Thực trạng năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam giai đoạn 2006-2025 và hàm ý chính sách
PGS.TS. Đỗ Hữu Hải
Trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung; Email: haidh1975@gmail.com
TS. Đỗ Thị Hằng, TS. Nguyễn Thị Huyền Trang,
ThS. Nguyễn Thị Thanh Hiên, ThS. Nguyễn Minh Hải
Trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung
TS. Đỗ Quốc Đạt (Tác giả liên hệ)
Trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung; Email: datnuocdoquocdat@gmail.com
Tóm tắt
Bài viết phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam thông qua Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Toàn cầu do Diễn đàn Kinh tế Thế giới công bố giai đoạn 2006-2019. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh khu vực và phân tích SWOT, kết hợp đối chiếu với Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh và Chỉ số Đổi mới Sáng tạo Toàn cầu. Kết quả cho thấy năng lực cạnh tranh của Việt Nam trải qua 3 giai đoạn: cải thiện nhanh 2006-2010, trì trệ 2011-2016 và phục hồi 2017-2019, với mức tăng kỷ lục mười bậc trong năm 2019. Điểm mạnh nổi bật là ổn định kinh tế vĩ mô, quy mô thị trường và mức độ hội nhập; điểm nghẽn lớn nhất nằm ở năng lực đổi mới sáng tạo, chất lượng thể chế và hệ thống tài chính. Bài viết đề xuất bốn nhóm giải pháp nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa vào yếu tố đầu vào sang dựa trên đổi mới sáng tạo cho giai đoạn 2026-2035.
Từ khóa: Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu, đổi mới sáng tạo, hội nhập kinh tế quốc tế, năng lực cạnh tranh quốc gia, thể chế kinh tế.
Abstract
This paper analyses the state of Vietnam’s national competitiveness through the Global Competitiveness Index published by the World Economic Forum over 2006-2019. The study applies descriptive statistics, regional comparative analysis and SWOT analysis, cross-referenced with the Provincial Competitiveness Index and the Global Innovation Index. Findings indicate three distinct phases: rapid improvement during 2006-2010, stagnation during 2011-2016, and recovery during 2017-2019, culminating in a record ten-place advance in 2019. Key strengths lie in macroeconomic stability, market size and depth of international integration, whereas the principal bottlenecks are innovation capability, institutional quality and financial system development. The paper proposes four groups of solutions to shift the growth model from a factor-driven towards an innovation-driven economy for the 2026-2035 period.
Keywords: Economic institutions, global competitiveness index, innovation, international economic integration, national competitiveness.
GIỚI THIỆU
Năng lực cạnh tranh quốc gia phản ánh khả năng của một nền kinh tế trong việc tạo lập và duy trì môi trường thuận lợi cho tăng trưởng năng suất dài hạn, qua đó nâng cao mức sống của người dân. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, việc đánh giá đúng thực trạng năng lực cạnh tranh là cơ sở cho hoạch định chiến lược phát triển.
Đối với Việt Nam, vấn đề này mang tính cấp thiết đặc biệt. Sau hơn hai thập niên đổi mới và hội nhập, quy mô nền kinh tế đã tăng nhiều lần song thu nhập bình quân đầu người vẫn nằm trong nhóm trung bình. Mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045 đòi hỏi nhận diện chính xác các điểm nghẽn cấu trúc.
Nghiên cứu có ba điểm mới. Thứ nhất, bài viết hệ thống hóa diễn biến năng lực cạnh tranh theo bốn giai đoạn gắn với các bước ngoặt chính sách cụ thể. Thứ hai, nghiên cứu kết hợp ba nguồn dữ liệu ở ba cấp độ: Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Toàn cầu ở cấp quốc gia, Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh ở cấp địa phương và Chỉ số Đổi mới Sáng tạo Toàn cầu ở khía cạnh công nghệ. Thứ ba, bài viết minh bạch hóa một ràng buộc dữ liệu mà nhiều nghiên cứu trong nước chưa lưu ý: Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã tạm dừng xếp hạng năng lực cạnh tranh từ năm 2020 cho toàn bộ các nền kinh tế.
