Hoàn thiện thể chế phát triển du lịch cộng đồng bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam: Yêu cầu đặt ra và định hướng chính sách trong kỷ nguyên mới
TS. Tạ Thị Đoàn
Viện Kinh tế chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: tathidoan@hcma.edu.vn
Tóm tắt
Bài viết phân tích yêu cầu hoàn thiện thể chế phát triển du lịch cộng đồng bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam trong kỷ nguyên mới, từ thực tiễn bản Cát Cát, xã Tả Van, tỉnh Lào Cai. Nghiên cứu chỉ ra rằng, khi du lịch phát triển nhanh, nếu thể chế quản trị không theo kịp, cộng đồng - chủ thể của tài nguyên văn hóa - có nguy cơ bị thu hẹp quyền làm chủ, đồng thời gia tăng sức ép về bảo tồn, môi trường và phân phối lợi ích. Quán triệt quan điểm Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, bài viết đề xuất lấy cộng đồng làm chủ thể, văn hóa làm nguồn lực nội sinh, quản trị đa chủ thể làm phương thức, phát triển bền vững và bao trùm làm mục tiêu; chuyển từ hỗ trợ sang trao quyền, từ khai thác sang tái tạo vốn văn hóa, từ quản lý hoạt động sang quản trị điểm đến và từ tăng lượng khách sang gia tăng giá trị.
Từ khóa: Du lịch cộng đồng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thể chế phát triển bền vững; quản trị điểm đến, bản Cát Cát, xã Tả Van, tỉnh Lào Cai
Abstract
This article analyzes the requirements for institutional improvement to promote sustainable community-based tourism in Viet Nam's ethnic minority areas in the new era, drawing on the case of Cat Cat Village, Ta Van Commune, Lao Cai Province. The study points out that when tourism develops rapidly, and governance institutions fail to keep pace, communities - the custodians of cultural resources - risk losing their ownership and decision-making roles, while pressures on cultural preservation, the environment, and the distribution of benefits increase. In line with the perspectives of the 14th National Party Congress and Politburo Resolution No. 80-NQ/TW, the article proposes positioning the community as the central actor, culture as an endogenous resource, multi-stakeholder governance as the approach, and sustainable and inclusive development as the goal; shifting from support to empowerment, from exploitation to the regeneration of cultural capital, from activity management to destination governance, and from increasing visitor numbers to enhancing value.
Keywords: Community-based tourism, ethnic minority areas, sustainable development institutions, destination governance, Cat Cat Village, Ta Van Commune, Lao Cai Province
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam không chỉ là tăng trưởng nhanh mà phải phát triển bền vững, bao trùm và dựa ngày càng vững chắc vào nguồn lực nội sinh. Đại hội XIV của Đảng xác định phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện đồng bộ thể chế, tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng của phát triển (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị tiếp tục đặt văn hóa trong quan hệ hữu cơ với phát triển nhanh, bền vững và khẳng định Nhân dân là chủ thể sáng tạo, thực hành và thụ hưởng văn hóa (Bộ Chính trị, 2026).
Định hướng đó có ý nghĩa đặc biệt đối với du lịch cộng đồng (DLCĐ) ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số (ĐBDTTS), nơi nguồn lực phát triển được kết tinh trong cảnh quan, không gian sống, tri thức bản địa, kiến trúc, nghề thủ công, lễ hội và các thực hành văn hóa. Du lịch có thể chuyển hóa những giá trị này thành sinh kế và nguồn lực phát triển; nhưng khi giá trị kinh tế của tài nguyên văn hóa gia tăng nhanh hơn năng lực quản trị, cũng dễ nảy sinh những vấn đề về quyền chủ thể, thương mại hóa văn hóa, phân phối lợi ích, sức chứa điểm đến và áp lực lên môi trường, không gian sống.
Trên cơ sở nghiên cứu trường hợp mô hình điểm đến Cát Cát - Tả Van, bài viết nhận diện các khoảng trống thể chế và đề xuất định hướng chính sách theo 3 chuyển đổi căn bản: từ khai thác sang tái tạo, từ tham gia sang làm chủ, từ quản lý hoạt động đơn lẻ sang quản trị hệ sinh thái điểm đến đa chủ thể; lấy cộng đồng làm chủ thể, văn hóa làm nguồn lực nội sinh, đồng quản trị làm phương thức, phát triển bền vững và bao trùm làm mục tiêu.
