Minh bạch hóa và quyền phản hồi trong quản lý rủi ro thuế ở Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị giải pháp hoàn thiện

Nghiên cứu - Trao đổi 21:50 | 19/10/2026
Trong bối cảnh áp dụng cơ chế tự khai, tự tính và tự nộp, cơ quan Thuế không thể duy trì nguồn lực để kiểm tra toàn diện mọi người nộp thuế với cùng một mức độ. Do đó, quản lý rủi ro trở thành phương thức cốt lõi để phân bổ hiệu quả nguồn lực: dữ liệu được thu thập và phân tích nhằm nhận diện khả năng không tuân thủ, xác định thứ tự ưu tiên thanh tra, kiểm tra và lựa chọn các biện pháp quản lý phù hợp.

TS. Nguyễn Thị Mai Dung

Email: [email protected]

Trần Thị Thuyên

Email: [email protected]

Tóm tắt

Quản lý thuế dựa trên rủi ro giúp cơ quan Thuế tập trung nguồn lực vào trường hợp có khả năng không tuân thủ và giảm can thiệp đối với người nộp thuế chấp hành tốt. Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 và Thông tư số 94/2026/TT-BTC ngày 1/7/ 2026 đã chuyển từ quản lý rủi ro đơn lẻ sang mô hình kết hợp quản lý tuân thủ, dữ liệu số và công nghệ phân tích. Tuy nhiên, chưa có thủ tục đầy đủ để người nộp thuế được thông báo về mức phân loại, nhóm nguyên nhân chính, sửa dữ liệu, giải trình và yêu cầu xem xét lại trước khi kết quả này dẫn đến biện pháp quản lý bất lợi. Bài viết phân tích, đánh giá những điểm mới; đồng thời chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, từ đó kiến nghị giải pháp hoàn thiện cơ chế minh bạch theo tầng, phản hồi điện tử, kiểm soát của con người và rà soát độc lập.

Từ khóa: Quản lý rủi ro thuế, phân loại rủi ro, minh bạch, quyền phản hồi, người nộp thuế

Abstract

Risk-based tax administration enables tax authorities to concentrate resources on cases with a higher likelihood of non-compliance while reducing intervention with compliant taxpayers. The Law on Tax Administration No. 108/2025/QH15 and Circular No. 94/2026/TT-BTC dated 1 July 2026 have shifted the approach from standalone risk management to a model that combines compliance management, digital data, and analytical technologies. However, comprehensive procedures are not yet in place to ensure that taxpayers are informed of their risk classifications and the main reasons underlying them, can correct data, receive explanations, and request a review before these results lead to adverse administrative measures. This article analyzes and evaluates the key developments while identifying existing shortcomings and limitations. It then recommends measures to improve the mechanism through tiered transparency, electronic feedback, human oversight, and independent review.

Keywords: Tax risk management, risk classification, transparency, right to respond, taxpayers

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh áp dụng cơ chế tự khai, tự tính và tự nộp, cơ quan Thuế không thể duy trì nguồn lực để kiểm tra toàn diện mọi người nộp thuế với cùng một mức độ. Do đó, quản lý rủi ro trở thành phương thức cốt lõi để phân bổ hiệu quả nguồn lực: dữ liệu được thu thập và phân tích nhằm nhận diện khả năng không tuân thủ, xác định thứ tự ưu tiên thanh tra, kiểm tra và lựa chọn các biện pháp quản lý phù hợp.

Tại Việt Nam, Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 đã đưa công tác quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ, ứng dụng công nghệ, dữ liệu số và chuyển đổi số vào một chương riêng; đồng thời cho phép phân nhóm người nộp thuế theo ngành nghề, loại hình, quy mô, lịch sử hoạt động và mức độ tuân thủ (Quốc hội, 2025). Việc áp dụng các tiêu chí rủi ro đã hỗ trợ đắc lực trong lựa chọn đối tượng thanh tra, kiểm tra có trọng tâm và thúc đẩy quá trình hiện đại hóa ngành Thuế. Nghiên cứu về giai đoạn thực thi Thông tư số 31/2021/TT-BTC (Bộ Tài chính, 2021) ghi nhận cơ chế này đã góp phần tiết kiệm nguồn lực, tăng tính khách quan trong việc lựa chọn đối tượng và từng bước chuẩn hóa quy trình đánh giá tuân thủ, phân loại rủi ro. Kế thừa nền tảng đó, từ ngày 1/7/2026, Thông tư số 94/2026/TT-BTC chính thức thay thế Thông tư số 31/2021/TT-BTC, mở rộng mô hình quản lý theo hướng đồng bộ hóa hành vi tuân thủ và quản lý rủi ro thuế (Bộ Tài chính, 2026).