Bài viết tập trung giải quyết ba nội dung: phân tích diễn biến thứ hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam giai đoạn 2006-2019; nhận diện điểm mạnh và điểm yếu theo cấu trúc trụ cột; và đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2026-2035.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Nghiên cứu kế thừa bốn trường phái lý thuyết. Trường phái cổ điển với Smith (1776) và Ricardo (1817) giải thích chuyên môn hóa quốc tế qua lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh, song mang tính tĩnh và chưa lý giải được vì sao các quốc gia có điều kiện tương đồng lại có quỹ đạo phát triển khác nhau.
Porter (1990) trong công trình The Competitive Advantage of Nations đưa ra mô hình Kim cương, theo đó lợi thế cạnh tranh quốc gia bắt nguồn từ tương tác của bốn nhóm điều kiện: nhân tố sản xuất, điều kiện cầu nội địa, ngành công nghiệp hỗ trợ và chiến lược cạnh tranh doanh nghiệp. Porter nhấn mạnh năng lực cạnh tranh về bản chất là năng suất, không phải khả năng xuất khẩu hay thặng dư thương mại. Mô hình này đồng thời phân biệt ba giai đoạn phát triển: dựa trên yếu tố đầu vào, dựa trên hiệu quả và dựa trên đổi mới sáng tạo.
Romer (1990) và Lucas (1988) bổ sung nền tảng vi mô qua lý thuyết tăng trưởng nội sinh: tri thức có đặc tính phi cạnh tranh, tạo lợi suất tăng dần theo quy mô, do đó nghiên cứu phát triển và vốn con người là động lực bền vững của năng suất. North (1990) và Acemoglu cùng Robinson (2012) xác lập thể chế là nhân tố quyết định sâu xa nhất qua việc định hình chi phí giao dịch và hệ thống động cơ kinh tế.
Trên cơ sở đó, khung phân tích của nghiên cứu xác định năng lực cạnh tranh quốc gia được cấu thành bởi bốn nhóm nhân tố: môi trường nền tảng gồm thể chế, hạ tầng và ổn định vĩ mô; vốn con người gồm y tế và kỹ năng; hiệu quả thị trường gồm thị trường hàng hóa, lao động và tài chính; và hệ sinh thái đổi mới gồm quy mô thị trường, năng động kinh doanh và năng lực đổi mới. Cấu trúc bốn nhóm này tương thích với kiến trúc mười hai trụ cột của Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Toàn cầu, cho phép vận dụng trực tiếp bộ chỉ số vào phân tích thực nghiệm.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp thống kê mô tả với ba kỹ thuật phân tích: phân tích chuỗi thời gian theo giai đoạn nhằm nhận diện các bước ngoặt; phân tích so sánh khu vực với các nền kinh tế ASEAN nhằm định vị Việt Nam; và phân tích SWOT nhằm hệ thống hóa điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức.
Về phạm vi và cách thu thập dữ liệu, nghiên cứu giới hạn ở giai đoạn 2006-2019. Năm bắt đầu được xác định bởi thời điểm Diễn đàn Kinh tế Thế giới lần đầu đưa Việt Nam vào bảng xếp hạng. Năm kết thúc được xác định bởi một ràng buộc khách quan: tổ chức này đã tạm dừng công bố xếp hạng năng lực cạnh tranh kể từ năm 2020 do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 và đến thời điểm nghiên cứu chưa khôi phục. Đây là ràng buộc áp dụng cho toàn bộ các nền kinh tế được xếp hạng, không riêng Việt Nam.
Dữ liệu về thứ hạng và điểm số năng lực cạnh tranh được thu thập từ các báo cáo Global Competitiveness Report thường niên của Diễn đàn Kinh tế Thế giới. Do tổ chức này thay đổi phương pháp và thang đo từ mô hình cũ sang mô hình mới vào năm 2018, nghiên cứu sử dụng thứ hạng thay vì điểm số khi so sánh xuyên suốt giai đoạn, nhằm bảo đảm tính nhất quán. Dữ liệu bổ trợ về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được lấy từ báo cáo thường niên của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, dựa trên khảo sát khoảng mười nghìn doanh nghiệp mỗi năm. Dữ liệu về đổi mới sáng tạo giai đoạn sau 2019 được lấy từ báo cáo Global Innovation Index của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới, bộ chỉ số vẫn được công bố liên tục.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Kết quả nghiên cứu
Diễn biến thứ hạng của Việt Nam trên hai bộ chỉ số cạnh tranh quốc tế giai đoạn 2006-2025 được trình bày ở Bảng 1. Bảng này phản ánh một thực tế quan trọng về nguồn dữ liệu: Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Toàn cầu chỉ có đến năm 2019, trong khi Chỉ số Đổi mới Sáng tạo Toàn cầu được công bố liên tục đến năm 2025.
