Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mô hình trồng nho kết hợp du lịch sinh thái: Nghiên cứu trường hợp tại xã Ninh Hải, tỉnh Khánh Hòa
Nguyễn Tri Nhã Mai
Công ty TNHH Trung tâm Nha khoa Tân Định; Email: [email protected]
Chung Hữu Hiếu
Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh; Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu này phân tích các nhân tố chi phối quyết định của nông hộ trong việc chuyển đổi từ hoạt động trồng nho truyền thống sang mô hình kết hợp với du lịch sinh thái tại xã Ninh Hải, tỉnh Khánh Hòa. Qua khảo sát thực nghiệm 280 chủ hộ trồng nho trên địa bàn, kết quả thực nghiệm cho thấy cả 6 nhóm nhân tố trong mô hình đề xuất đều có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê. Trong đó, Nhận thức về hiệu quả kinh tế và Sự hỗ trợ chính sách từ chính quyền địa phương được ghi nhận là 2 đòn bẩy chi phối mạnh mẽ nhất. Bên cạnh đó, Khả năng tiếp cận nguồn vốn tài chính - tín dụng, Điều kiện cơ sở hạ tầng - vị trí địa lý, Mạng lưới liên kết - truyền thông tiếp thị, Vốn nhân lực và kinh nghiệm của chủ hộ đóng vai trò bệ đỡ quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình kinh doanh này. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hệ thống giải pháp và hàm ý quản trị thiết thực cho chính quyền địa phương lẫn nông hộ nhằm hoàn thiện quy hoạch không gian, nâng cao năng lực sinh kế và thúc đẩy chuỗi liên kết du lịch nông nghiệp phát triển bền vững.
Từ khóa: Trồng nho, du lịch sinh thái, quyết định nông hộ, binary Logistic, xã Ninh Hải
Abstract
The study analyzes the factors influencing farm households’ decisions to transition from traditional grape cultivation to a model integrating grape production with ecotourism in Ninh Hai Commune, Khanh Hoa Province. Based on an empirical survey of 280 grape-growing household heads in the study area, the results show that all six groups of factors in the proposed model have positive and statistically significant effects. Among these, perceived economic benefits and policy support from local authorities are identified as the two most influential drivers. In addition, access to financial and credit resources, infrastructure conditions and geographical location, networking and marketing communications, and the household head’s human capital and experience play important supporting roles in promoting the transition to this business model. On this basis, the study proposes a set of practical solutions and managerial implications for both local authorities and farm households to improve spatial planning, enhance livelihood capacity, and promote the sustainable development of agricultural tourism value chains.
Keywords: Grape cultivation, ecotourism, farm household decision-making, binary logistic regression, Ninh Hai Commune
GIỚI THIỆU
Chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp gắn với phát triển du lịch nông thôn, du lịch sinh thái đang là xu thế phát triển bền vững tại nhiều địa phương ở Việt Nam. Xã Ninh Hải (tỉnh Khánh Hòa) sở hữu những điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu đặc thù, rất thích hợp cho việc phát triển cây nho - loại cây ăn quả đặc sản có giá trị kinh tế cao và tạo cảnh quan độc đáo. Những năm gần đây, việc kết hợp giữa sản xuất nho chất lượng cao với cung cấp dịch vụ tham quan, trải nghiệm thu hoạch tại vườn, thưởng thức các sản phẩm chế biến từ nho (rượu nho, mật nho, nho khô) đã đem lại nguồn thu nhập vượt trội cho nhiều hộ gia đình.
Tuy nhiên, việc chuyển đổi từ mô hình canh tác nho truyền thống sang mô hình kết hợp du lịch sinh thái không đơn thuần là sự thay đổi về kỹ thuật nông nghiệp, mà đòi hỏi sự thay đổi toàn diện về nhận thức, kỹ năng dịch vụ, năng lực tài chính và đầu tư cơ sở hạ tầng. Thực tế tại xã Ninh Hải cho thấy, tỷ lệ nông hộ tham gia và duy trì thành công mô hình này chưa đồng đều. Nhiều nông hộ vẫn gặp khó khăn về vốn, thiếu kiến thức làm du lịch, hạn chế trong tiếp thị hoặc lo ngại về rủi ro biến động thị trường.