Mặc dù vậy, việc phân loại dựa trên dữ liệu lớn và hệ thống tự động cũng làm phát sinh những rủi ro và thách thức mới. Người nộp thuế có thể bị xếp vào nhóm rủi ro cao xuất phát từ nguyên nhân khách quan như dữ liệu chậm cập nhật, thông tin từ bên thứ ba chưa chính xác, hoặc hệ thống tiêu chí chưa phản ánh đầy đủ đặc thù kinh doanh. Dù kết quả phân loại không đồng nghĩa với kết luận vi phạm pháp luật, nhưng nó lại trực tiếp chi phối các biện pháp quản lý bất lợi như tăng cường giám sát, siết chặt thủ tục hoàn thuế, quản lý nợ và quản lý hóa đơn. Vì vậy, yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý thuế phải đi đôi với việc bảo đảm quyền hợp pháp của người nộp thuế trong việc được thông báo, giải trình, đính chính dữ liệu và yêu cầu xem xét lại kết quả đánh giá.

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, bài viết tập trung phân tích, đánh giá những điểm mới của khung pháp luật hiện hành về quản lý rủi ro thuế, chỉ ra các khoảng trống pháp lý còn tồn tại, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm bảo đảm sự minh bạch và quyền phản hồi của người nộp thuế ở Việt Nam.

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ MINH BẠCH VÀ PHẢN HỒI TRONG PHÂN LOẠI RỦI RO THUẾ

Luật Quản lý thuế năm 2025 thiết lập 2 lớp quản lý. Điều 3 của Luật quy định về phân loại nhóm người nộp thuế để xác định ưu tiên, phân bổ nguồn lực và áp dụng quy trình. Chương V quy định đánh giá tuân thủ và rủi ro. Điều 32 yêu cầu hoạt động này phải khách quan, minh bạch, đúng pháp luật, không được phân biệt đối xử; dựa trên dữ liệu cập nhật và phù hợp từng nhóm đối tượng.

Thông tư số 94/2026/TT-BTC cụ thể hóa quy định thiết lập 2 lớp quản lý trong Luật Quản lý thuế thành 4 mức tuân thủ: tốt, trung bình, thấp và không tuân thủ; mức rủi ro gồm cao, trung bình và thấp. Kết quả tuân thủ là căn cứ phân loại rủi ro và lựa chọn biện pháp quản lý. Vì vậy, rủi ro không có nghĩa là vi phạm mà là sự đánh giá khả năng không tuân thủ.

Hoạt động đánh giá sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp phương pháp chấm điểm, học máy và xếp hạng theo danh mục. Dữ liệu gồm thông tin đăng ký, kê khai, nộp thuế, hóa đơn, hoàn thuế, kiểm tra và nguồn hợp pháp khác. Phân hệ quản lý tuân thủ và rủi ro thuế thực hiện chuẩn hóa, đối soát, hợp nhất và phân tích dữ liệu; chấm điểm, cảnh báo, đề xuất biện pháp.

Kết quả phân tích, dự báo, chấm điểm và phân loại của hệ thống chỉ hỗ trợ người có thẩm quyền và không thay thế trách nhiệm ban hành quyết định hoặc thực hiện nghiệp vụ. Mô hình học máy, trí tuệ nhân tạo phải khách quan, minh bạch, kiểm soát được, có khả năng truy vết, giải trình, được kiểm thử và giám sát. Hệ thống phải lưu nhật ký truy cập và xử lý. Khi dữ liệu thay đổi nhưng ứng dụng chưa cập nhật, công chức thuế chỉ được điều chỉnh thủ công sau khi được phê duyệt.

Cách tiếp cận trên phù hợp với pháp luật của nhiều nước trên thế giới. Tổ chức Hợp tác và Phát triển châu Âu (OECD) ghi nhận dữ liệu lớn, học máy và trí tuệ nhân tạo ngày càng được dùng để đánh giá rủi ro, phát hiện gian lận. OECD đồng thời nhấn mạnh yêu cầu quản trị dữ liệu, kiểm soát sai lệch, minh bạch và truy vết trong vòng đời hệ thống (OECD,2025).

