Vai trò trung gian của năng lực đổi mới trong mối quan hệ giữa ứng dụng AI và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch TP. Hồ Chí Minh

Nghiên cứu - Trao đổi 14:16 | 16/06/2026
Dựa trên dữ liệu khảo sát 107 doanh nghiệp du lịch đang hoạt động tại TP. Hồ Chí Minh, nghiên cứu phân tích vai trò trung gian của Năng lực đổi mới trong mối quan hệ giữa Ứng dụng AI và Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại TP. Hồ Chí Minh.

ThS. Lê Ngọc Hải

Khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

Email: [email protected]

Tóm tắt

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trong ngành du lịch, trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng được xem là một nguồn lực công nghệ chiến lược giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực đổi mới và cải thiện kết quả kinh doanh. Dựa trên dữ liệu khảo sát 107 doanh nghiệp du lịch đang hoạt động tại TP. Hồ Chí Minh, nghiên cứu phân tích vai trò trung gian của Năng lực đổi mới trong mối quan hệ giữa Ứng dụng AI và Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại TP. Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Ứng dụng AI có tác động tích cực đến Năng lực đổi mới của doanh nghiệp; đồng thời Đăng lực đổi mới có ảnh hưởng đáng kể đến Kết quả kinh doanh. Đặc biệt, Năng lực đổi mới đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa Ứng dụng AI và Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị và chính sách nhằm hỗ trợ doanh nghiệp du lịch khai thác hiệu quả các ứng dụng AI theo định hướng phát triển du lịch thông minh của TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030.

Từ khóa: AI, năng lực đổi mới, kết quả kinh doanh, doanh nghiệp du lịch, TP. Hồ Chí Minh, chuyển đổi số

Abstract

In the context of rapid digital transformation in the tourism industry, artificial intelligence (AI) is increasingly regarded as a strategic technological resource that enables firms to enhance innovation capability and improve business performance. Based on survey data collected from 107 tourism enterprises operating in Ho Chi Minh City, the study examines the mediating role of innovation capability in the relationship between AI adoption and business performance in the tourism sector. The empirical results indicate that AI adoption has a positive impact on firms’ innovation capability, while innovation capability significantly affects business performance. Notably, innovation capability plays a mediating role in the relationship between AI adoption and business performance. Based on these findings, the study proposes several managerial and policy implications to support tourism enterprises in effectively leveraging AI applications in line with Ho Chi Minh City’s smart tourism development orientation toward 2030.

Keywords: Artificial intelligence, innovation capability, business performance, tourism

GIỚI THIỆU

Với vai trò là trung tâm kinh tế lớn của cả nước và là địa phương có mức độ phát triển du lịch cao, TP. Hồ Chí Minh được xem là một trong những địa bàn triển khai chuyển đổi số du lịch sớm và tích cực nhất hiện nay. Theo báo cáo của Sở Du lịch TP. Hồ Chí Minh năm 2025, Thành phố đang từng bước triển khai các nền tảng du lịch thông minh, hệ thống quản lý điểm đến số và các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ trong hoạt động kinh doanh, hướng tới hình thành hệ sinh thái du lịch số đến năm 2030. Những định hướng này tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp du lịch từng bước tiếp cận và ứng dụng AI trong hoạt động quản trị và cung ứng dịch vụ. Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích tác động của ứng dụng AI đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại TP. Hồ Chí Minh thông qua cơ chế trung gian của năng lực đổi mới.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu

Mối quan hệ giữa ứng dụng AI và năng lực đổi mới

Theo quan điểm Lý thuyết dựa trên nguồn lực (RBV) của Barney (1991), việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến như AI giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng khai thác dữ liệu và tăng tốc độ ra quyết định, từ đó thúc đẩy quá trình đổi mới sáng tạo trong tổ chức (Barney, 1991; Davenport và Ronanki, 2018). Các nghiên cứu gần đây cho thấy AI có tác động tích cực đến năng lực đổi mới thông qua việc hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản phẩm mới, tối ưu hóa quy trình vận hành và cải thiện khả năng thích ứng với thị trường (Bag và cộng sự, 2021). Trong ngành du lịch, AI giúp doanh nghiệp thiết kế các sản phẩm du lịch cá nhân hóa và nâng cao trải nghiệm khách hàng, từ đó thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong hoạt động kinh doanh (Mariani và cộng sự, 2023). Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H1: Ứng dụng AI có tác động tích cực đến Năng lực đổi mới của doanh nghiệp du lịch tại TP. Hồ Chí Minh.

