Đào tạo lại và nâng cao năng lực nhằm thúc đẩy dịch chuyển nghề nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam
TS. Trần Thuỳ Linh
Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược - Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương
Email: [email protected]
Tóm tắt
Bối cảnh tinh gọn bộ máy cùng tác động của chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đang làm gia tăng nhu cầu dịch chuyển nghề nghiệp, trong khi khoảng trống kỹ năng vẫn là một rào cản đáng kể. Nghiên cứu phân tích kinh nghiệm quốc tế về đào tạo lại và nâng cao năng lực nhằm thúc đẩy dịch chuyển nghề nghiệp bền vững, tập trung vào nhóm chính sách về trợ cấp tài chính, chương trình đào tạo cá nhân, đào tạo theo nhu cầu thị trường và gắn với doanh nghiệp, công nhận năng lực thực tế. Từ đó, các hàm ý chính sách cho Việt Nam được đề xuất.
Từ khóa: Đào tạo lại, nâng cao năng lực, dịch chuyển nghề nghiệp
Abstract
Organizational streamlining, together with the impacts of digital and green transitions, is increasing the need for occupational mobility, while skills gaps remain a significant barrier. This study analyzes international experience in reskilling and upskilling to promote sustainable occupational mobility, focusing on policy measures involving financial assistance, individualized training programs, market-driven and enterprise-linked training, and the recognition of practical competencies. Based on these experiences, the study proposes policy implications for Viet Nam.
Keywords: Reskilling, upskilling, occupational mobility
Đặt vấn đề
Thị trường lao động toàn cầu đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc sâu sắc dưới tác động hội tụ của cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi xanh. Trong giai đoạn 2025-2030, khoảng 39% kỹ năng hiện có của người lao động (NLĐ) có thể thay đổi hoặc trở nên lỗi thời (WEF, 2025).
Tại Việt Nam, quy mô lực lượng lao động đang tiếp tục mở rộng, đạt 54,1 triệu người tính đến quý III/2026, tăng 697.000 người so với cùng kỳ năm trước. Tính đến tháng 9/2026, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ là 29,9%, cao hơn 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025 (Cục Thống kê, 2026). Chuyển đổi số, AI và chuyển đổi xanh đang tái định hình cơ cấu việc làm tại Việt Nam với khoảng 20,8% việc làm có khả năng chịu tác động trực tiếp của AI tạo sinh (ILO, 2026); trong khi quá trình chuyển đổi xanh đang mở ra tiềm năng xanh hóa tới 41% việc làm (World Bank, 2023). Thị trường lao động cũng chứng kiến làn sóng dịch chuyển lao động từ khu vực công sang các khu vực khác trong nền kinh tế dưới tác động của tiến trình tinh gọn bộ máy hành chính. Tính đến tháng 10/2025, có khoảng 146.847 lao động rời khu vực công và dự báo hơn 110.000 nhân lực trình độ cao sẽ tiếp tục tái gia nhập thị trường lao động giai đoạn 2026-2030 với kênh hấp thụ trung tâm là khu vực tư nhân, chiếm 50-60% (Bộ Nội vụ, 2026).
Tuy nhiên, quá trình dịch chuyển nghề nghiệp đang đối mặt với rào cản đáng kể từ khoảng trống kỹ năng. Việt Nam vẫn còn 3,92% lao động không sử dụng hết tiềm năng và hơn 70% lực lượng lao động, tương đương khoảng 37,6 triệu người chưa qua đào tạo (Cục Thống kê, 2026). Khảo sát của Navigos Group (2026) cho thấy những khoảng trống đáng chú ý về năng lực của NLĐ Việt Nam; trong đó, nhu cầu cải thiện tập trung nhiều nhất ở kỹ năng phân tích tình huống và đề xuất giải pháp phù hợp (32,8%), tiếp đến là khả năng hiểu và ứng dụng công nghệ trong công việc (32,4%). Bên cạnh đó, năng lực kiên trì, linh hoạt và thích ứng với thay đổi (29,6%); kỹ năng lãnh đạo và tạo ảnh hưởng tích cực (27,2%), quản lý nhân sự và phát triển đội ngũ (22%) và giao tiếp hiệu quả bằng nhiều ngôn ngữ (21,2%) cũng là những kỹ năng còn thiếu hụt.
