis with Readings. Prentice-Hall.
6. Hiền Minh (2025). Hội tụ đủ yếu tố để doanh nghiệp công nghệ số phát triển mạnh mẽ. Báo Điện tử Chính phủ.
7. Khin, S., & Ho, T. C. (2019). Digital technology, digital capability and organizational performance: A mediating role of digital innovation. International Journal of Innovation Science, 11(2), 177-195. https://doi.org/10.1108/IJIS-08-2018-0083
8. Kim, W. C., & Mauborgne, R. (1997). Value innovation. Harvard Business Review, 75(1), 102-112.
9. Lawson, B., & Samson, D. A. (2001). Developing innovation capability in organisations: A dynamic capabilities approach. International Journal of Innovation Management, 5(3), 377-400.
10. Manual, O. (2005). Guidelines for collecting and interpreting innovation data. OECD/European Communities.
11. Narver, J. C., & Slater, S. F. (1990). The effect of a market orientation on business profitability. Journal of Marketing, 54(4), 20–35.
12. Nhâm Phong Tuân (2016). Phân tích đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
13. Olson, C. A., & Schwab, A. (2000). The performance effects of human resource practices: The case of interclub networks in professional baseball, 1991-1940. Industrial Relations, 39(4), 553-577.
14. Razli, I. A. (2009). Factors affecting new product development in Malaysian manufacturing industry. International Bulletin of Business Administration, 6, 38-48.
15. Shoham, A. (1999). Bounded rationality, planning, standardization of international strategy, and export performance: A structural model examination. Journal of International Marketing, 7(2), 24-50.
16. Slater, S. F., & Narver, J. C. (1995). Market orientation and the learning organization. Journal of Marketing, 59(3), 63-74.
17. Sok, P., & O'Cass, A. (2015). Examining the new product innovation-performance relationship: Optimizing the role of individual-level creativity and attention-to-detail. Industrial Marketing Management, 47, 156–165.
18. Teece, D. J., Pisano, G., & Shuen, A. (1997). Dynamic capabilities and strategic management. Strategic Management Journal, 18(7), 509–533.
19. Thanh, T. T., Ha, L., Dung, H., Thang, D., & Ngoc, T. (2020). Determinants of marketing innovation among SMEs in Vietnam: A resource-based and stakeholder perspective. Innovative Marketing, 16(4), 74–90.
20. Thu Giang (2025). Việt Nam có khoảng 4.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Báo Chính phủ. https://www.vietnam.vn/viet-nam-co-khoang-4-000-doanh-nghiep-khoi-nghiep-sang-tao
21. Trương Đức Thao, & Nguyễn Đức Xuân (2020a). Thực trạng định hướng thị trường và mối quan hệ tác động đến kết quả hoạt động của các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, 511(12), 33-42.
22. Trương Đức Thao, & Nguyễn Đức Xuân (2020b). Thực trạng định hướng thị trường và mối quan hệ tác động đến kết quả hoạt động của các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu Kinh tế, 511(12), 33-42.
23. Trương Đức Thao và cộng sự (2022). Tác động của vốn tri thức đến đổi mới sáng tạo và kết quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam. Tạp chí Khoa học Thương mại, (164), 38-47.
24. Warner, K. S. R., & Wäger, M. (2019). Building dynamic capabilities for digital transformation: An ongoing process of strategic renewal. Long Range Planning, 52(3), 326-349. https://doi.org/10.1016/j.lrp.2018.12.001
| Ngày nhận bài: 20/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 5/10/2026; Ngày duyệt đăng: 19/10/2026 |
Các tin khác
Thị trường lao động nghề môi giới bất động sản ở Việt Nam: Thực trạng và xu hướng chuyển dịch
Ưu tiên chính sách khuyến khích đầu tư công tư cho hạ tầng tái chế rơm rạ ở Đồng bằng sông Hồng: Tiếp cận từ mô hình phân tích thứ bậc
Quản lý sản xuất sầu riêng theo hướng bền vững: Nghiên cứu trường hợp tại xã Ea Knuếc, tỉnh Đắk Lắk
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mô hình trồng nho kết hợp du lịch sinh thái: Nghiên cứu trường hợp tại xã Ninh Hải, tỉnh Khánh Hòa
Từ nhận diện đến kết nối: Mô hình 4C thiết kế trải nghiệm điểm chạm tại Cù Lao Chàm
Minh bạch hóa và quyền phản hồi trong quản lý rủi ro thuế ở Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị giải pháp hoàn thiện
Tác động của thanh toán số đến hành vi mua sắm trực tuyến của thế hệ Z tại TP. Hồ Chí Minh
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ đào tạo: Nghiên cứu trường hợp Trường Cao đẳng Dược Hà Nội
Trí tuệ nhân tạo và thách thức trong kỷ nguyên số: Bối cảnh kế toán và kiểm toán