Mối quan hệ giữa năng lực đổi mới và kết quả kinh doanh

Nhiều nghiên cứu trước đây cho thấy năng lực đổi mới có tác động tích cực đến kết quả kinh doanh thông qua việc nâng cao chất lượng sản phẩm, tối ưu hóa quy trình vận hành và cải thiện khả năng thích ứng với sự thay đổi của thị trường (Teece, 2018; Hjalager, 2010). Trong bối cảnh chuyển đổi số, năng lực đổi mới đóng vai trò trung tâm trong việc chuyển hóa các nguồn lực công nghệ thành lợi thế cạnh tranh bền vững và hiệu quả hoạt động kinh doanh (Warner và Wäger, 2019). Đối với doanh nghiệp du lịch, năng lực đổi mới giúp nâng cao trải nghiệm khách hàng và mở rộng thị trường thông qua các mô hình dịch vụ thông minh và cá nhân hóa (Sigala, 2018). Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H2: Năng lực đổi mới có tác động tích cực đến Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại TP. Hồ Chí Minh.

Vai trò trung gian của năng lực đổi mới trong mối quan hệ giữa ứng dụng AI và kết quả kinh doanh

Theo Lý thuyết năng lực động, tác động của công nghệ đến kết quả kinh doanh thường không diễn ra trực tiếp mà thông qua các năng lực tổ chức trung gian như năng lực đổi mới (Teece và cộng sự, 1997). Các nghiên cứu gần đây cho thấy năng lực đổi mới đóng vai trò trung gian quan trọng trong mối quan hệ giữa ứng dụng công nghệ số và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Warner và Wäger, 2019; Bag và cộng sự , 2021). Trong ngành du lịch, năng lực đổi mới giúp doanh nghiệp khai thác hiệu quả các ứng dụng AI nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và tối ưu hóa hoạt động kinh doanh (Mariani và cộng sự , 2023). Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H3: Năng lực đổi mới đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa Ứng dụng AI và Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại TP. Hồ Chí Minh.

Mô hình nghiên cứu đề xuất

Trên cơ sở tổng quan lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu được đề xuất như Hình.

Hình: Mô hình nghiên cứu

Vai trò trung gian của năng lực đổi mới trong mối quan hệ giữa ứng dụng AI và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch TP. Hồ Chí Minh

Nguồn: Tác giả đề xuất

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm cả dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp, nhằm bảo đảm tính đầy đủ và độ tin cậy của kết quả phân tích trong bối cảnh nghiên cứu về ứng dụng AI trong doanh nghiệp du lịch tại TP. Hồ Chí Minh. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát 107 doanh nghiệp du lịch đang hoạt động trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Các doanh nghiệp tham gia khảo sát thuộc nhiều nhóm hoạt động khác nhau trong hệ sinh thái du lịch, bao gồm doanh nghiệp lữ hành, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch, doanh nghiệp vận chuyển du lịch, doanh nghiệp lưu trú và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hỗ trợ du lịch.

Bên cạnh dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu còn sử dụng dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo và tài liệu chính thức liên quan đến định hướng phát triển ngành du lịch và chuyển đổi số tại địa phương, bao gồm Báo cáo của Sở Du lịch TP. Hồ Chí Minh năm 2025, kế hoạch chuyển đổi số ngành du lịch TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2026 và định hướng phát triển du lịch TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030. Việc kết hợp dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp giúp nâng cao độ tin cậy của kết quả nghiên cứu, đồng thời tăng cường khả năng liên hệ giữa phân tích thực nghiệm ở cấp độ doanh nghiệp với bối cảnh chính sách và định hướng phát triển ngành du lịch tại địa phương. Các biến trong mô hình nghiên cứu được đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ, từ 1 - Hoàn toàn không đồng ý, đến 5- Hoàn toàn đồng ý (Nghiên cứu sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế).