Bởi vậy, việc phân tích kinh nghiệm quốc tế dựa trên xem xét các nguồn lực, công cụ, nội dung, môi trường và cách thức công nhận năng lực đào tạo là cơ sở gợi mở những chính sách hiệu quả về đào tạo lại và nâng cao năng lực nhằm thúc đẩy dịch chuyển nghề nghiệp tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường lao động biến đổi gắn với quá trình tinh gọn bộ máy hành chính.
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ ĐÀO TẠO LẠI VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC
Trợ cấp tài chính và chế độ nghỉ phép đào tạo
Trợ cấp tài chính cho người lao động và doanh nghiệp
Đan Mạch là điển hình thành công với mô hình Flexicurity kết hợp tính linh hoạt của thị trường và an sinh xã hội vững chắc. Quốc gia này đã triển khai Chương trình học nghề cho người trưởng thành (trên 25 tuổi) có kỹ năng lỗi thời, áp dụng mô hình đào tạo kép vừa học vừa thực hành tại doanh nghiệp kéo dài 2-3 năm. Về tài chính, doanh nghiệp trả lương tối thiểu cho người lao động; đồng thời chính quyền địa phương trợ cấp cho doanh nghiệp 20% chi phí tiền lương theo giờ. Kết quả là tỷ lệ có việc làm sau đào tạo của người tham gia đạt 70%, vượt trội so với mức 58% của nhóm không tham gia (OECD, 2016).
Hàn Quốc cũng áp dụng chính sách hỗ trợ phát triển năng lực nghề nghiệp, tài trợ trực tiếp cho doanh nghiệp tổ chức đào tạo lại kỹ năng cho NLĐ và người tìm việc theo nhu cầu thực tế. Chính phủ hỗ trợ tối đa 200.000 KRW/tháng cho các khóa đào tạo tối thiểu 120 giờ/tháng, và bổ sung chi phí ăn ở lên đến 330.000 KRW/tháng cho các khóa học trên 5 giờ/ngày. Với đào tạo trong thời gian nghỉ phép có hưởng lương, Chính phủ hỗ trợ một phần tiền lương tương ứng để giảm áp lực tài chính cho doanh nghiệp (HRDSK, 2025).
Chế độ nghỉ phép để tham gia đào tạo
Đan Mạch vận hành cơ chế luân chuyển việc làm để đào tạo, cho phép nhân viên chính thức nghỉ tối đa 6 tháng để tham gia các khóa nâng cấp kỹ năng mà không bị mất việc, trong khi người thất nghiệp được tuyển dụng thay thế tạm thời ít nhất 10 giờ/tuần. Cơ chế này giúp NLĐ luôn được nâng cấp và sẵn sàng tâm thế thích ứng; đồng thời giúp người thất nghiệp học hỏi kinh nghiệm thực tế để tìm việc làm chính thức nhanh hơn trung bình 2-3 tuần. Doanh nghiệp tham gia được Chính phủ hoàn trả phần lớn kinh phí đào tạo và tiền lương của lao động thay thế (OECD, 2016).
Tại Pháp, nghỉ phép chuyển đổi nghề nghiệp là chế độ đặc thù hỗ trợ công chức dôi dư ở khu vực công dịch chuyển sang nghề nghiệp mới với thời gian nghỉ đào tạo tối đa 12 tháng. NLĐ được bảo lưu toàn bộ thâm niên, hưởng 100% lương cơ bản và 80% phụ cấp. Chương trình phải hướng tới việc cấp chứng chỉ nghề nghiệp chính thức cho NLĐ và có thời lượng tối thiểu 120 giờ hoặc 70 giờ với hỗ trợ khởi nghiệp (Service Public, 2026).
Thiết kế các chương trình đào tạo cá nhân
Xu hướng toàn cầu đang dịch chuyển mạnh sang việc trao quyền và phân bổ ngân sách đào tạo trực tiếp cho từng cá nhân, giúp tối ưu hóa nhu cầu học tập thực tế thông qua 3 mô hình chủ đạo.