Bảng 1: Thứ hạng của Việt Nam trên hai bộ chỉ số cạnh tranh quốc tế, 2006-2025
|
Năm |
GCI (hạng/tổng số) |
GII (hạng/tổng số) |
Năm |
GCI (hạng/tổng số) |
GII (hạng/tổng số) |
|---|---|---|---|---|---|
|
2006 |
77/125 |
- |
2016 |
60/138 |
59/128 |
|
2007 |
68/131 |
65/107 |
2017 |
74/135 |
47/127 |
|
2008 |
70/134 |
- |
2018 |
77/140 |
45/126 |
|
2009 |
75/133 |
- |
2019 |
67/141 |
42/129 |
|
2010 |
59/139 |
- |
2020 |
Không công bố |
42/131 |
|
2011 |
65/142 |
- |
2021 |
Không công bố |
44/132 |
|
2012 |
75/144 |
- |
2022 |
Không công bố |
48/132 |
|
2013 |
70/148 |
- |
2023 |
Không công bố |
46/132 |
|
2014 |
68/144 |
- |
2024 |
Không công bố |
44/133 |
|
2015 |
56/140 |
- |
2025 |
Không công bố |
44/139 |
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo Global Competitiveness Report của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (2006-2019) và báo cáo Global Innovation Index của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (2007-2025). Ghi chú: Diễn đàn Kinh tế Thế giới tạm dừng công bố xếp hạng năng lực cạnh tranh từ năm 2020 do đại dịch COVID-19 và đến nay chưa khôi phục; việc tạm dừng áp dụng cho toàn bộ các nền kinh tế được xếp hạng. Dấu (-) chỉ những năm chưa thu thập được thứ hạng GII.
Số liệu cho thấy ba giai đoạn rõ rệt. Giai đoạn 2006-2010 ghi nhận cải thiện nhanh, từ vị trí 77 lên 59, gắn với việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007 và làn sóng đầu tư nước ngoài sau đó. Riêng năm 2010, Việt Nam tăng mười sáu bậc, mức cao nhất trong toàn bộ giai đoạn nghiên cứu, nhờ các gói kích thích kinh tế và phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Giai đoạn 2011-2016 phản ánh trì trệ và bộc lộ hạn chế nội tại. Lạm phát cao buộc Chính phủ ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP năm 2011 với trọng tâm thắt chặt tiền tệ và giảm đầu tư công. Nợ xấu gia tăng, doanh nghiệp khó tiếp cận vốn. Thứ hạng dao động thất thường, phản ánh giằng co giữa cải cách và bất ổn vĩ mô.
Giai đoạn 2017-2019 chứng kiến phục hồi rõ nét. Đặc biệt năm 2019, Việt Nam tăng mười bậc lên vị trí 67 trên 141 nền kinh tế, trở thành quốc gia cải thiện mạnh nhất khu vực. Cùng thời kỳ, thứ hạng đổi mới sáng tạo cũng cải thiện mạnh, từ 59 năm 2016 lên 42 năm 2019.
Giai đoạn 2020-2025 không còn dữ liệu về năng lực cạnh tranh tổng thể do Diễn đàn Kinh tế Thế giới tạm dừng xếp hạng. Căn cứ vào Chỉ số Đổi mới Sáng tạo Toàn cầu, quỹ đạo của Việt Nam trong giai đoạn này có dạng chữ V: giữ vị trí 42 trong hai năm 2019 và 2020, tụt xuống 44 năm 2021 và 48 năm 2022, sau đó phục hồi lên 46 năm 2023 và ổn định ở vị trí 44 trong hai năm 2024 và 2025. Mức tụt hạng năm 2021-2022 một phần bắt nguồn từ việc Việt Nam điều chỉnh cách tính tổng sản phẩm quốc nội, làm thay đổi mẫu số của nhiều chỉ tiêu tính theo tỷ lệ trên GDP.