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thống kê mô tả

Thông kê mô tả Ứng dụng AI

Bảng 1: Thống kê mô tả Ứng dụng AI

Biến

Giá trị trung bình

Độ lệch chuẩn

AI1

3.41

0.82

AI2

3.36

0.79

AI3

3.52

0.85

AI4

3.18

0.88

AI5

3.27

0.81

Nguồn: Kết quả phân tích từ dữ liệu khảo sát

Kết quả ở Bảng 1 cho thấy, Mức độ ứng dụng AI trong các doanh nghiệp du lịch đạt mức trung bình khá. Trong đó, Ứng dụng AI trong hoạt động marketing có giá trị trung bình cao nhất, phản ánh xu hướng doanh nghiệp ưu tiên triển khai các giải pháp cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng trong bối cảnh cạnh tranh số ngày càng gia tăng. Kết quả thống kê mô tả cho thấy, các doanh nghiệp du lịch tại TP. Hồ Chí Minh đã bước đầu triển khai ứng dụng AI trong một số hoạt động kinh doanh quan trọng như chăm sóc khách hàng, marketing số và phân tích dữ liệu hành vi du khách.

Thống kê mô tả Năng lực đổi mới

Kết quả ở Bảng 2 cho thấy, Năng lực đổi mới của các doanh nghiệp du lịch tại TP. Hồ Chí Minh đạt mức tương đối tích cực, đặc biệt trong hoạt động cải tiến dịch vụ và ứng dụng công nghệ mới trong cung cấp dịch vụ. Như vậy, các doanh nghiệp có xu hướng ưu tiên cải tiến dịch vụ và ứng dụng công nghệ mới nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tăng khả năng cạnh tranh trong môi trường du lịch số.

Bảng 2: Thống kê mô tả Năng lực đổi mới

Biến

Giá trị trung bình

Độ lệch chuẩn

IN1

3.61

0.74

IN2

3.44

0.81

IN3

3.58

0.77

IN4

3.39

0.83

IN5

3.47

0.79

Nguồn: Kết quả phân tích từ dữ liệu khảo sát

Thống kê mô tả Kết quả kinh doanh

Kết quả thống kê mô tả ở Bảng 3 cho thấy, các doanh nghiệp trong mẫu khảo sát ghi nhận sự cải thiện nhất định trong kết quả hoạt động kinh doanh sau khi triển khai các giải pháp chuyển đổi số. Trong đó, mức độ hài lòng của khách hàng và chất lượng dịch vụ là 2 yếu tố được cải thiện rõ rệt nhất theo đánh giá của doanh nghiệp.

Bảng 3: Thống kê mô tả Kết quả kinh doanh

Biến

Giá trị trung bình

Độ lệch chuẩn

BP1

3.46

0.76

BP2

3.32

0.82

BP3

3.59

0.71

BP4

3.63

0.68

BP5

3.48

0.75

Nguồn: Kết quả phân tích từ dữ liệu khảo sát

Kiểm định độ tin cậy thang đo

Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha ở Bảng 4 cho thấy, các thang đo trong mô hình nghiên cứu đạt độ tin cậy cao. Theo đó, các giá trị Cronbach’s Alpha đều lớn hơn 0.7 cho thấy thang đo có độ tin cậy tốt và phù hợp để sử dụng trong phân tích tiếp theo.

Bảng 4: Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha

Thang đo

Cronbach’s Alpha

AI

0.872

IN

0.889

BP

0.865

Nguồn: Kết quả phân tích từ dữ liệu khảo sát

Kiểm định giả thuyết nghiên cứu

Kết quả ở Bảng 5 cho thấy, Ứng dụng AI có tác động tích cực đến Năng lực đổi mới của doanh nghiệp du lịch tại TP. Hồ Chí Minh. Như vậy, giả thuyết H1 được chấp nhận.

Bảng 5: Kết quả kiểm định H1

Biến độc lập

Biến phụ thuộc

Beta

Sig.

AI

IN

0.512

0

Nguồn: Kết quả phân tích từ dữ liệu khảo sát

Bảng 6: Kết quả kiểm định H2

Biến độc lập

Biến phụ thuộc

Beta

Sig.

IN

BP

0.468

0

Nguồn: Kết quả phân tích từ dữ liệu khảo sát

Kết quả ở Bảng 6 cho thấy, Năng lực đổi mới có tác động tích cực đến Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, giả thuyết H2 được chấp nhận.

Kết quả kiểm định trung gian ở Bảng 7 cho thấy, Năng lực đổi mới đóng vai trò trung gian một phần trong mối quan hệ giữa Ứng dụng AI và Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch, do đó giả thuyết H3 được chấp nhận.