Tài khoản tiết kiệm cá nhân dành cho đào tạo
Dự án Learn$ave tại Canada hỗ trợ học phí, thiết bị học tập, vốn khởi nghiệp cho NLĐ có thu nhập thấp và tài sản thanh khoản dưới 3.000 USD. Với tỷ lệ đối ứng 3:1, người tham gia nhận tới 4.500 USD hỗ trợ nếu tiết kiệm đủ 1.500 USD trong tối đa 3 năm; đồng thời duy trì gửi ít nhất 10 USD/tháng trong 12 tháng. Dự án đã giúp gia tăng tỷ lệ nhập học đại học thêm 9,2%, cao đẳng 5,2% và thúc đẩy mạnh mẽ khả năng tự kinh doanh và gia tăng giá trị tài sản cho NLĐ (Norm và cộng sự, 2010).
Phiếu đào tạo (Voucher)
Hoa Kỳ áp dụng Tài khoản đào tạo cá nhân (ITA) thanh toán từ 3.500-10.000 USD trực tiếp cho cơ sở đào tạo những lao động mất việc làm với mục tiêu tái tuyển dụng trong các ngành nghề có nhu cầu cao theo xác định của địa phương (OECD, 2019).
Estonia sử dụng Thẻ đào tạo (Training Card) cấp hạn mức 2.500 euro trong 2 năm cho lao động trên 50 tuổi hoặc có kỹ năng lỗi thời, cho phép tự chọn khóa học phù hợp gắn với hệ thống dự báo nhu cầu OSKA. Chỉ trong giai đoạn 2017-2018, số người sử dụng thẻ đào tạo đã tăng từ 898 lên 2.380 người, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đạt 52,3% dân số trưởng thành tham gia học tập suốt đời vào năm 2035 (ReferNet Estonia and Cedefop, 2025).
Singapore vận hành Tín dụng đào tạo (SkillsFuture Credit - SFC), cấp tài khoản đào tạo có tín dụng để công dân chủ động lựa chọn các khóa học phù hợp với nhu cầu phát triển nghề nghiệp từ danh mục hơn 20.000 chương trình trên MySkillsFuture. Công dân từ 25 tuổi trở lên được cấp 500 SGD tín dụng đào tạo không thời hạn; riêng nhóm từ 40 tuổi trở lên được bổ sung 4.000 SGD để tham gia các chương trình chuyển đổi nghề nghiệp hoặc các khóa đào tạo tại các cơ sở giáo dục công lập (MySkillsFuture, 2026). 97% trong số khoảng 58.000 học viên khẳng định hiệu quả làm việc được nâng cao rõ rệt sau đào tạo (Nguyễn Lê Đình Quý, 2023).
Tại Hàn Quốc, Bộ Lao động và Việc làm vận hành hệ thống Thẻ Học tập ngày mai quốc gia (Nation Tomorrow Learning Card) cho phép công dân chủ động lựa chọn các chương trình đào tạo phù hợp với định hướng nghề nghiệp cá nhân với hạn mức hỗ trợ từ 3-5 triệu KRW trong 5 năm. Đối với đào tạo nghề phổ thông, mức hỗ trợ học phí dao động từ 45-100% tùy theo tỉ lệ việc làm bình quân của từng ngành, ưu tiên hỗ trợ tối đa 80-100% cho nhóm yếu thế; đồng thời kèm theo phụ cấp sinh hoạt phí lên đến 116.000 KRW mỗi tháng cho các khóa học dài hạn trên 140 giờ (Ministry of Employment and Labor Korea, 2026). Bộ Giáo dục cũng duy trì Phiếu giáo dục suốt đời (Lifelong Education Voucher) để hỗ trợ nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội với kinh phí 350.000 KRW/năm để chi trả học phí và mua tài liệu học tập (OECD, 2021).