Do đó, nghiên cứu nhằm xác định và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định lựa chọn mô hình trồng nho kết hợp du lịch sinh thái của nông hộ tại xã Ninh Hải. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm về quyết định chuyển đổi mô hình sản xuất, kinh doanh của nông hộ, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất chính sách hỗ trợ và phát triển du lịch nông nghiệp bền vững tại địa phương.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Nghiên cứu này xây dựng một khung lý thuyết tích hợp dựa trên 3 nền tảng lý thuyết kinh điển trong nghiên cứu hành vi kinh tế và phát triển nông thôn.
Trước hết, Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) cung cấp luận điểm quan trọng trong việc giải mã cơ chế hình thành quyết định của nông hộ. Theo TPB, hành vi thực tế của cá nhân chịu sự chi phối trực tiếp bởi ý định hành vi, vốn được định hình từ 3 nhân tố cốt lõi: thái độ đối với hành vi, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Vận dụng vào bối cảnh nghiên cứu, thái độ được thể hiện qua mức độ đánh giá tích cực của người dân đối với giá trị kinh tế mà mô hình du lịch mang lại; chuẩn mực chủ quan đại diện cho ảnh hưởng từ kỳ vọng của cộng đồng, sự khuyến khích từ đồng nghiệp và các định hướng chính sách từ chính quyền địa phương; trong khi nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh niềm tin của chủ hộ vào khả năng làm chủ mô hình dựa trên việc tự đánh giá các nguồn lực sẵn có.
Tuy nhiên, việc đưa ra quyết định không chỉ xuất phát từ ý định hay tâm lý hành vi mà còn phụ thuộc vào năng lực thực thi thực tế của từng hộ gia đình. Do đó, nghiên cứu tích hợp Khung lý thuyết vốn sinh kế bền vững (SLF) của Department for International Development - DFID (1999) nhằm đánh giá toàn diện các tập hợp nguồn lực mà nông hộ sở hữu. Theo tiếp cận SLF, khả năng chuyển đổi mô hình sản xuất của nông dân bị giới hạn hoặc thúc đẩy bởi 5 nguồn vốn sinh kế cơ bản: vốn nhân lực (trình độ học vấn, kinh nghiệm canh tác và kỹ năng dịch vụ của chủ hộ), vốn tài chính (nguồn tích lũy bản thân và khả năng tiếp cận vốn vay tín dụng), vốn vật thể (điều kiện cơ sở hạ tầng, đường giao thông và tiện ích tại vườn), vốn tự nhiên (diện tích, vị trí địa lý của vườn nho) cùng vốn xã hội (mạng lưới liên kết với hợp tác xã, các công ty lữ hành và các tổ chức đoàn thể).
Bên cạnh đó, do quá trình chuyển đổi sang kinh doanh du lịch sinh thái bản chất là việc tiếp nhận một phương thức sản xuất - kinh doanh mới, Thuyết chấp nhận công nghệ (TAM) của Davis (1989) được bổ sung để làm rõ động lực chấp nhận sự đổi mới này. Mô hình TAM chỉ ra rằng quyết định tham gia của nông hộ phụ thuộc vào 2 khía cạnh nhận thức quan trọng: mức độ kỳ vọng về lợi ích nâng cao thu nhập mà mô hình mới tạo ra so với cách làm cũ, cùng với sự đánh giá về tính thuận tiện, dễ triển khai và khả năng quản lý trong quá trình vận hành mô hình du lịch tại hộ gia đình.
Sự gắn kết hài hòa giữa TPB, SLF và TAM đã tạo nên một khung phân tích đa chiều, vừa giải thích được động cơ tâm lý hành vi bên trong của người dân, vừa bao quát đầy đủ năng lực nguồn lực nội tại lẫn các tác động hỗ trợ từ môi trường bên ngoài, tạo cơ sở khoa học vững chắc cho việc thiết lập các giả thuyết và mô hình nghiên cứu thực nghiệm.