TỪ THỰC TIỄN BẢN CÁT CÁT: NHẬN DIỆN NHỮNG VẤN ĐỀ THỂ CHẾ TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG
Mô hình điểm đến du lịch bản Cát Cát, xã Tả Van, tỉnh Lào Cai là trường hợp điển hình về chuyển hóa giá trị văn hóa, cảnh quan và tri thức bản địa thành nguồn lực phát triển du lịch, tạo sinh kế và thúc đẩy liên kết chính quyền - doanh nghiệp - cộng đồng (Phạm Quang Long, 2026; Nguyễn Tiến Thư, 2026). Tuy nhiên, sự gia tăng giá trị kinh tế của điểm đến cũng đặt ra những yêu cầu thể chế mới về quyền chủ thể của cộng đồng, tái tạo vốn văn hóa, phân phối lợi ích, quản trị sức chứa và trách nhiệm của các bên liên quan. Từ thực tiễn đó, có thể nhận diện bốn chuyển đổi thể chế cốt lõi sau:
Thứ nhất, từ cộng đồng tham gia đến cộng đồng làm chủ
Luật Du lịch năm 2017 đã tạo cơ sở pháp lý cho phát triển DLCĐ và sự tham gia của người dân (Quốc hội, 2017). Tuy nhiên, khi bản làng trở thành điểm đến có giá trị thương mại, vấn đề cốt lõi không chỉ là cộng đồng có tham gia hay không, mà là tham gia với vị thế nào, có quyền quyết định đến đâu và được hưởng lợi như thế nào.
Thực tiễn bản Cát Cát cho thấy liên kết doanh nghiệp - cộng đồng góp phần huy động nguồn lực, tổ chức sản phẩm, kết nối thị trường, tạo sinh kế và chuyên nghiệp hóa điểm đến. Song, DLCĐ chỉ thực sự bền vững khi người dân không dừng ở vai trò cung ứng lao động, dịch vụ hay thực hành văn hóa, mà được tham gia thực chất vào quyết định, tổ chức, hưởng lợi và giám sát phát triển. Vì vậy, yêu cầu thể chế là xác lập quan hệ hợp tác cân bằng, trong đó doanh nghiệp phát huy năng lực vốn, thị trường và quản trị; cộng đồng giữ vai trò chủ thể đối với tài nguyên văn hóa và quá trình phát triển điểm đến (Phạm Quang Long, 2026; Nguyễn Tiến Thư, 2026).
Thứ hai, từ khai thác văn hóa đến tái tạo vốn văn hóa và tuần hoàn lợi ích
Văn hóa người dân tộc thiểu số H’Mông là nguồn lực cốt lõi tạo nên bản sắc và sức hấp dẫn của bản Cát Cát. Du lịch mở rộng không gian kinh tế cho nghề thủ công, trang phục, nghệ thuật, ẩm thực và tri thức bản địa, qua đó tạo sinh kế và góp phần bảo tồn văn hóa. Tuy nhiên, du lịch không mặc nhiên đồng nghĩa với bảo tồn; nếu thiếu thể chế phù hợp, thương mại hóa có thể làm biến dạng thực hành văn hóa, suy giảm tính xác thực và gia tăng bất bình đẳng trong thụ hưởng lợi ích (Nguyễn Tiến Thư, 2026).
Vì vậy, cần chuyển từ khai thác giá trị văn hóa sang tái tạo vốn văn hóa, gắn lợi ích kinh tế với trách nhiệm bảo tồn. Một phần giá trị do du lịch tạo ra cần được tái đầu tư cho nghệ nhân, truyền nghề, tri thức bản địa, kiến trúc - cảnh quan, môi trường và an sinh cộng đồng. Cơ chế lợi ích cũng cần chuyển từ chia sẻ mang tính tự nguyện sang phân phối minh bạch và tuần hoàn giá trị, để cộng đồng vừa là chủ thể tạo ra giá trị, vừa được thụ hưởng tương xứng và có nguồn lực tái tạo chính tài nguyên tạo nên sức sống của điểm đến (Phạm Quang Long, 2026; Nguyễn Tiến Thư, 2026).