Tài khoản đào tạo cá nhân
Pháp là quốc gia tiên phong thể chế hoá mô hình này thông qua Tài khoản đào tạo cá nhân (Compte Personnel de Formation - CPF), trong đó quyền được đào tạo sẽ tích lũy và gắn với từng cá nhân thay vì phụ thuộc vào vị trí việc làm hiện tại. Với công chức, CPF được tích luỹ tự động 25 giờ đào tạo mỗi năm, tối đa 150 giờ; riêng công chức ngạch C chưa có bằng tú tài được ưu đãi 50 giờ mỗi năm, tối đa 400 giờ, nhằm tạo thêm cơ hội nâng cao trình độ cho nhóm có khả năng gặp bất lợi trong phát triển nghề nghiệp. Đặc biệt, khi NLĐ chuyển từ khu vực công sang khu vực tư nhân, quyền đào tạo tích lũy sẽ được bảo toàn và chuyển đổi thành giá trị tiền tệ theo mức 1 giờ tương đương 15 euro, giúp giảm thiểu rào cản dịch chuyển nghề nghiệp(CFDT, 2026).
So sánh mức hỗ trợ tối đa từ các chương trình học tập cá nhân cho thấy sự phân hóa rõ rệt trong thiết kế công cụ tài chính. Mô hình Tài khoản tiết kiệm như Learn$ave (3,22%) hướng đến huy động nguồn lực tài chính công nhằm kích hoạt năng lực tích lũy tự thân. Mô hình Phiếu đào tạo SFC (0,74%) và Phiếu Giáo dục suốt đời (0,9%) vận hành như công cụ “mồi” nhằm khuyến khích tinh thần học tập và nâng cao kỹ năng ngắn hạn. Chương trình Thẻ Học tập ngày mai quốc gia (2,48%), Thẻ đào tạo (7,76%) và Tài khoản ITA (11,09% tại Michigan; 15,85% tại Washington) cung cấp nguồn lực tài chính dồi dào, đáp ứng yêu cầu chi phí cao của các chương trình đào tạo lại chuyên sâu cho các ngành nghề có nhu cầu lớn. Mô hình Tài khoản đào tạo cá nhân CPF đạt mức hỗ trợ vượt trội 13,06%, phản ánh tính ưu việt khi quyền lợi đào tạo được tích lũy theo thời gian, gắn liền với cá nhân suốt đời và trở thành tài sản kỹ năng có tính lưu chuyển cao.
Hình 1: Mức hỗ trợ tối đa từ các chương trình học tập cá nhân tính theo tỷ lệ phần trăm của mức lương trung bình năm 2018
![]() |
Nguồn: OECD (2019), tổng hợp của nghiên cứu
Đào tạo kỹ năng mới theo nhu cầu của thị trường lao động
Estonia đi đầu về đào tạo kỹ năng số với dự án chuyên sâu Choose IT!, hợp tác với các doanh nghiệp công nghệ thông tin (CNTT) để đào tạo lại cho 500 người đã tốt nghiệp đại học ở các ngành nghề khác trở thành lập trình viên qua 6 tuần lý thuyết và 8 tuần thực tập. Cùng với đó, chiến dịch ICT is everywhere đã thu hút 62% học viên nữ, góp phần nâng tỷ lệ dân số (16-74 tuổi) có kỹ năng số cơ bản lên 62,52% và chuyên gia CNTT đạt mức vượt trội, chiếm 6,8% tổng lao động (Government of Estonia, 2020). Estonia cũng đặc biệt chú trọng đào tạo kỹ năng xanh miễn phí cho hơn 26.000 lao động (khoảng 4% lực lượng lao động) trong giai đoạn 2025-2026 với ngân sách năm 2025 đạt gần 15 triệu euro để thích ứng với kinh tế trung hòa khí hậu (ReferNet Estonia and Cedefop, 2025).
Tại Hàn Quốc, cơ chế phân bổ ngân sách đào tạo được thiết kế phân hóa linh hoạt theo nhu cầu nhân lực của từng lĩnh vực. Ở những ngành trọng điểm chiến lược quốc gia, Chính phủ tài trợ 100% học phí lần đầu và cấp phụ cấp chuyên cần lên đến 200.000 KRW/tháng. Với dịch vụ chăm sóc xã hội, người học được hỗ trợ 10-90% ban đầu, được hoàn phí 100% nếu có việc làm ổn định trong 6 tháng sau tốt nghiệp. Đối với kỹ năng số, chương trình Tín dụng kỹ thuật số K cấp thêm 500.000 KRW để phổ cập kỹ năng số cơ bản, trong khi chương trình K-Digital hỗ trợ 100% học phí và phụ cấp tối đa 200.000 KRW/tháng bồi dưỡng nhân lực công nghệ cao (KangNam Labor Law Firm, 2025).