Giả thuyết nghiên cứu
Mô hình nông nghiệp kết hợp du lịch sinh thái ngày càng thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu trong và ngoài nước nhờ vai trò quan trọng trong việc đa dạng hóa nguồn sinh kế, gia tăng giá trị nông sản và phát triển kinh tế nông thôn bền vững. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy, quyết định chuyển đổi từ canh tác thuần nông sang mô hình kết hợp dịch vụ du lịch của nông hộ không phải là một lựa chọn đơn lẻ mà là kết quả của sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố nội tại của hộ và môi trường thể chế, thị trường bên ngoài (Mastronardi và cộng sự, 2019).
Vốn nhân lực và kinh nghiệm của chủ hộ
Vốn nhân lực đóng vai trò là tiền đề định hình năng lực nhận thức và quản trị của chủ hộ đối với các mô hình kinh doanh mới. Nghiên cứu của Ammirato và cộng sự (2020) nhấn mạnh rằng trình độ học vấn, độ tuổi và kỹ năng quản lý ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp thu các đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp. Những chủ hộ có trình độ học vấn cao hơn hoặc được tham gia các khóa đào tạo về kỹ năng du lịch, giao tiếp thường có xu hướng cởi mở hơn đối với việc chuyển đổi mô hình (Nga và Dung, 2022). Bên cạnh đó, kinh nghiệm canh tác lâu năm tạo cơ sở vững chắc cho việc bảo đảm chất lượng sản phẩm nông nghiệp - yếu tố cốt lõi để thu hút du khách. Do đó, giả thuyết được phát biểu như sau:
H1: Vốn nhân lực và kinh nghiệm của chủ hộ có tác động tích cực đến Quyết định lựa chọn mô hình trồng nho kết hợp du lịch sinh thái.
Vốn tài chính và khả năng tiếp cận tín dụng
Chuyển đổi sang mô hình nông nghiệp du lịch sinh thái đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu không nhỏ cho việc nâng cấp cảnh quan, xây dựng khu vực đón tiếp, công trình vệ sinh đạt chuẩn và các tiện ích trải nghiệm. Các nghiên cứu của Wojciechowska (2021), Nguyen và cộng sự (2022) khẳng định sự sẵn có của nguồn vốn tích lũy nội tại hoặc khả năng tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi từ các tổ chức tín dụng chính là điều kiện tiên quyết giải quyết rào cản về chi phí. Những hộ gặp hạn chế về tài chính thường e ngại rủi ro và có xu hướng duy trì phương thức sản xuất truyền thống. Từ luận điểm này, giả thuyết được đề xuất như sau:
H2: Vốn tài chính và khả năng tiếp cận tín dụng có tác động tích cực đến Quyết định lựa chọn mô hình trồng nho kết hợp du lịch sinh thái.
Nhận thức về hiệu quả kinh tế
Dưới góc độ kinh tế học hành vi, kỳ vọng về lợi ích kinh tế luôn là động lực cốt lõi chi phối quyết định đầu tư của người dân. Kết quả thực nghiệm của Lane và cộng sự (2022) cho thấy, khi nông hộ nhận thức rõ ràng rằng mô hình kết hợp du lịch giúp tăng chênh lệch giá bán sản phẩm tươi, mở ra kênh tiêu thụ sản phẩm chế biến (rượu nho, mật nho, nho khô) và thu thêm nguồn thu từ phí dịch vụ, họ sẽ có động lực mạnh mẽ để đưa ra quyết định chuyển đổi. Ngược lại, nếu sự kỳ vọng về dòng tiền tăng thêm không đủ hấp dẫn so với rủi ro bỏ ra, hộ sẽ từ chối tham gia. Bổ sung cho khung lý thuyết TAM, giả thuyết sau được thiết lập:
H3: Nhận thức về hiệu quả kinh tế có tác động tích cực đến Quyết định lựa chọn mô hình trồng nho kết hợp du lịch sinh thái.