Thứ ba, từ quản lý hoạt động đến quản trị sức chứa điểm đến
Quy mô tăng trưởng du lịch đang đặt sức ép ngày càng lớn lên năng lực quản trị điểm đến. Năm 2025, Lào Cai ước đón 10,512 triệu lượt khách, tổng thu du lịch đạt 46.593 tỷ đồng, với 740 homestay trên toàn tỉnh; riêng xã Tả Van có 144 homestay. Bốn điểm DLCĐ của tỉnh, trong đó có Cát Cát và thung lũng Mường Hoa - Tả Van, thu hút khoảng 800.000 - 1.400.000 lượt khách/năm (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2025). Quy mô này, cùng những áp lực về hạ tầng, giao thông, môi trường, cảnh quan và không gian sống được nhận diện từ thực tiễn bản Cát Cát, cho thấy tăng trưởng vượt sức chứa có thể chuyển lợi ích kinh tế thành chi phí xã hội, văn hóa và môi trường (Trần Sơn Bình, 2026; Phạm Quang Long, 2026; Nguyễn Tiến Thư, 2026).
Vì vậy, trọng tâm thể chế cần chuyển từ quản lý từng hoạt động, cơ sở kinh doanh sang quản trị sức chứa tổng hợp của điểm đến trên các phương diện hạ tầng, môi trường, xã hội và văn hóa; gắn điều tiết dòng khách với quản lý xây dựng, giao thông, chất thải, cảnh quan và không gian cư trú. Với bản làng vừa là điểm đến vừa là không gian sống, giới hạn phát triển không phải là đón được bao nhiêu khách, mà là đón bao nhiêu khách vẫn bảo đảm chất lượng sống của cộng đồng, sức sống văn hóa và khả năng tái tạo của tài nguyên (Nguyễn Tiến Thư, 2026).
Thứ tư, từ phối hợp đa chủ thể đến đồng quản trị và trách nhiệm giải trình
Phát triển du lịch tại bản Cát Cát là quá trình tương tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng và các chủ thể liên quan. Không một chủ thể riêng lẻ nào có thể giải quyết đồng thời các vấn đề về quy hoạch, hạ tầng, văn hóa, môi trường, sinh kế và thị trường. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là chuyển từ phối hợp đa chủ thể sang đồng quản trị điểm đến (Trần Sơn Bình, 2026; Phạm Quang Long, 2026).
Đồng quản trị đòi hỏi phân định rõ quyền - trách nhiệm - lợi ích: Nhà nước kiến tạo thể chế, quy hoạch và giám sát; doanh nghiệp đầu tư, tổ chức sản phẩm và kết nối thị trường; cộng đồng tham gia quyết định, đồng sáng tạo, hưởng lợi và giám sát. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế tham vấn, công khai thông tin và trách nhiệm giải trình, bảo đảm cùng kiến tạo giá trị nhưng không phân tán trách nhiệm.
Từ thực tiễn bản Cát Cát có thể khẳng định: điểm nghẽn cốt lõi không nằm ở khả năng tạo ra giá trị từ du lịch, mà ở năng lực kiến tạo thể chế để cộng đồng thực sự làm chủ, văn hóa được tái tạo, lợi ích được phân phối hài hòa và tăng trưởng được đặt trong giới hạn bền vững. Đây chính là cơ sở thực tiễn đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế phát triển DLCĐ trong kỷ nguyên mới.
YÊU CẦU HOÀN THIỆN THỂ CHẾ TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
Từ thực tiễn bản Cát Cát và yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, quán triệt quan điểm Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, hoàn thiện thể chế phát triển DLCĐ bền vững ở vùng ĐBDTTS cần chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang kiến tạo hệ sinh thái phát triển, trong đó cộng đồng là chủ thể, văn hóa là nguồn lực nội sinh, thị trường là động lực và phát triển bền vững, bao trùm là mục tiêu. Trên tinh thần đó, cần thực hiện 5 chuyển đổi căn bản trong tư duy chính sách, cụ thể:
Một là, chuyển từ khai thác tài nguyên văn hóa sang tái tạo vốn văn hóa. Văn hóa không chỉ là tài nguyên để khai thác, mà là nguồn vốn nội sinh cần được bảo tồn, bồi đắp và trao truyền. Giá trị kinh tế do du lịch tạo ra cần được tái đầu tư cho bảo tồn di sản, nghệ nhân, truyền nghề, tri thức bản địa, kiến trúc, cảnh quan và giáo dục văn hóa cho thế hệ trẻ. Du lịch chỉ thực sự bền vững khi quá trình tạo ra giá trị kinh tế đồng thời tái tạo được vốn văn hóa làm nên sức sống của điểm đến.