Đào tạo gắn với thực tiễn nghề nghiệp và môi trường doanh nghiệp
Trải nghiệm nghề nghiệp thực tế
Để giải quyết tình trạng thiếu kinh nghiệm thực tế của NLĐ, Đan Mạch vận hành chương trình đào tạo thực hành tại doanh nghiệp từ 4-8 tuần. Doanh nghiệp không phải trả lương, còn NLĐ được bảo đảm cuộc sống nhờ trợ cấp thất nghiệp. Mô hình giúp kích hoạt động lực chuyển đổi với khoảng 30% học viên tìm được việc làm ngay sau thực tập (OECD, 2016).
Ở khu vực công, Pháp áp dụng cơ chế trải nghiệm nghề nghiệp cho phép công chức quan sát thực tế tại cơ quan tiếp nhận mới từ 2-10 ngày (tối đa 20 ngày trong 3 năm) để kiểm chứng mức độ tương thích trước khi chuyển đổi chính thức. Thời gian này, công chức được xem là đang thực hiện nhiệm vụ công vụ, được hỗ trợ chi phí di chuyển và bảo lưu tiền lương cùng các quyền lợi hiện có (CFDT, 2026).
Đào tạo gắn với doanh nghiệp và cam kết việc làm
Singapore triển khai hơn 100 chương trình chuyển đổi nghề nghiệp gắn với doanh nghiệp thuộc 30 lĩnh vực khác nhau, vận hành theo 3 mô hình cốt lõi: tuyển dụng trước, đào tạo sau; đào tạo kết hợp thực tập trước khi tuyển dụng; và đào tạo lại phục vụ chuyển đổi vị trí khi doanh nghiệp tái cơ cấu. Nhà nước hỗ trợ từ 70-90% chi phí tiền lương và kinh phí đào tạo, ưu tiên lao động trên 40 tuổi và người thất nghiệp dài hạn. Đổi lại, doanh nghiệp phải cam kết xây dựng lộ trình đào tạo rõ ràng và bố trí công việc mới cho NLĐ sau khi hoàn thành khóa học (SWDA, 2026).
Công nhận năng lực nghề nghiệp
Công nhận năng lực từ kinh nghiệm thực tế
Đan Mạch thực hiện “gắn thẻ” năng lực từ sớm trước khi NLĐ rời vị trí cũ để nhận diện và chuẩn hóa các kỹ năng thực tế chưa có văn bằng chính thức đã được tích luỹ trong quá trình công tác (OECD, 2016). Cơ chế này chuyển hóa các kỹ năng chuyên biệt thành kỹ năng có tính chuyển giao cao, làm cơ sở xây dựng lộ trình đào tạo cá nhân hóa, giảm thiểu lãng phí nguồn lực đào tạo lại các nội dung đã thành thạo.
Mô hình chứng chỉ vi mô
Liên minh châu Âu (EU) đã thể chế hóa khung chứng chỉ vi mô có tích lũy nhằm ghi nhận kết quả học tập từ các khóa đào tạo ngắn hạn, linh hoạt. Các chứng chỉ được chuẩn hóa theo 10 nguyên tắc cốt lõi về chất lượng, thể hiện rõ kết quả học tập và khối lượng công việc, đồng bộ theo Mô hình Học tập châu Âu và lưu trữ bảo mật trên ví điện tử Europass hoặc EUDIW. Người học có thể tích lũy các “khối” học tập nhỏ để tạo thành lộ trình nghề nghiệp riêng hoặc quy đổi sang các bằng cấp lớn hơn tùy theo quy định của cơ sở đào tạo (EU, 2022).
HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Từ thực trạng của Việt Nam, trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý nhằm thúc đẩy dịch chuyển nghề nghiệp bền vững ở nước ta như sau:
Thứ nhất, thiết kế hệ thống hỗ trợ tài chính đa dạng, linh hoạt theo nhiều công cụ, gồm trợ cấp trực tiếp, tín dụng thuế, nghỉ phép để đào tạo và hỗ trợ sinh hoạt phí. Áp dụng cơ chế đồng tài trợ giữa Nhà nước và doanh nghiệp, xác định rõ tỷ lệ đóng góp, điều kiện hưởng hỗ trợ và trách nhiệm của các bên; ưu tiên mức hỗ trợ cao hơn đối với ngành chiến lược và nhóm lao động dôi dư, lớn tuổi hoặc có nguy cơ khó dịch chuyển nghề nghiệp.
Thứ hai, nghiên cứu xây dựng mô hình tài khoản học tập cá nhân tích hợp định danh số, ghi nhận và quản lý thống nhất quá trình đào tạo, tín chỉ, chứng chỉ và các khoản hỗ trợ. Thiết lập cơ chế tích lũy, bảo lưu và chuyển giao quyền lợi đào tạo giữa các cơ sở đào tạo và khu vực kinh tế trên nền tảng dữ liệu liên thông, bảo đảm NLĐ có thể tiếp tục sử dụng quyền lợi khi thay đổi nghề nghiệp.
Thứ ba, nâng cấp hệ thống thông tin thị trường lao động thành mạng lưới dự báo chuyên nghiệp theo hướng tích hợp dữ liệu cung - cầu kỹ năng và cập nhật thường xuyên; kết nối dữ liệu tuyển dụng, việc làm, đào tạo và xu hướng ngành nghề để dự báo nhu cầu nhân lực theo lĩnh vực và trình độ...
Thứ tư, chuyển mạnh sang mô hình đào tạo gắn với việc làm và thực tiễn doanh nghiệp, tăng cường phối hợp giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo và người sử dụng lao động.
Thứ năm, thể chế hóa khung chứng chỉ vi mô theo hướng tích lũy và liên thông; xây dựng quy trình đánh giá, xác nhận và quy đổi năng lực hình thành từ kinh nghiệm làm việc vào các mô-đun đào tạo tương ứng. NLĐ được đánh giá đầu vào để xác định những năng lực đã đạt, chỉ học bổ sung các nội dung còn thiếu và tích lũy từng chứng chỉ vi mô để quy đổi thành chứng chỉ hoặc văn bằng theo lộ trình được chuẩn hóa.
(*) Lời cảm ơn: Nghiên cứu này là sản phẩm của đề tài cơ sở “Chuyển đổi nghề nghiệp cho lao động khu vực công: Kinh nghiệm quốc tế và đề xuất chính sách Việt Nam trong bối cảnh tinh gọn bộ máy hành chính”, do Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương chủ trì và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ quản đề tài.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Nội vụ (2026). Hội thảo khoa học Tác động của chính sách tinh giản biên chế, sắp xếp lại đơn vị hành chính đến thị trường lao động trong bối cảnh chuyển đổi số tại Việt Nam. https://isos.gov.vn/tin-hoat-dong/hoi-thao-khoa-hoc-tac-dong-cua-chinh-sach-tinh-gian-bien-che-sap-xep-lai-don-vi-hanh-chinh-den-thi-truong-lao-dong-trong-boi-canh-chuyen-doi-so-tai-viet-nam-43971.html
2. CFDT (2026). La formation professionnelle des fonctionnaires de l'État. https://uffa.cfdt.fr/sinformer/formation/la-formation-professionnelle-des-fonctionnaires-de-letat.
3. Cục Thống kê, Bộ Tài Chính (2026). Thông cáo báo chí về tình hình lao động, việc làm quý III và 9 tháng năm 2026.
4. EC (2025). Individual learning accounts: A guide to implementation,. Publications Office of the European Union, Luxembourg.
5. EU (2022). Council Recommendation of 16 June 2022 on a European approach to micro-credentials for lifelong learning and employability 2022/C 243/02. Official Journal of the European Union.