Cơ sở hạ tầng và vị trí địa lý
Đặc thù của du lịch sinh thái nông nghiệp gắn liền với khả năng tiếp cận của du khách. Các công trình nghiên cứu của Roman và cộng sự (2020), Tran và Ho (2023) khẳng định rằng vị trí địa lý thuận lợi (nằm gần các trục đường giao thông chính, gần các điểm du lịch nổi tiếng) cùng hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn thiện (đường giao thông nội đồng, bãi đỗ xe, nguồn điện, nước sạch) tạo thế mạnh cạnh tranh vượt trội cho nông hộ. Ngược lại, những địa điểm giao thông cách trở sẽ làm gia tăng chi phí di chuyển của du khách và giảm tính khả thi của mô hình. Vì vậy, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:
H4: Cơ sở hạ tầng và vị trí địa lý thuận lợi có tác động tích cực đến Quyết định lựa chọn mô hình trồng nho kết hợp du lịch sinh thái.
Chính sách hỗ trợ của chính quyền địa phương
Trong bối cảnh nông thôn Việt Nam, chính sách và sự đồng hành của bộ máy quản lý nhà nước giữ vai trò tạo không gian pháp lý và môi trường thuận lợi cho người dân. Nghiên cứu của Phạm và Trần (2023) cho thấy các quy hoạch phát triển du lịch nông nghiệp rõ ràng, các chính sách hỗ trợ kỹ thuật, đơn giản hóa thủ tục hành chính, cũng như các chương trình xúc tiến du lịch của địa phương giúp củng cố niềm tin và giảm thiểu rủi ro pháp lý cho nông hộ khi chuyển đổi. Sự chủ động đồng hành của chính quyền địa phương Ninh Hải đóng vai trò là lực đẩy quan trọng, tạo tiền đề cho giả thuyết:
H5: Chính sách hỗ trợ của chính quyền địa phương có tác động tích cực đến Quyết định lựa chọn mô hình trồng nho kết hợp du lịch sinh thái.
Mạng lưới liên kết và truyền thông tiếp thị
Khả năng kết nối xã hội và ứng dụng truyền thông hiện đại phản ánh nguồn vốn xã hội của hộ nông dân. Theo Bhatta và Ohe (2020), việc tham gia các hợp tác xã, hội nông dân giúp hộ gia đình dễ dàng chia sẻ nguồn lực, học hỏi kinh nghiệm và đón dòng khách san sẻ từ các hộ trong vùng. Đồng thời, sự liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp lữ hành và năng lực ứng dụng công nghệ thông tin (mạng xã hội, bản đồ số) giúp nông hộ chủ động giải quyết bài toán đầu ra, giảm rủi ro được mùa mất giá. Do đó, giả thuyết sau được đề xuất như sau:
H6: Mạng lưới liên kết và truyền thông tiếp thị có tác động tích cực đến Quyết định lựa chọn mô hình trồng nho kết hợp du lịch sinh thái.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Địa bàn và khung lấy mẫu
Nghiên cứu được thực hiện tại xã Ninh Hải, tỉnh Khánh Hòa - vùng trọng điểm trồng nho của địa phương với định hướng chiến lược là phát triển mô hình nông nghiệp sinh thái gắn kết với du lịch trải nghiệm.
Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu phi xác suất kết hợp thuận tiện. Bảng hỏi cấu trúc được sử dụng để khảo sát trực tiếp các chủ hộ trồng nho trên địa bàn, bao gồm cả nhóm hộ đã chuyển đổi sang mô hình du lịch sinh thái và nhóm hộ vẫn duy trì phương thức canh tác truyền thống. Sau quá trình làm sạch dữ liệu, nghiên cứu thu thu về 280 phiếu khảo sát hợp lệ đạt tiêu chuẩn phân tích. Bên cạnh khảo sát định lượng, nghiên cứu tiến hành một số cuộc phỏng vấn sâu với các cán bộ quản lý nông nghiệp và du lịch địa phương nhằm củng cố luận giải thực tiễn cho các kết quả thống kê.