Hai là, chuyển từ người dân tham gia sang cộng đồng đồng quyết định. Sự tham gia cần được nâng từ tham vấn sang thực quyền. Cộng đồng phải có tiếng nói thực chất đối với những quyết định tác động trực tiếp đến tài nguyên văn hóa, không gian sống và lợi ích của mình, nhất là quy hoạch điểm đến, sức chứa, dự án đầu tư, khai thác giá trị văn hóa và sử dụng nguồn lực chung. Quyền đồng quyết định là nền tảng để cộng đồng chuyển từ đối tượng tham gia thành chủ thể phát triển.
Ba là, chuyển từ quản lý cơ sở kinh doanh sang quản trị hệ sinh thái điểm đến. Quản lý từng cơ sở là cần thiết nhưng không đủ trước những tác động tích lũy của tăng trưởng du lịch. Trọng tâm phải chuyển sang quản trị toàn bộ điểm đến, xác định quy mô và cường độ phát triển phù hợp với sức chứa của hạ tầng, môi trường, văn hóa và đời sống cộng đồng. Theo đó, sức chứa và khả năng tái tạo tài nguyên phải trở thành giới hạn của tăng trưởng, thay vì chạy theo số lượng khách và mở rộng quy mô dịch vụ.
Bốn là, chuyển từ hỗ trợ đầu vào sang nâng cao năng lực tự chủ của cộng đồng. Chính sách cần vượt khỏi hỗ trợ cơ sở vật chất, đào tạo và xúc tiến đơn lẻ để tập trung phát triển năng lực tự tổ chức, tự quản trị và tham gia thị trường. Trọng tâm là quản trị tài chính, liên kết kinh doanh, thương lượng hợp đồng, xây dựng thương hiệu, sở hữu trí tuệ, thiết kế trải nghiệm, marketing số, quản trị dữ liệu và giám sát môi trường. Đích đến của chính sách không phải làm cho cộng đồng phụ thuộc tốt hơn vào hỗ trợ, mà tạo năng lực để cộng đồng tự chủ và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị du lịch.
Năm là, chuyển từ tăng trưởng du lịch sang phát triển cộng đồng thông qua du lịch. Đây là chuyển đổi có tính mục tiêu. Thành công của DLCĐ không thể chỉ đo bằng lượng khách, doanh thu hay số cơ sở dịch vụ, mà phải được đánh giá bằng mức sống, chất lượng việc làm, quyền làm chủ, công bằng trong thụ hưởng lợi ích, chất lượng môi trường và sức sống văn hóa của cộng đồng. Vì vậy, thước đo cuối cùng không phải du lịch tăng trưởng bao nhiêu, mà sau tăng trưởng, cộng đồng có thịnh vượng hơn, tự chủ hơn và văn hóa có sức sống hơn hay không.
GIẢI PHÁP KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH TRỌNG TÂM HOÀN THIỆN THỂ CHẾ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG BỀN VỮNG Ở VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM
Một là, hoàn thiện khung pháp lý và thể chế hóa quyền chủ thể của cộng đồng. Rà soát, đồng bộ các quy định về du lịch với văn hóa, dân tộc, đất đai, xây dựng, môi trường và sở hữu trí tuệ; nghiên cứu bổ sung quy định chuyên biệt về DLCĐ. Trọng tâm là xác lập rõ quyền của cộng đồng trong tham gia quy hoạch, quản lý tài nguyên, bảo vệ không gian văn hóa, hưởng lợi và giám sát phát triển, chuyển từ “được tham gia” sang “có thực quyền”.
Hai là, thí điểm và từng bước thể chế hóa cơ chế đồng quản trị điểm đến. Tại các điểm đủ điều kiện, nghiên cứu thành lập Hội đồng hoặc Ban quản trị điểm DLCĐ với đại diện thực chất của chính quyền, cộng đồng, doanh nghiệp và các chủ thể liên quan. Quy chế vận hành phải xác định rõ quyền - trách nhiệm - lợi ích, bảo đảm cộng đồng được đồng quyết định, đồng kiến tạo, đồng giám sát và đồng hưởng lợi.