Bảng 7: Kiểm định trung gian

Quan hệ

Beta

Sig.

AI → BP

0.389

0

AI → IN

0.512

0

IN → BP

0.468

0

AI → BP (có IN)

0.214

0.021

Nguồn: Kết quả phân tích từ dữ liệu khảo sát

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

Kết luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy, Ứng dụng AI có tác động tích cực đến Năng lực đổi mới của doanh nghiệp du lịch. Đồng thời, Năng lực đổi mới có ảnh hưởng đáng kể đến Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc biệt, nghiên cứu đã xác nhận vai trò trung gian của Năng lực đổi mới trong mối quan hệ giữa Ứng dụng AI và Kết quả kinh doanh. Điều này cho thấy, tác động của AI đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp không diễn ra trực tiếp, mà thông qua khả năng chuyển hóa các nguồn lực công nghệ thành các hoạt động đổi mới trong tổ chức.

Kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ cơ chế tác động của AI trong bối cảnh chuyển đổi số ngành du lịch tại TP. Hồ Chí Minh, đồng thời cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho thấy năng lực đổi mới đóng vai trò trung tâm trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh số.

Hàm ý quản trị

Đối với doanh nghiệp du lịch

Từ kết quả nghiên cứu, một số hàm ý quản trị quan trọng được đề xuất nhằm giúp doanh nghiệp du lịch nâng cao hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động kinh doanh như sau:

Thứ nhất, doanh nghiệp cần xác định AI không chỉ là công cụ hỗ trợ tự động hóa quy trình vận hành mà còn là nền tảng thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong tổ chức. Việc ứng dụng AI cần được triển khai gắn với chiến lược phát triển sản phẩm mới, cải tiến trải nghiệm khách hàng và tối ưu hóa quy trình cung cấp dịch vụ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong môi trường du lịch số

Thứ hai, doanh nghiệp cần đầu tư nâng cao năng lực đổi mới như một yếu tố trung tâm trong quá trình chuyển đổi số. Kết quả nghiên cứu cho thấy năng lực đổi mới đóng vai trò trung gian quan trọng trong việc chuyển hóa tác động của AI thành kết quả kinh doanh. Do đó, việc ứng dụng AI chỉ thực sự mang lại hiệu quả khi doanh nghiệp đồng thời nâng cao năng lực thích ứng công nghệ và đổi mới mô hình kinh doanh

Thứ ba, doanh nghiệp cần ưu tiên triển khai các ứng dụng AI trong các hoạt động có tác động trực tiếp đến trải nghiệm khách hàng như marketing cá nhân hóa, phân tích dữ liệu hành vi du khách và chăm sóc khách hàng thông minh. Đây là những lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng nhanh và góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động trong ngắn hạn

Đối với cơ quan quản lý nhà nước ở TP. Hồ Chí Minh

Một là, cơ quan quản lý cần tiếp tục hoàn thiện hệ sinh thái du lịch thông minh nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các nền tảng công nghệ số, đặc biệt là các ứng dụng AI trong hoạt động kinh doanh. Việc phát triển các nền tảng dữ liệu du lịch dùng chung sẽ góp phần nâng cao khả năng khai thác dữ liệu của doanh nghiệp và thúc đẩy quá trình đổi mới sáng tạo trong toàn ngành

Hai là, cần xây dựng các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong ngành du lịch tiếp cận và triển khai các giải pháp AI phù hợp với điều kiện nguồn lực của doanh nghiệp. Đây là nhóm doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu ngành du lịch tại TP. Hồ Chí Minh nhưng thường gặp nhiều hạn chế về nguồn lực công nghệ

Ba là, cần tăng cường các chương trình hợp tác giữa cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực số phục vụ quá trình chuyển đổi số ngành du lịch theo định hướng phát triển du lịch thông minh đến năm 2030. Theo đó, các cơ sở đào tạo trong lĩnh vực du lịch và quản trị kinh doanh cần điều chỉnh chương trình đào tạo theo hướng tăng cường năng lực số cho người học. Cụ thể là:

- Tích hợp các học phần liên quan đến phân tích dữ liệu, marketing số, quản trị trải nghiệm khách hàng và ứng dụng AI trong chương trình đào tạo ngành du lịch nhằm giúp sinh viên thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động trong bối cảnh chuyển đổi số