6. Government of Estonia (2020). European Social Charter: 17th national report on the implementation of the European Social Charter. Council of Europe.
7. HRDSK - Human Resources Development Service of Korea (2025). Employer Support - Vocational Competency Development Program. https://www.hrdkorea.or.kr/1/1/2/2.
8. ILO (2026). Generative AI and jobs in Viet Nam: Labour market exposure and policy considerations. International Labour Organization.
9. KangNam Labor Law Firm (2025). Ministry of Employment and Labor - Employment Insurance Employment Stabilization Projects. https://www.k-labor.co.kr/main/govfund_main.html?lang=en&maj_idx_view=2&sub_idx_view=5.
10. Leckie N., Hui T.S.W., Tattrie D., Robson J. and Voyer J.P. (2010). Final Report of the Learn$Ave Individual Development Accounts Project. Social Research and Demonstration Corporation Report.
11. Ministry of Employment and Labor Korea (2026). General occupational training. https://m.work24.go.kr/cm/c/f/1100/selecSystInfo.do?systId=SI00000358&systClId=SC00000052.
12. MySkillsFuture (2026). SkillsFuture Credit. https://www.myskillsfuture.gov.sg/content/portal/en/career-resources/career-resources/education-career-personal-development/SkillsFuture_Credit.html
13. Navigos Group (2026). Báo cáo lương & thị trường lao động năm 2026. Talent Guide 2026.
14. Nguyễn Lê Đình Quý (2023). Học gì từ chương trình SkillsFuture của Singapore? https://nhandan.vn/hoc-gi-tu-chuong-trinh-skillsfuture-cua-singapore-post771260.html
15. OECD (2016). Back to Work: Denmark: Improving the Re-employment Prospects of Displaced Workers. OECD Publishing, Paris.
16. OECD (2019). Individual Learning Accounts: Panacea or Pandora's Box? OECD Publishing, Paris.
17. OECD (2021). OECD Skills Strategy Implementation Guidance for Korea: Strengthening the Governance of Adult Learning. OECD Publishing, Paris.
18. ReferNet Estonia and Cedefop (2025). Estonia expands free adult training to boost skills renewal and labour market participation. https://www.cedefop.europa.eu/ga/news/estonia-expands-free-adult-training-boost-skills-renewal-and-labour-market-participation.
19. Service Public (2026). Congé de transition professionnelle dans la fonction publique d'État. https://www.service-public.gouv.fr/particuliers/vosdroits/F36639.
20. SWDA (2026). Career Conversion Programmes for Individuals. https://www.swda.gov.sg/home/individuals/attachment-placement-programmes/career-conversion-programmes-for-individuals.
21. WEF (2025). The future of jobs report 2025. World Economic Forum.
22. World Bank (2023). Green Jobs: Upskilling and Reskilling Vietnam’s Workforce for a Greener Economy. The World Bank Group.
| Ngày nhận bài: 3/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 12/10/2026; Ngày duyệt đăng: 21/10/2026 |
Các tin khác
Kinh nghiệm quốc tế tăng trưởng 2 con số và bài học cho Việt Nam
Tác động của nền tảng công nghệ số và áp lực thể chế đến quyết định mua vật liệu xây dựng xanh của các chủ đầu tư bất động sản tại TP. Hồ Chí Minh
Quản lý sản xuất sầu riêng theo hướng bền vững: Nghiên cứu trường hợp tại xã Ea Knuếc, tỉnh Đắk Lắk
Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ tại tỉnh Vĩnh Long
Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao tại một số quốc gia Đông Nam Á
Nâng cao dịch vụ sau bán hàng trong logistics Việt Nam: Tiếp cận từ hiệu quả tài chính và trung thành khách hàng
Tính chân thực của livestreamer và ý định mua lại của khách hàng: Vai trò của niềm tin và chất lượng thông tin sản phẩm
Ảnh hưởng của hành vi mua sắm giải trí qua TikTok Shop đến khả năng quản lý tài chính của sinh viên các trường thuộc Đại học Thái Nguyên
Kinh nghiệm một số nước về phát triển nguồn nhân lực khu vực công và hàm ý cho Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số