Ba là, thiết lập cơ chế phân phối và tuần hoàn lợi ích về cộng đồng. Nghiên cứu thí điểm Quỹ phát triển DLCĐ hoặc cơ chế tài chính phù hợp tại các điểm đến có nguồn thu ổn định; ưu tiên nguồn lực cho bảo tồn văn hóa, môi trường, hạ tầng thiết yếu, sinh kế, đào tạo và an sinh xã hội. Cốt lõi là giá trị tạo ra từ tài nguyên cộng đồng phải được phân phối minh bạch và quay trở lại tái đầu tư cho cộng đồng.
Bốn là, xây dựng công cụ quản trị sức chứa và đánh giá phát triển bền vững, bao trùm. Xác lập sức chứa về hạ tầng - môi trường - xã hội - văn hóa làm căn cứ điều tiết dòng khách, đầu tư, xây dựng và hoạt động kinh doanh. Đồng thời, xây dựng bộ chỉ số đánh giá không chỉ dựa vào lượng khách và doanh thu, mà chú trọng việc làm, thu nhập, giá trị giữ lại tại địa phương, chất lượng sống, bảo tồn văn hóa và mức độ thụ hưởng của cộng đồng.
Năm là, nâng cao năng lực tự chủ và bảo vệ tài sản văn hóa cộng đồng. Chuyển trọng tâm từ hỗ trợ ngắn hạn sang đầu tư cho năng lực tổ chức, quản trị, liên kết thị trường, thương lượng, phát triển sản phẩm, sở hữu trí tuệ và kỹ năng số; đồng thời tăng cường bảo vệ tri thức bản địa, nghề truyền thống, sản phẩm đặc hữu, biểu tượng và thực hành văn hóa. Qua đó hình thành chu trình bảo tồn - trao truyền - sáng tạo - tạo sinh kế bền vững.
Sáu là, phát triển quản trị số và cơ sở dữ liệu du lịch cộng đồng. Quán triệt tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, cần từng bước xây dựng hồ sơ số điểm đến, tích hợp dữ liệu về tài nguyên văn hóa, dòng khách, sức chứa, sinh kế, môi trường và phân phối lợi ích; phục vụ dự báo, điều tiết, giám sát và đánh giá chính sách. Qua đó chuyển từ quản lý theo kinh nghiệm sang quản trị dựa trên dữ liệu, gắn chuyển đổi số với minh bạch và trách nhiệm giải trình (Bộ Chính trị, 2024).
Đối với bản Cát Cát, xã Tả Van, tỉnh Lào Cai, nên nghiên cứu lựa chọn làm điểm thí điểm tích hợp, trước hết với ba cơ chế có tính đột phá: đồng quản trị điểm đến - tuần hoàn lợi ích về cộng đồng - quản trị sức chứa dựa trên dữ liệu; tổ chức đánh giá độc lập, tổng kết và hoàn thiện mô hình trước khi nhân rộng tại các điểm DLCĐ có điều kiện tương đồng.
KẾT LUẬN
Phát triển DLCĐ bền vững ở vùng ĐBDTTS trong kỷ nguyên mới đòi hỏi một chuyển đổi căn bản: từ phát triển du lịch tại cộng đồng sang phát triển cộng đồng thông qua du lịch. Thực tiễn bản Cát Cát, xã Tả Van, tỉnh Lào Cai cho thấy, khi giá trị kinh tế của tài nguyên văn hóa và không gian cộng đồng gia tăng, thể chế phải đủ năng lực bảo đảm quyền làm chủ của cộng đồng, hài hòa lợi ích, bảo tồn và tái tạo văn hóa, quản trị sức chứa và trách nhiệm của các chủ thể.
Quán triệt quan điểm Đại hội XIV của Đảng và các định hướng lớn của Bộ Chính trị, hoàn thiện thể chế cần chuyển mạnh từ tham gia sang làm chủ, khai thác sang tái tạo, quản lý đơn lẻ sang đồng quản trị, tăng trưởng theo lượng sang phát triển bền vững và bao trùm. Trong đó, cộng đồng là chủ thể, văn hóa là nguồn lực nội sinh, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, doanh nghiệp là đối tác phát triển, khoa học - công nghệ và dữ liệu là nền tảng quản trị, an sinh xã hội và chất lượng sống của người dân là thước đo phát triển.