Dù chỉ mang tính hỗ trợ, kết quả phân loại có tác động đáng kể. Hồ sơ khai thuế rủi ro cao được ưu tiên phân tích; hồ sơ hoàn thuế rủi ro cao về nguyên tắc thuộc diện kiểm tra trước, hoàn sau; người nộp thuế rủi ro cao được ưu tiên kiểm tra hoặc giám sát. Ít nhất 90% trường hợp kiểm tra theo kế hoạch tại trụ sở người nộp thuế được lựa chọn dựa trên phân tích, đánh giá và phân loại; lựa chọn ngẫu nhiên không quá 10% (Bộ Tài chính, 2026, khoản 1 Điều 17). Do đó, cần phân biệt giá trị pháp lý hình thức với ảnh hưởng thực tế của kết quả chấm điểm.

Luật Quản lý thuế năm 2025 bước đầu tạo cơ sở để người nộp thuế kiểm tra và phản hồi. Quá trình xử lý tự động phải được ghi lịch sử, cho phép tra cứu, kiến nghị, yêu cầu làm rõ hoặc điều chỉnh thông tin sai lệch. Người nộp thuế có quyền được giải thích, giải trình, bảo lưu ý kiến, khiếu nại đối với quyết định hoặc hành vi hành chính có liên quan. Tuy nhiên, các quyền này chưa được kết nối trực tiếp thành một thủ tục riêng để thông báo, phản hồi và xem xét lại kết quả phân loại rủi ro.

QUY ĐỊNH MỚI VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG QUẢN LÝ THUẾ TẠI VIỆT NAM

Thứ nhất, minh bạch đã trở thành yêu cầu pháp lý xuyên suốt. Pháp luật hiện hành quy định quản lý thuế phải công khai, minh bạch, lấy người nộp thuế làm trung tâm; Nội dung này được cụ thể hóa trong Thông tư số 94/2026/TT-BTC với yêu cầu dữ liệu khách quan, kết quả có thể truy vết và mô hình được kiểm thử, đây là quy định mới thể hiện rõ hơn trách nhiệm quản trị công nghệ so với quy định trước đây trong Thông tư số 31/2021/TT-BTC.

Thứ hai, quy định về đánh giá rủi ro không thay thế trách nhiệm thẩm định của công chức Thuế, nhằm tránh sự phụ thuộc máy móc vào các thuật toán. Khi có thông tin xác thực cho thấy mức độ rủi ro đã giảm, cơ quan Thuế có thể loại bỏ người nộp thuế khỏi danh sách kiểm tra. Tuy nhiên, việc thay đổi này phải có căn cứ rõ ràng và gắn liền với trách nhiệm giải trình. Vì vậy, dữ liệu đầu ra từ hệ thống bắt buộc phải được kiểm chứng bằng nhận định chuyên môn và tình hình thực tế tại thời điểm ra quyết định.

Thứ ba, quản lý rủi ro được gắn với hỗ trợ tuân thủ. Người tuân thủ tốt có thể được xem xét hưởng chế độ ưu tiên; trường hợp cần nâng cao tuân thủ có thể được hướng dẫn, đối thoại, cảnh báo sớm và hỗ trợ sửa sai. Cách tiếp cận này phù hợp với khung quản lý rủi ro tuân thủ của OECD, theo đó cơ quan thuế cần lựa chọn biện pháp can thiệp tương ứng với nguyên nhân và mức độ rủi ro; việc hỗ trợ tuân thủ cần được kết hợp với các biện pháp kiểm soát phù hợp (OECD, 2004). Yêu cầu minh bạch, khả năng giải thích và giám sát có ý nghĩa đặc biệt khi công nghệ tự động được sử dụng trong hoạt động công quyền (OECD, 2025)

Thứ tư, kênh phản hồi điện tử đã được luật hóa. Khả năng tra cứu lịch sử xử lý, kiến nghị và yêu cầu làm rõ tạo nền tảng cho quan hệ tương tác. Cách tiếp cận Tax Administration 3.0 nhấn mạnh việc tích hợp quản lý thuế vào các hệ thống và quy trình số, qua đó đặt ra yêu cầu thiết kế dịch vụ thuế lấy người nộp thuế làm trung tâm (OECD, 2020). Tuy nhiên, nhận định về quyền kiểm tra dữ liệu hoặc chất vấn quyết định tự động cần được hiểu là định hướng chính sách, không phải tự thân là một quyền cụ thể đã được OECD xác lập thành quy phạm pháp luật áp dụng trực tiếp tại Việt Nam.

MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG QUẢN LÝ THUẾ TẠI VIỆT NAM

Một là, quy định về phạm vi minh bạch chưa rõ. Mặc dù Thông tư số 94/2026/TT-BTC công khai nhóm tiêu chí tại phụ lục, nhưng điểm số, trọng số và biện pháp kỹ thuật do Cục Thuế hướng dẫn. Quy định này tạo sự linh hoạt, hạn chế hành vi đối phó, song khiến người nộp thuế khó nhận biết dữ liệu sai. Minh bạch không đòi hỏi công khai mã nguồn hay ngưỡng chống gian lận, nhưng cần cho biết mức phân loại, kỳ đánh giá, nhóm dữ liệu và nguyên nhân chính.

Hai là, pháp luật hiện hành chưa quy định nghĩa vụ thông báo về kết quả phân loại. Kết quả được cập nhật để cơ quan thuế sử dụng và người nộp thuế nhận cảnh báo từ cơ quan thuế có thẩm quyền. Pháp luật hiện hành chưa có quy định về trường hợp, nội dung, thời điểm thông báo, thời hạn phản hồi và trách nhiệm trả lời. Vì vậy, người nộp thuế có thể chỉ biết mình thuộc nhóm rủi ro cao khi được yêu cầu giải trình hoặc kiểm tra.

Ba là, quyền sửa dữ liệu chưa đồng bộ với hồ sơ rủi ro. Mặc dù theo Điều 37 Luật Quản lý thuế 2025 và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 cho phép người nộp thuế đính chính thông tin, nhưng hồ sơ rủi ro lại phức tạp vì chứa dữ liệu từ bên thứ ba và kết quả suy luận thuật toán. Pháp luật hiện chưa quy định rõ cơ quan đầu mối để thực hiện quy trình gồm các giai đoạn: tiếp nhận, xác minh nguồn gốc, đánh dấu dữ liệu đang tranh chấp và phân loại lại rủi ro sau khi đã sửa lỗi.

Bốn là, khiếu nại chưa thể thay thế thủ tục xem xét lại kết quả phân loại. Do kết quả hệ thống chỉ là thông tin hỗ trợ, người nộp thuế khó khiếu nại riêng như quyết định hành chính. Nếu chờ đến khi có quyết định kiểm tra hoặc thay đổi trình tự hoàn thuế, chi phí bảo vệ quyền đã phát sinh. OECD nhấn mạnh những rủi ro về chất lượng dữ liệu, sai lệch, tính minh bạch và khả năng giải thích khi ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý thuế; các vấn đề này củng cố cơ sở chính sách cho việc thiết lập cơ chế rà soát và giải trình phù hợp (OECD, 2025)

GIẢI PHÁP HOÀN HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG QUẢN LÝ THUẾ TẠI VIỆT NAM

Thứ nhất, cần hoàn thiện quy định về tính minh bạch trong phân loại rủi ro. Pháp luật hiện hành cần làm rõ kết quả phân loại chỉ nhằm định hướng biện pháp quản lý, không phải là kết luận vi phạm hay căn cứ duy nhất để xử phạt. Theo đó, cơ quan Thuế phải công khai bộ tiêu chuẩn, nguồn dữ liệu, kỳ đánh giá và hệ quả quản lý tương ứng với từng nhóm nhưng cần bảo mật các trọng số thuật toán, ngưỡng cảnh báo và quy tắc chống gian lận.

Thứ hai, bổ sung quy định về nghĩa vụ thông báo của cơ quan Thuế và quyền phản hồi của người nộp thuế. Khi kết quả phân loại có thể ảnh hưởng đến thời gian xử lý, chi phí tuân thủ hoặc quyền lợi, cơ quan Thuế cần thông báo mức phân loại, kỳ đánh giá, nguyên nhân và hướng khắc phục. Người nộp thuế được giải trình hoặc đề nghị rà soát điện tử. Trường hợp cần ngăn ngừa gian lận có thể thông báo sau nhưng cần nêu rõ căn cứ.