Mô hình nghiên cứu và đo lường biến
Các biến số trong mô hình được thiết kế dựa trên sự kế thừa từ các nghiên cứu thực nghiệm trước đây và điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh địa phương:
Biến phụ thuộc (Y): Phản ánh quyết định lựa chọn mô hình trồng nho kết hợp du lịch sinh thái của nông hộ. Biến này được đo lường dưới dạng biến giả nhị phân (Binary Variable):
![]() |
Các biến độc lập (Xk): Bao gồm 6 nhóm nhân tố: Vốn nhân lực và kinh nghiệm(VNH); Vốn tài chính và tín dụng (TC); Nhận thức hiệu quả kinh tế (HQKT); Cơ sở hạ tầng và vị trí (CSHT); Chính sách hỗ trợ của chính quyền (CSHT_NQ); Mạng lưới liên kết và truyền thông (LK_TT), với 24 biến quan sát, được đo lường qua thang đo Likert 5 điểm biến thiên từ 1- Rất không đồng ý, đến 5- Rất đồng ý.
Phương pháp phân tích dữ liệu
Quy trình xử lý dữ liệu được thực hiện qua 2 bước chính bằng phần mềm SPSS:
Bước 1: Kiểm định chất lượng thang đo thông qua hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), kiểm định Bartlett .
Bước 2: Phân tích mô hình hồi quy Binary Logistic. Do biến phụ thuộc mang bản chất nhị phân, mô hình hồi quy Binary Logistic được ứng dụng để xác định các yếu tố chi phối xác suất lựa chọn mô hình của nông hộ. Dạng tổng quát của mô hình được biểu diễn như sau:
Logit (Pi) = ln (Pi / 1 - Pi) = β0 + β1VNHi + β2TCi + β3HQKTi + β4CSHTi + β5CSHT_NQi + β6LK_TTi + ∊i
Trong đó:
Pi = P(Yi = 1): Là xác suất nông hộ thứ i quyết định lựa chọn mô hình trồng nho kết hợp du lịch sinh thái.
1 - Pi: Là xác suất nông hộ duy trì mô hình canh tác truyền thống.
Pi / 1 - Pi : Là tỷ số cơ hội (Odds Ratio) phản ánh khả năng lựa chọn mô hình so với không lựa chọn.
β0: Là hệ số tự do (hằng số).
β1, β2… β6 : Là các hệ số hồi quy tương ứng với các biến độc lập.
∊I : Là sai số ngẫu nhiên của mô hình.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kiểm định độ tin cậy thang đo và phân tích nhân tố khám phá (EFA)
Để bảo đảm tính khoa học của mô hình hồi quy, chất lượng các thang đo đã được đánh giá qua kiểm định Cronbach’s Alpha và phân tích EFA. Kết quả phân tích cho thấy, tất cả 6 thang đo độc lập đều đạt độ tin cậy nội hàm rất cao với hệ số Cronbach’s Alpha dao động từ 0,782-0,891 (vượt tiêu chuẩn tối thiểu 0,70). Tất cả các biến quan sát đều có hệ số tương quan biến-tổng (Corrected Item-Total Correlation) lớn hơn 0,30, khẳng định tính nhất quán nội tại của dữ liệu.
Kết quả phân tích EFA ghi nhận chỉ số KMO = 0,845 với mức ý nghĩa thống kê p = 0,000 < 0,001, tổng phương sai trích đạt 68,45% tại giá trị Eigenvalue > 0,1. Các biến quan sát đều hội tụ về đúng các cấu trúc nhân tố thuyết minh ban đầu mà không vi phạm hiện tượng tải chéo, chứng minh các thang đo đạt trọn vẹn giá trị hội tụ và giá trị phân biệt.
Kết quả mô hình hồi quy Binary Logistic
Dữ liệu thu thập sau khi làm sạch được đưa vào ước lượng các tham số của mô hình hồi quy Binary Logistic. Kết quả ước lượng chi tiết được tổng hợp tại Bảng 1.