Thước đo xuyên suốt của thể chế không phải là du lịch tăng trưởng bao nhiêu, mà là tăng trưởng ấy làm cho cộng đồng thịnh vượng hơn, tự chủ hơn, văn hóa có sức sống hơn và thành quả phát triển được chia sẻ công bằng hơn. Khi đó, DLCĐ mới thực sự trở thành phương thức phát huy nguồn lực nội sinh, bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tăng trưởng bao trùm và kiến tạo phát triển bền vững ở vùng ĐBDTTS Việt Nam trong kỷ nguyên mới./.
*Bài viết là kết quả nghiên cứu đề tài “Mô hình du lịch cộng đồng bền vững tại Bản Cát Cát (Tả Van, Lào Cai): Hàm ý và khuyến nghị chính sách nhằm gắn kết phát triển du lịch với an sinh xã hội, bảo tồn văn hóa và tăng trưởng bao trùm tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số” thuộc Chương trình VAC Policy Research Grants 2026 do Trung tâm Việt - Úc tài trợ.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
3. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2025). Du lịch cộng đồng Sa Pa: Khai thác tiềm năng văn hóa, tạo sinh kế bền vững. Cổng Thông tin điện tử Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập 1, 2. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
5. Nguyễn Tiến Thư (2026). Bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc trong phát triển du lịch cộng đồng: Trường hợp bản Cát Cát, Sa Pa, Lào Cai. Tham luận tại Hội thảo “Phát triển du lịch cộng đồng bền vững tại điểm du lịch Cát Cát, xã Tả Van, tỉnh Lào Cai: Thực tiễn quản trị, bảo tồn văn hóa và đồng kiến tạo giá trị hướng tới an sinh xã hội, tăng trưởng bao trùm”, Lào Cai tháng 7-2026.
6. Phạm Quang Long (2026). Doanh nghiệp đồng hành cùng cộng đồng trong phát triển du lịch bền vững: Kinh nghiệm hợp tác, chia sẻ lợi ích và trách nhiệm xã hội tại điểm du lịch Cát Cát, xã Tả Van, tỉnh Lào Cai. Tham luận tại Hội thảo “Phát triển du lịch cộng đồng bền vững tại điểm du lịch Cát Cát, xã Tả Van, tỉnh Lào Cai: Thực tiễn quản trị, bảo tồn văn hóa và đồng kiến tạo giá trị hướng tới an sinh xã hội, tăng trưởng bao trùm”, Lào Cai tháng 7/2026.
7. Quốc hội (2017). Luật Du lịch số 09/2017/QH14 ngày 19/6/2017.
8. Trần Sơn Bình (2026). Quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch cộng đồng bền vững tại Cát Cát, xã Tả Van, tỉnh Lào Cai: Định hướng, cơ chế phối hợp và khuyến nghị chính sách. Tham luận tại Hội thảo “Phát triển du lịch cộng đồng bền vững tại điểm du lịch Cát Cát, xã Tả Van, tỉnh Lào Cai: Thực tiễn quản trị, bảo tồn văn hóa và đồng kiến tạo giá trị hướng tới an sinh xã hội, tăng trưởng bao trùm”, Lào Cai tháng 7-2026.
| Ngày nhận bài: 25/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 27/8/2026; Ngày duyệt đăng: 3/9/2026 |
Các tin khác
Thực trạng năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam giai đoạn 2006-2025 và hàm ý chính sách
Phân tích nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng trong ngành khách sạn
Các đòn bẩy chiến lược nâng cao kết quả kinh doanh của doanh nghiệp giao nhận vận tải: Khung ưu tiên quản trị dựa trên bằng chứng thực nghiệm
Ảnh hưởng của nhận thức và niềm tin đến hành vi mua nông sản hữu cơ của người tiêu dùng Việt Nam
Các tác động đến việc triển khai trí tuệ nhân tạo trong ngành kế toán, kiểm toán tại Việt Nam theo Lý thuyết TOE
Thương mại hóa di sản văn hóa xanh và phát triển bền vững tại làng nghề gốm Bàu Trúc: Vai trò điều tiết của ý thức bảo vệ môi trường
Xây dựng khung đo lường văn bản thích ứng để đánh giá tiến trình chuyển đổi số của các ngân hàng thương mại
Chính sách tín dụng xanh, thực hành biến đổi khí hậu và hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại ASEAN
Năng lực động xanh và lợi thế cạnh tranh: Vai trò trung gian của đổi mới xanh và hiệu quả bền vững