Xét trong toàn bộ giai đoạn, Việt Nam đã tăng ba mươi hai bậc trên Chỉ số Đổi mới Sáng tạo trong mười hai năm kể từ 2013, thuộc nhóm chín nền kinh tế thu nhập trung bình cải thiện nhanh nhất thế giới. Bối cảnh so sánh khu vực trong năm 2025 được trình bày ở Bảng 2.
Bảng 2: Thứ hạng đổi mới sáng tạo các nền kinh tế ASEAN năm 2025
|
Nền kinh tế |
Thứ hạng toàn cầu |
Vị trí trong ASEAN |
Nhóm thu nhập |
|---|---|---|---|
|
Singapore |
5 |
1 |
Thu nhập cao |
|
Malaysia |
34 |
2 |
Trung bình cao |
|
Việt Nam |
44 |
3 |
Trung bình thấp |
|
Thái Lan |
45 |
4 |
Trung bình cao |
|
Philippines |
50 |
5 |
Trung bình thấp |
|
Indonesia |
55 |
6 |
Trung bình cao |
|
Brunei |
88 |
7 |
Thu nhập cao |
|
Campuchia |
100 |
8 |
Trung bình thấp |
|
Lào |
109 |
9 |
Trung bình thấp |
|
Myanmar |
122 |
10 |
Trung bình thấp |
Nguồn: Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (2025), Global Innovation Index 2025, xếp hạng trên 139 nền kinh tế. Việt Nam đạt 37,1 điểm, đứng thứ hai trong nhóm quốc gia thu nhập trung bình thấp, chỉ sau Ấn Độ (hạng 38).
Kết quả tại Bảng 2 cho thấy Việt Nam hiện đứng thứ ba trong ASEAN về đổi mới sáng tạo, sau Singapore và Malaysia, và đã vượt Thái Lan. Đáng chú ý hơn, Việt Nam là nền kinh tế duy nhất thuộc nhóm thu nhập trung bình thấp lọt vào tốp bốn của khu vực, trong khi Thái Lan và Indonesia đều thuộc nhóm thu nhập trung bình cao. Điều này hàm ý Việt Nam đang chuyển hóa nguồn lực đầu vào thành kết quả đổi mới với hiệu suất cao hơn mức thu nhập cho phép. Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới ghi nhận Việt Nam và Ấn Độ là hai nền kinh tế duy nhất duy trì thành tích vượt trội so với mức thu nhập trong mười lăm năm liên tiếp.
Về cấu trúc trụ cột, dữ liệu năm 2018 cho thấy Việt Nam đạt điểm cao ở Y tế, Ổn định kinh tế vĩ mô và Quy mô thị trường, nhưng thấp ở trụ cột Ứng dụng công nghệ thông tin. Cấu trúc này phản ánh nền tảng vĩ mô vững nhưng còn yếu ở các trụ cột quyết định chất lượng tăng trưởng dài hạn.
Ở cấp địa phương, Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh cho thấy cải thiện liên tục cùng phân hóa đáng kể giữa các tỉnh. Năm 2023, tỉnh dẫn đầu đạt 71,25 điểm và giữ vị trí số một sáu năm liên tiếp, trong khi nhóm cuối bảng còn cách biệt lớn. Dư địa cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia do đó nằm phần lớn ở việc nâng cấp nhóm địa phương yếu.
Thảo luận kết quả
Kết quả phân tích SWOT cho thấy bốn điểm mạnh cốt lõi. Thứ nhất là ổn định kinh tế vĩ mô, được duy trì bền vững sau giai đoạn bất ổn 2008-2011 nhờ điều hành đồng bộ chính sách tài khóa và tiền tệ. Thứ hai là quy mô dân số trên một trăm triệu người trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng, tạo đồng thời lợi thế về chi phí lao động và thị trường tiêu dùng nội địa. Thứ ba là mức độ hội nhập sâu rộng thông qua mạng lưới các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Thứ tư là tốc độ phát triển nhanh của hạ tầng số và kinh tế số.