- Tăng cường các hoạt động hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận thực tiễn triển khai các ứng dụng công nghệ số trong ngành du lịch. Điều này góp phần nâng cao năng lực đổi mới của nguồn nhân lực trong tương lai và hỗ trợ doanh nghiệp khai thác hiệu quả các ứng dụng AI trong hoạt động kinh doanh

- Phát triển các chương trình đào tạo ngắn hạn dành cho doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực ứng dụng AI trong quản trị du lịch, đặc biệt đối với nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Tài liệu tham khảo:

1. Bag, S., Gupta, S., Kumar, A., & Sivarajah, U. (2021). Role of artificial intelligence in smart manufacturing: Evidence from emerging economies. Technological Forecasting and Social Change, 162, 120–147. https://doi.org/10.1016/j.techfore.2020.120147

2. Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), 99–120. https://doi.org/10.1177/014920639101700108

3. Davenport, T. H., & Ronanki, R. (2018). Artificial intelligence for the real world. Harvard Business Review, 96(1), 108–116.

4. Hjalager, A. M. (2010). A review of innovation research in tourism. Tourism Management, 31(1), 1–12. https://doi.org/10.1016/j.tourman.2009.08.012

5. Mariani, M., Baggio, R., Fuchs, M., & Höepken, W. (2023). Business intelligence and big data in hospitality and tourism: A systematic literature review. International Journal of Contemporary Hospitality Management, 35(2), 490–512. https://doi.org/10.1108/IJCHM-01-2022-0104

6. Sigala, M. (2018). New technologies in tourism: From multi-disciplinary to anti-disciplinary advances and trajectories. Tourism Management Perspectives, 25, 151–155. https://doi.org/10.1016/j.tmp.2017.12.003

7. Teece, D. J. (2018). Business models and dynamic capabilities. Long Range Planning, 51(1), 40–49. https://doi.org/10.1016/j.lrp.2017.06.007

8. Teece, D. J., Pisano, G., & Shuen, A. (1997). Dynamic capabilities and strategic management. Strategic Management Journal, 18(7), 509–533. https://doi.org/10.1002/(SICI)1097-0266(199708)18:7<509::aid-smj882>3.0.CO;2-Z

9. Warner, K. S. R., & Wäger, M. (2019). Building dynamic capabilities for digital transformation: An ongoing process of strategic renewal. Long Range Planning, 52(3), 326–349. https://doi.org/10.1016/j.lrp.2018.12.001

Ngày nhận bài: 15/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 8/6/2026; Ngày duyệt đăng: 16/6/2026

Các tin khác

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng AI của sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng AI của sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh

Các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) tạo sinh đang làm thay đổi cách sinh viên tiếp cận tri thức. Theo khảo sát của Digital Education Council trên 3.839 sinh viên tại 16 quốc gia, 86% sinh viên đã sử dụng AI trong học tập và 54% sử dụng ít nhất hằng tuần; song 58% tự đánh giá chưa đủ kiến thức về AI, và 2 mối lo lớn nhất là an toàn dữ liệu cùng độ tin cậy của nội dung do AI tạo ra.
Nâng cao khả năng giải quyết vấn đề và sáng tạo của sinh viên thông qua các công cụ AI: Phân tích trắc lượng thư mục sử dụng cơ sở dữ liệu Scopus

Nâng cao khả năng giải quyết vấn đề và sáng tạo của sinh viên thông qua các công cụ AI: Phân tích trắc lượng thư mục sử dụng cơ sở dữ liệu Scopus

AI hiện nay đang tác động sâu rộng trên mọi lĩnh vực, bao gồm cả giáo dục, giúp nâng cao khả năng giải quyết vấn đề của sinh viên.
Ảnh hưởng của hành vi mua sắm tìm kiếm đến sự gắn kết của khách hàng trong xu hướng bán lẻ hợp kênh tại TP. Hồ Chí Minh

Ảnh hưởng của hành vi mua sắm tìm kiếm đến sự gắn kết của khách hàng trong xu hướng bán lẻ hợp kênh tại TP. Hồ Chí Minh