Thứ ba, xây dựng quy trình sửa dữ liệu gắn với phân loại lại. Dữ liệu ảnh hưởng đáng kể phải xác định được nguồn và chủ thể chịu trách nhiệm. Khi có phản hồi, cơ quan Thuế phải đánh dấu dữ liệu đang kiểm chứng. Nếu phát hiện sai sót, dữ liệu phải được sửa tại nguồn, sau đó đánh giá lại và thông báo cho người nộp thuế. Quy trình này phải phù hợp với pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và yêu cầu chống gian lận thuế.

Thứ tư, thiết lập cơ chế xem xét lại theo hai cấp. Cấp đầu xử lý nhanh sai sót dữ liệu và tình tiết bị bỏ sót; cấp tiếp theo do bộ phận độc lập tương đối thực hiện đối với vụ việc phức tạp. Kết quả rà soát phải được trả lời bằng văn bản điện tử, nêu rõ căn cứ và có thể sử dụng khi khiếu nại hoặc tố tụng nếu phát sinh quyết định hành chính

KẾT LUẬN

Luật Quản lý thuế năm 2025 và Thông tư số 94/2026/TT-BTC đã tạo nền tảng hiện đại cho quản lý tuân thủ và rủi ro thuế, đặc biệt qua các yêu cầu về dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, truy vết, giải trình và trách nhiệm của người ra quyết định. Tuy vậy, các quy định này chưa thể khẳng định được người nộp thuế hiểu và phản hồi được kết quả tác động đến mình. Khoảng trống trọng tâm là thiếu thủ tục thông báo, giải thích, sửa dữ liệu và xem xét lại mức phân loại trước khi áp dụng biện pháp bất lợi. Hoàn thiện cơ chế này sẽ giúp giảm cảnh báo sai và tranh chấp, nâng chất lượng dữ liệu, củng cố niềm tin, qua đó làm cho quản lý rủi ro hiệu quả và bền vững hơn.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Tài chính (2021). Thông tư số 31/2021/TT-BTC ngày 17/5/2021 quy định về quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan/thuế.

2. Bộ Tài chính (2026). Thông tư số 94/2026/TT-BTC ngày 01/7/2026 quy định về quản lý rủi ro và quản lý tuân thủ trong quản lý thuế.

3. OECD (2004). Compliance risk management: Managing and improving tax compliance. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/9789264023765-en

4. OECD (2020). Tax administration 3.0: The digital transformation of tax administration. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/f7c00f5e-en

5. OECD (2025). Tax administration 2025. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/7b2e35b7-en

6. Quốc hội (2025). Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 ngày 26/6/2025.

7. Quốc hội (2025). Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 ngày 10/12/2025.

Ngày nhận bài: 20/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 5/10/2026; Ngày duyệt đăng: 19/10/2026

Các tin khác

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mô hình trồng nho kết hợp du lịch sinh thái: Nghiên cứu trường hợp tại xã Ninh Hải, tỉnh Khánh Hòa

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mô hình trồng nho kết hợp du lịch sinh thái: Nghiên cứu trường hợp tại xã Ninh Hải, tỉnh Khánh Hòa

Chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp gắn với phát triển du lịch nông thôn, du lịch sinh thái đang là xu thế phát triển bền vững tại nhiều địa phương ở Việt Nam. Xã Ninh Hải (tỉnh Khánh Hòa) sở hữu những điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu đặc thù, rất thích hợp cho việc phát triển cây nho - loại cây ăn quả đặc sản có giá trị kinh tế cao và tạo cảnh quan độc đáo.
Từ nhận diện đến kết nối: Mô hình 4C thiết kế trải nghiệm điểm chạm tại Cù Lao Chàm

Từ nhận diện đến kết nối: Mô hình 4C thiết kế trải nghiệm điểm chạm tại Cù Lao Chàm

Tại điểm đến văn hóa - sinh thái, từng sản phẩm có thể hoạt động tốt nhưng hành trình vẫn đứt gãy nếu nhận diện thiếu nội dung xác thực, diễn giải không gắn đúng nơi, tương tác biến cư dân thành người trình diễn hoặc trải nghiệm không mở ra hành động tiếp theo.
Tác động của thanh toán số đến hành vi mua sắm trực tuyến của thế hệ Z tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của thanh toán số đến hành vi mua sắm trực tuyến của thế hệ Z tại TP. Hồ Chí Minh