Bốn điểm yếu nổi bật gồm: năng lực đổi mới sáng tạo hạn chế với chi cho nghiên cứu phát triển thấp và liên kết yếu giữa viện trường với doanh nghiệp; chất lượng thể chế chưa theo kịp yêu cầu, đặc biệt ở tiêu chí minh bạch và chi phí không chính thức; hệ thống tài chính phụ thuộc nặng vào tín dụng ngân hàng; và liên kết lỏng lẻo giữa khu vực có vốn nước ngoài với doanh nghiệp trong nước.
Đối chiếu với khung lý thuyết của Porter (1990), kết quả cho thấy Việt Nam đang ở giai đoạn chuyển tiếp từ mô hình tăng trưởng dựa trên yếu tố đầu vào sang mô hình dựa trên hiệu quả, nhưng chưa hình thành được các điều kiện của mô hình dựa trên đổi mới sáng tạo. Đặc điểm này giải thích vì sao thứ hạng năng lực cạnh tranh cải thiện nhưng chưa tạo được bước nhảy về chất.
Vận dụng lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Romer (1990), điểm nghẽn căn bản nằm ở đầu tư cho tri thức. Khi chi cho nghiên cứu phát triển còn thấp, nền kinh tế thiếu cơ chế tích lũy tri thức nội sinh và phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu qua kênh đầu tư nước ngoài, khiến tăng trưởng năng suất chưa tương xứng với tăng trưởng sản lượng.
Từ góc độ thể chế của North (1990), kết quả củng cố nhận định rằng thể chế là ràng buộc có tính quyết định. Thể chế không chỉ tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh mà còn quy định mức độ hiệu quả của toàn bộ các nguồn lực khác. Điều này hàm ý cải cách thể chế cần được đặt ở vị trí trung tâm chứ không phải là một cấu phần song song với các chính sách khác.
Nghiên cứu có hai hạn chế cần lưu ý. Thứ nhất, do Diễn đàn Kinh tế Thế giới tạm dừng công bố xếp hạng từ năm 2020, phân tích không thể mở rộng đến giai đoạn hiện tại; phần tham chiếu qua Chỉ số Đổi mới Sáng tạo chỉ mang tính bổ trợ vì hai bộ chỉ số đo lường những khái niệm khác nhau. Thứ hai, việc thay đổi phương pháp của bộ chỉ số vào năm 2018 làm giảm tính so sánh xuyên suốt giai đoạn; nghiên cứu khắc phục một phần bằng cách sử dụng thứ hạng thay cho điểm số.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP
Nghiên cứu cho thấy năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam giai đoạn 2006-2019 đã cải thiện đáng kể nhưng chưa tạo được chuyển biến về chất. Việt Nam có nền tảng vĩ mô ổn định, quy mô thị trường lớn và mức độ hội nhập cao, song vẫn bị ràng buộc bởi ba điểm nghẽn: năng lực đổi mới sáng tạo, chất lượng thể chế và hệ thống tài chính. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất bốn nhóm giải pháp.
Thứ nhất, đột phá về đổi mới sáng tạo. Cần nâng tỷ lệ chi cho nghiên cứu phát triển thông qua cơ chế ngân sách được tách biệt khỏi điều chỉnh tài khóa ngắn hạn, đồng thời áp dụng ưu đãi thuế cho chi phí nghiên cứu của doanh nghiệp. Song song, cần cải cách cơ chế liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, tạo điều kiện hình thành doanh nghiệp khởi nghiệp từ kết quả nghiên cứu. Do tác động của đầu tư cho tri thức xuất hiện với độ trễ nhiều năm, các cam kết cần được thể chế hóa để bảo đảm tính liên tục.
Thứ hai, cải cách thể chế và quản trị công. Trọng tâm là rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp thương mại, minh bạch hóa thông tin quy hoạch và đấu thầu, giảm chi phí không chính thức thông qua số hóa toàn diện thủ tục hành chính. Kinh nghiệm từ phân hóa giữa các tỉnh cho thấy cải cách thể chế ở cấp địa phương có dư địa lớn và có thể triển khai nhanh hơn cải cách ở cấp trung ương.