TP. Hồ Chí Minh ghi nhận tốc độ mở rộng kênh bán hàng nhanh nhất trong cả nước. Sự chồng chéo của các kênh bán hàng tạo ra hiện tượng người tiêu dùng không còn trung thành với một kênh duy nhất, mà thực hiện mua sắm qua nhiều kênh khác nhau.
Tiếp cận du lịch sinh thái theo định hướng kinh tế tuần hoàn tại vườn quốc gia Yok Đôn từ lý thuyết tái sản xuất của C. Mác

Tiếp cận du lịch sinh thái theo định hướng kinh tế tuần hoàn tại vườn quốc gia Yok Đôn từ lý thuyết tái sản xuất của C. Mác

Việc phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Yok Đôn đặt ra yêu cầu không chỉ là giảm thiểu tác động môi trường của hoạt động du lịch, mà còn phải xem xét cách thức các nguồn lực tự nhiên, xã hội và kinh tế được duy trì, phục hồi và tiếp tục tham gia vào quá trình phát triển.
Đề xuất mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi số đến hiệu quả quản trị nguồn nhân lực tại các trường đại học trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Đề xuất mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi số đến hiệu quả quản trị nguồn nhân lực tại các trường đại học trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Chuyển đổi số đang tái định hình hoạt động quản trị nguồn nhân lực tại các trường đại học, tuy nhiên mức độ hiệu quả vẫn khác biệt giữa các cơ sở dù có mức đầu tư công nghệ tương đương.
Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Đông Nam Bộ trong bối cảnh chuyển đổi số: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Đông Nam Bộ trong bối cảnh chuyển đổi số: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh chuyển đổi số, hoạt động doanh nghiệp ngày càng dựa trên dữ liệu, nền tảng và những giao dịch vượt ra ngoài địa giới hành chính; ở phía cơ quan quản lý, các hoạt động đăng ký kinh doanh, thuế, dịch vụ công, hỗ trợ doanh nghiệp, thanh tra và giám sát cũng đang chuyển lên môi trường số.
Nghiên cứu tác động của thực hành quản trị nhân sự xanh đến hiệu quả môi trường: Vai trò trung gian của hành vi công dân tổ chức hướng về môi trường

Nghiên cứu tác động của thực hành quản trị nhân sự xanh đến hiệu quả môi trường: Vai trò trung gian của hành vi công dân tổ chức hướng về môi trường

Theo Ngân hàng Thế giới, các tác động của biến đổi khí hậu đã gây ra những tổn thất kinh tế đáng kể tại Việt Nam, qua đó cho thấy sự cần thiết phải cải thiện các kết quả môi trường trong hoạt động của doanh nghiệp.
Chuyển đổi số trong các trường đại học công lập: Thực trạng và giải pháp

Chuyển đổi số trong các trường đại học công lập: Thực trạng và giải pháp

Đối với các trường đại học công lập, yêu cầu chuyển đổi số mang tính kép: vừa phải nâng cao chất lượng đào tạo và năng lực cạnh tranh, vừa thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ công giáo dục hiệu quả, minh bạch và tiếp cận hơn.
Từ tập trung định chế đến khơi thông nguồn vốn qua trung tâm tài chính quốc tế: Hàm ý cho Việt Nam

Từ tập trung định chế đến khơi thông nguồn vốn qua trung tâm tài chính quốc tế: Hàm ý cho Việt Nam

Trong xu hướng chuyển dịch của dòng vốn quốc tế, các trung tâm tài chính quốc tế (TTTCQT) đóng vai trò quan trọng giúp khơi thông nguồn vốn, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế dài hạn. Vai trò này không chỉ thể hiện ở quy mô hay số lượng định chế tài chính, mà còn ở khả năng huy động vốn, xử lý thông tin, giám sát, quản trị rủi ro và phân bổ nguồn lực.
Đề xuất mô hình mở rộng TPB về ý định chia sẻ tri thức trên nền tảng số của giảng viên đại học

Đề xuất mô hình mở rộng TPB về ý định chia sẻ tri thức trên nền tảng số của giảng viên đại học

Chuyển đổi số giáo dục đại học mở ra cơ hội chia sẻ tri thức giữa các giảng viên, đồng thời giúp cho nội dung có thể được lưu trữ lâu dài, sao chép và tiếp cận rộng hơn. Những đặc điểm này vừa tạo thuận lợi cho trao đổi tri thức, vừa đặt ra các vấn đề về sự sẵn sàng và mức độ kiểm soát của giảng viên khi chia sẻ.