Bảng 1: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Binary Logistic
| Biến độc lập | Ký hiệu | Hệ số Beta | Sai số chuẩn (S.E.) | Thống kê Wald | Sig. (p-value) | Exp(B) (Odds Ratio) |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Vốn nhân lực và kinh nghiệm | VNH | 0,425 | 0,182 | 5,453 | 0,019* | 1,529 |
| Vốn tài chính và tín dụng | TCHD | 0,612 | 0,201 | 9,271 | 0,002** | 1,844 |
| Nhận thức hiệu quả kinh tế | HQKD | 0,835 | 0,215 | 15,082 | 0,000*** | 2,305 |
| Cơ sở hạ tầng và vị trí | CSHT | 0,518 | 0,194 | 7,131 | 0,008** | 1,679 |
| Chính sách hỗ trợ chính quyền | CSHT_QN | 0,742 | 0,208 | 12,723 | 0,000*** | 2,1 |
| Liên kết và truyền thông | LK_TT | 0,489 | 0,189 | 6,692 | 0,010** | 1,631 |
| Hằng số | Hằng số | -4,215 | 0,912 | 21,36 | 0 | 0,015 |
* p < 0,05; p < 0,01; *** p < 0,001
Nguồn: Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả
Các chỉ số đánh giá tổng thể khẳng định độ phù hợp cao của mô hình nghiên cứu:
- Kiểm định Omnibus: Giá trị X2 = 114,26 (df = 6, p = 0,000 < 0,001) cho thấy sự kết hợp của 6 biến độc lập có ý nghĩa giải thích vượt trội đối với sự biến thiên của biến phụ thuộc.
- Kiểm định Hosmer and Lemeshow: Giá trị X2 = 6,425 (df = 8, p = 0,600 < 0,05) chứng tỏ không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa giá trị quan sát thực tế và giá trị dự báo từ mô hình (mô hình phù hợp tốt với dữ liệu).
- Chỉ số -2 Log likelihood: 186,42.
- Hệ số xác định: Cox & Snell R2 = 0,335; Nagelkerke R2 = 0,458. Điều này thể hiện mô hình giải thích được 45,8% sự biến thiên trong quyết định lựa chọn mô hình du lịch sinh thái của các nông hộ.
- Tỷ lệ dự đoán đúng tổng thể (Overall Percentage Correct): Đạt mức 82,5%, khẳng định độ tin cậy cao của mô hình trong việc phân loại hành vi lựa chọn của người dân.
Thảo luận
Từ kết quả ước lượng mô hình hồi quy, cả 6 nhân tố đề xuất đều ghi nhận tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến Quyết định lựa chọn mô hình trồng nho kết hợp du lịch sinh thái của nông hộ tại Ninh Hải, với thứ tự tác động giảm dần như sau:
Nhận thức về hiệu quả kinh tế là nhân tố có tác động mạnh nhất đến Quyết định của người dân (B = 0,835, p < 0,001). Hệ số Tỷ số chênh Exp(B) = 2,305 chỉ ra rằng, khi nhận thức của nông hộ về lợi ích tài chính tăng thêm 1 đơn vị, xác suất lựa chọn mô hình du lịch sinh thái sẽ tăng gấp 2,305 lần. Điều này minh chứng rằng động lực tài chính - bao gồm kỳ vọng về việc gia tăng giá trị nông sản, thu thêm phí dịch vụ tham quan và đa dạng hóa nguồn thu từ sản phẩm chế biến (rượu nho, mật nho) - đóng vai trò đòn bẩy quyết định thúc đẩy nông hộ chấp nhận rủi ro chuyển đổi.
Chính sách hỗ trợ của chính quyền địa phương đóng vai trò là lực đẩy quan trọng thứ hai (B = 0,742, p < 0,001, Exp(B) = 2,100). Việc chính quyền xã Ninh Hải ban hành các định hướng quy hoạch rõ ràng, tổ chức các chương trình tập huấn du lịch nông nghiệp và hỗ trợ quảng bá thương hiệu nho địa phương đã củng cố mạnh mẽ niềm tin của người dân, giúp họ an tâm đầu tư phát triển mô hình dài hạn.