Thứ ba, phát triển thị trường vốn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Cần giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng bằng cách phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp có kiểm soát rủi ro, đồng thời cải cách hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo hướng gắn với yêu cầu công nghệ mới và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.
Thứ tư, nâng cấp chất lượng dòng vốn đầu tư nước ngoài. Chính sách cần chuyển trọng tâm từ số lượng sang chất lượng, ưu tiên dự án có hàm lượng công nghệ cao và cam kết chuyển giao công nghệ. Đồng thời cần xây dựng chương trình phát triển nhà cung ứng nội địa nhằm tăng tỷ lệ nội địa hóa và mở rộng hiệu ứng lan tỏa từ khu vực có vốn nước ngoài sang doanh nghiệp trong nước.
Hướng nghiên cứu tiếp theo là kiểm định định lượng mối quan hệ giữa chất lượng thể chế và hiệu quả của vốn đầu tư bằng dữ liệu bảng cấp tỉnh, nơi biến thiên thể chế giữa các địa phương đủ lớn để cho kết quả có độ tin cậy thống kê cao.
*Lời cảm ơn: Nhóm tác giả trân trọng cảm ơn Trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung đã hỗ trợ và tài trợ cho nghiên cứu theo Hợp đồng thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường trọng điểm, Mã số: ĐT.02.25.
Tài liệu tham khảo:
1. Acemoglu, D. và Robinson, J. A. (2012). Why Nations Fail: The Origins of Power, Prosperity and Poverty, Nxb Crown, New York.
2. Chính phủ (2011). Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.
3. Lucas, R. E. (1988). On the mechanics of economic development, Journal of Monetary Economics, Tập 22, Số 1, tr. 3-42.
4. North, D. C. (1990). Institutions, Institutional Change and Economic Performance, Nxb Cambridge University Press, Cambridge.
5. Porter, M. E. (1990). The Competitive Advantage of Nations, Nxb Free Press, New York.
6. Ricardo, D. (1817). On the Principles of Political Economy and Taxation, Nxb John Murray, London.
7. Romer, P. M. (1990). Endogenous technological change, Journal of Political Economy, Tập 98, Số 5, tr. S71-S102.
8. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2024). Báo cáo Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh PCI 2023, truy cập từ https://pcivietnam.vn/
9. Diễn đàn Kinh tế Thế giới (2019). The Global Competitiveness Report 2019, truy cập từ https://www.weforum.org/publications/
10. Diễn đàn Kinh tế Thế giới (2020). The Global Competitiveness Report Special Edition 2020, truy cập từ https://www.weforum.org/publications/
11. Đỗ Hữu Hải (2019). Giáo trình Nghiên cứu thị trường. Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân.
12. Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (2025). Global Innovation Index 2025, truy cập từ https://www.wipo.int/global_innovation_index/
| Ngày nhận bài: 20/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 28/8/2026; Ngày duyệt đăng: 4/9/2026 |
Các tin khác
Hoàn thiện thể chế phát triển du lịch cộng đồng bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam: Yêu cầu đặt ra và định hướng chính sách trong kỷ nguyên mới
Phân tích nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng trong ngành khách sạn
Các đòn bẩy chiến lược nâng cao kết quả kinh doanh của doanh nghiệp giao nhận vận tải: Khung ưu tiên quản trị dựa trên bằng chứng thực nghiệm
Ảnh hưởng của nhận thức và niềm tin đến hành vi mua nông sản hữu cơ của người tiêu dùng Việt Nam
Các tác động đến việc triển khai trí tuệ nhân tạo trong ngành kế toán, kiểm toán tại Việt Nam theo Lý thuyết TOE
Thương mại hóa di sản văn hóa xanh và phát triển bền vững tại làng nghề gốm Bàu Trúc: Vai trò điều tiết của ý thức bảo vệ môi trường
Xây dựng khung đo lường văn bản thích ứng để đánh giá tiến trình chuyển đổi số của các ngân hàng thương mại
Chính sách tín dụng xanh, thực hành biến đổi khí hậu và hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại ASEAN
Năng lực động xanh và lợi thế cạnh tranh: Vai trò trung gian của đổi mới xanh và hiệu quả bền vững