Thanh toán số ngày càng tác động đến hành vi mua sắm trực tuyến, góp phần thay đổi thói quen tiêu dùng và nâng cao trải nghiệm mua sắm của khách hàng.
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ đào tạo: Nghiên cứu trường hợp Trường Cao đẳng Dược Hà Nội

Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ đào tạo: Nghiên cứu trường hợp Trường Cao đẳng Dược Hà Nội

Việc đánh giá và nâng cao chất lượng dịch vụ đào tạo không chỉ là một yêu cầu về mặt quản lý, mà còn là một chiến lược sống còn để thu hút và giữ chân người học, đảm bảo đầu ra đáp ứng được kỳ vọng của nhà tuyển dụng.
Trí tuệ nhân tạo và thách thức trong kỷ nguyên số: Bối cảnh kế toán và kiểm toán

Trí tuệ nhân tạo và thách thức trong kỷ nguyên số: Bối cảnh kế toán và kiểm toán

AI đang chuyển dịch vai trò của công nghệ trong kế toán và kiểm toán từ hỗ trợ xử lý giao dịch sang tham gia phân tích, nhận diện mẫu hình và đề xuất quyết định. Học máy, khai phá dữ liệu và các mô hình tạo sinh có thể xử lý khối lượng dữ liệu lớn với tốc độ vượt xa phương pháp thủ công.
Từ kế toán số đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp: Đề xuất mô hình về vai trò trung gian của chuyển đổi số và điều tiết của phong cách lãnh đạo chuyển đổi

Từ kế toán số đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp: Đề xuất mô hình về vai trò trung gian của chuyển đổi số và điều tiết của phong cách lãnh đạo chuyển đổi

Tại Việt Nam, mục tiêu kinh tế số đóng góp 30% GDP vào năm 2030 được xác định tại Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 được phê duyệt theo Quyết định số 411/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhằm tiếp tục thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới quy trình và tăng cường ứng dụng công nghệ.
Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và thu hút FDI của Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Thực trạng và triển vọng

Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và thu hút FDI của Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Thực trạng và triển vọng

Những năm gần đây, chuỗi cung ứng toàn cầu đang trải qua quá trình tái cấu trúc sâu sắc. Quá trình này không chỉ làm thay đổi cấu trúc thương mại quốc tế, mà còn tạo ra sự dịch chuyển trong phân bổ dòng vốn FDI giữa các quốc gia.
Tín dụng bất động sản Việt Nam: Thực trạng và những vẫn đề đặt ra

Tín dụng bất động sản Việt Nam: Thực trạng và những vẫn đề đặt ra

Do đặc thù cần vốn lớn, thời gian đầu tư và thu hồi vốn dài, tín dụng ngân hàng trở thành nguồn vốn quan trọng đối với doanh nghiệp và người dân tham gia thị trường bất động sản.
Tác động của tiêu chuẩn ESG đến quản trị nguồn nhân lực tại doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam

Tác động của tiêu chuẩn ESG đến quản trị nguồn nhân lực tại doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam

Nhiều mục tiêu môi trường, xã hội và quản trị (ESG) phụ thuộc vào cách doanh nghiệp hoạch định lao động, tuyển dụng, đào tạo, đánh giá, trả thưởng, đối thoại, quản lý an toàn và kiểm soát nhà thầu. Nếu quản trị nguồn nhân lực không được thiết kế đồng bộ, cam kết ESG dễ dừng ở tuyên bố, thiếu dữ liệu và không chuyển thành hành vi.
Cơ chế tài chính thúc đẩy phát triển bền vững khu công nghiệp: Bằng chứng thực tiễn và hàm ý cho Nghệ An

Cơ chế tài chính thúc đẩy phát triển bền vững khu công nghiệp: Bằng chứng thực tiễn và hàm ý cho Nghệ An

Tại các KCN, tập trung sản xuất đồng thời làm gia tăng nhu cầu năng lượng, nước, xử lý chất thải và dịch vụ xã hội. Do đó, đánh giá phát triển bền vững KCN phải xem xét hiệu quả sử dụng tài nguyên, chất lượng việc làm và khả năng kiểm soát tác động môi trường, bên cạnh vốn đăng ký hoặc tỷ lệ lấp đầy.