Vốn tài chính và khả năng tiếp cận tín dụng có ảnh hưởng thuận chiều rõ rệt đến hành vi lựa chọn (B = 0,612, p < 0,002, Exp(B) = 1,844). Việc chuyển đổi đòi hỏi nguồn vốn ban đầu để tôn tạo cảnh quan vườn, xây dựng hạ tầng phụ trợ (nhà chờ, nhà vệ sinh đạt chuẩn). Do đó, những hộ có sẵn nguồn vốn tích lũy hoặc dễ dàng tiếp cận với các nguồn vốn vay ưu đãi sẽ có khả năng hiện thực hóa quyết định cao gấp 1,844 lần so với các hộ bị hạn chế về tài chính.
Cơ sở hạ tầng và vị trí địa lý thể hiện tác động tích cực có ý nghĩa thống kê (B = 0,518, p < 0,008, Exp(B) = 1,679). Vườn nho nằm gần các tuyến giao thông huyết mạch, đường đi lại thuận tiện cho xe du lịch khổ lớn tiếp cận là một lợi thế cạnh tranh tự nhiên giúp nông hộ tự tin mở cửa đón khách.
Mạng lưới liên kết và truyền thông tiếp thị giữ vai trò giảm thiểu rủi ro đầu ra (B = 0,489, p < 0,010, Exp(B) = 1,631). Việc tham gia vào hợp tác xã, duy trì mối liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp lữ hành và chủ động sử dụng mạng xã hội giúp đảm bảo dòng khách ổn định, từ đó gia tăng xác suất đưa ra quyết định chuyển đổi của nông hộ.
Vốn nhân lực và kinh nghiệm của chủ hộ đóng vai trò nền tảng (B = 0,425, p < 0,019, Exp(B) = 1,529). Trình độ học vấn, kinh nghiệm canh tác lâu năm cùng các kỹ năng giao tiếp được trang bị giúp chủ hộ tự tin hơn trong việc quản lý và tổ chức các hoạt động phục vụ du khách tại vườn.
HÀM Ý VỀ QUẢN TRỊ
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy quyết định chuyển đổi và nâng cao hiệu quả mô hình trồng nho kết hợp du lịch sinh thái tại xã Ninh Hải, tỉnh Khánh Hòa.
Đối với chính quyền địa phương và cơ quan quản lý
Một là, hoàn thiện quy hoạch và cơ chế chính sách. Xác định các vùng phát triển nông nghiệp gắn với du lịch sinh thái; hướng dẫn sử dụng đất và đầu tư hạ tầng phụ trợ phù hợp với quy định pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho nông hộ chuyển đổi mô hình.
Hai là, tăng cường hỗ trợ tài chính và phát triển nguồn nhân lực. Tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi; tổ chức tập huấn về kỹ năng quản lý, phục vụ du khách, tiếp thị số và canh tác an toàn nhằm nâng cao năng lực kinh doanh của nông hộ.
Ba là, thúc đẩy liên kết và xúc tiến du lịch. Hỗ trợ kết nối giữa nông hộ, hợp tác xã và doanh nghiệp lữ hành; tăng cường quảng bá sản phẩm nho và xây dựng các tuyến du lịch trải nghiệm gắn với đặc trưng địa phương.
Đối với các nông hộ trồng nho
Thứ nhất, chủ động đầu tư và nâng cao chất lượng dịch vụ. Từng bước hoàn thiện cơ sở vật chất phục vụ tham quan, bảo đảm vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm và quy trình canh tác an toàn, đáp ứng nhu cầu trải nghiệm của du khách.
Thứ hai, nâng cao năng lực quản lý và hiệu quả kinh doanh. Chủ động trang bị kiến thức, kỹ năng du lịch; đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ và cân đối nguồn lực đầu tư nhằm gia tăng thu nhập, hạn chế rủi ro trong quá trình chuyển đổi.
Thứ ba, tăng cường liên kết và ứng dụng công nghệ số. Đẩy mạnh quảng bá trên các nền tảng trực tuyến, tham gia mạng lưới hợp tác với doanh nghiệp du lịch và các nông hộ khác nhằm mở rộng thị trường, thu hút du khách và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Cùng với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, việc nâng cao năng lực nội tại và tăng cường liên kết giữa các chủ thể là điều kiện quan trọng để phát triển mô hình trồng nho kết hợp du lịch sinh thái theo hướng bền vững.
Tài liệu tham khảo:
1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211.
2. Ammirato, S., Felicetti, A. M., Raso, C., Pansera, B. A., & Violi, A. (2020). Agritourism and sustainability: What we can learn from a systematic literature review. Sustainability, 12(22), 9575.
3. Bhatta, K., & Ohe, Y. (2020). A review of quantitative studies in agritourism: The implications for developing countries. Tourism and Hospitality, 1(1), 23-40.
4. Davis, F. D. (1989). Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information technology. MIS Quarterly, 13(3), 319-340.
5. Department for International Development - DFID (1999). Sustainable livelihoods guidance sheets. Department for International Development (DFID), London.
6. Lane, B., Kastenholz, E., & Carneiro, M. J. (2022). Rural tourism and agritourism: Evolution, contemporary challenges, and future trajectories. Journal of Sustainable Tourism, 30(7), 1501-1522.
7. Mastronardi, L., Giaccio, V., Giannelli, A., & Scardera, A. (2019). Is agritourism really a sustainable strategy for rural areas? Results from a case study in Italy. Land Use Policy, 82, 481-490.
8. Nga, N. T. H., & Dung, P. T. (2022). Năng lực sinh kế và quyết định tham gia mô hình du lịch nông nghiệp của hộ nông dân. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh, 14(2), 34-45.
9. Nguyen, T. T., Pham, V. H., & Le, C. T. (2022). Financial access and livelihood diversification strategy among rural households in Vietnam. Journal of Rural Studies, 95, 210-221.
10. Pham, H. T., & Tran, D. M. (2023). Government support policies and sustainable agricultural tourism development: Evidence from coastal Vietnam. Tourism Management Perspectives, 46, 101089.
11. Roman, M., Roman, M., & Prus, P. (2020). Innovations in agritourism: Infrastructure and geographic locational factors in farm decision-making. Sustainability, 12(11), 4658.
12. Trần, L. Q., & Hồ, K. V. (2023). Tác động của vị trí địa lý và hạ tầng giao thông đến sự phát triển của du lịch nông nghiệp tại Khánh Hòa. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp, 27(4), 88-97.
13. Wojciechowska, J. (2021). Capital investments and financial constraints in agritourism development. Agricultural and Resource Economics, 21(3), 112-128.
| Ngày nhận bài: 25/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 8/10/2026; Ngày duyệt đăng: 16/10/2026 |
Các tin khác
Từ nhận diện đến kết nối: Mô hình 4C thiết kế trải nghiệm điểm chạm tại Cù Lao Chàm
Minh bạch hóa và quyền phản hồi trong quản lý rủi ro thuế ở Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị giải pháp hoàn thiện
Tác động của thanh toán số đến hành vi mua sắm trực tuyến của thế hệ Z tại TP. Hồ Chí Minh
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ đào tạo: Nghiên cứu trường hợp Trường Cao đẳng Dược Hà Nội
Trí tuệ nhân tạo và thách thức trong kỷ nguyên số: Bối cảnh kế toán và kiểm toán
Từ kế toán số đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp: Đề xuất mô hình về vai trò trung gian của chuyển đổi số và điều tiết của phong cách lãnh đạo chuyển đổi
Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và thu hút FDI của Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Thực trạng và triển vọng
Tín dụng bất động sản Việt Nam: Thực trạng và những vẫn đề đặt ra
Tác động của tiêu chuẩn ESG đến quản trị nguồn nhân lực tại doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
