Thương mại hóa di sản văn hóa xanh và phát triển bền vững tại làng nghề gốm Bàu Trúc: Vai trò điều tiết của ý thức bảo vệ môi trường

Nghiên cứu - Trao đổi 16:31 | 03/09/2026
Quy trình sản xuất truyền thống của làng nghề gốm Bàu Trúc vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp nung lộ thiên bằng củi, rơm và nhiên liệu tự nhiên, làm phát sinh khói bụi và khí CO₂, tạo áp lực lên môi trường địa phương. Trong khi đó, nhu cầu mở rộng sản xuất, phát triển du lịch và thương mại hóa sản phẩm ngày càng gia tăng nhằm nâng cao thu nhập cho cộng đồng.

TS. Nguyễn Hữu Tuấn

Đảng ủy xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hoà

Email: huutuantdnt@gmail.com

Tóm tắt

Phát triển bền vững các làng nghề di sản văn hóa đã trở thành vấn đề quan trọng trong việc cân bằng bảo tồn di sản, tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Nghiên cứu này nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của di sản văn hóa xanh tại làng gốm Bào Trúc, xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa, nơi nghề làm gốm Chăm được UNESCO ghi vào Danh mục Di sản Văn hóa Phi vật thể cần bảo tồn khẩn cấp năm 2022. Mô hình nghiên cứu đề xuất xem xét tác động của giá trị di sản được cảm nhận, định hướng bảo tồn môi trường, du lịch xanh, tiếp thị di sản số và quy trình sản xuất thân thiện với môi trường đến khả năng thương mại hóa di sản xanh và phát triển bền vững di sản văn hóa. Hơn nữa, nhận thức về môi trường được đưa vào như một biến điều tiết trong mối quan hệ giữa khả năng thương mại hóa di sản xanh và phát triển bền vững di sản.

Từ khóa: Di sản văn hóa xanh, phát triển bền vững, làng gốm, Bàu Trúc

Abstract

The sustainable development of cultural heritage craft villages has become an important issue in balancing heritage conservation, economic growth, and environmental protection. This study aims to assess the factors affecting the sustainable development of green cultural heritage in the Bau Truc pottery village in Ninh Phuoc Commune, Khanh Hoa Province, where the Cham pottery-making craft was inscribed on UNESCO's List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding in 2022. The proposed research model examines the effects of perceived heritage value, environmental conservation orientation, green tourism, digital heritage marketing, and environmentally friendly production processes on the commercialization of green heritage and the sustainable development of cultural heritage. Furthermore, environmental awareness is incorporated as a moderating variable in the relationship between green heritage commercialization and sustainable heritage development.

Keywords: Green cultural heritage, sustainable development, pottery village, Bau Truc

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh phát triển bền vững trở thành mục tiêu trọng tâm của nhiều quốc gia, việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với bảo vệ môi trường đang thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và nhà hoạch định chính sách. Theo UNESCO (2022), di sản văn hóa không chỉ là tài sản văn hóa của cộng đồng mà còn là nguồn lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, du lịch và sinh kế địa phương. Tuy nhiên, quá trình khai thác giá trị di sản phục vụ phát triển kinh tế nếu thiếu định hướng bền vững có thể dẫn đến suy giảm tài nguyên, ô nhiễm môi trường và mất dần tính nguyên bản của di sản.

Làng nghề gốm Bàu Trúc, xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa là một trong những làng gốm cổ nhất Đông Nam Á còn duy trì kỹ thuật chế tác hoàn toàn thủ công của người Chăm. Nghệ thuật làm gốm của người Chăm đã được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp năm 2022, khẳng định giá trị đặc sắc về văn hóa, lịch sử và tri thức bản địa của cộng đồng Chăm. Tuy nhiên, một nghịch lý đang tồn tại là quy trình sản xuất truyền thống của làng nghề vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp nung lộ thiên bằng củi, rơm và nhiên liệu tự nhiên, làm phát sinh khói bụi và khí CO₂, tạo áp lực lên môi trường địa phương. Trong khi đó, nhu cầu mở rộng sản xuất, phát triển du lịch và thương mại hóa sản phẩm ngày càng gia tăng nhằm nâng cao thu nhập cho cộng đồng.

Theo Elkington (1997), phát triển bền vững đòi hỏi sự cân bằng giữa 3 trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường. Do đó, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để thương mại hóa giá trị di sản gốm Bàu Trúc, thúc đẩy du lịch và phát triển kinh tế địa phương nhưng vẫn bảo đảm giảm thiểu tác động môi trường và duy trì tính nguyên bản của di sản. Đây chính là khoảng trống thực tiễn và học thuật cần được nghiên cứu nhằm đề xuất các giải pháp phát triển bền vững di sản văn hóa xanh trong bối cảnh hiện nay.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Lý thuyết phát triển bền vững

Lý thuyết phát triển bền vững là nền tảng trung tâm của nghiên cứu vì biến phụ thuộc là Phát triển bền vững di sản văn hóa xanh. Theo Báo cáo Brundtland, phát triển bền vững là quá trình đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm suy giảm khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai (WCED, 1987). Trên cơ sở đó, Elkington (1997) đề xuất mô hình Triple Bottom Line (TBL) gồm 3 trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường.

Trong trường hợp làng gốm Bàu Trúc, việc phát triển kinh tế thông qua thương mại hóa sản phẩm gốm Chăm cần được thực hiện đồng thời với bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống và giảm thiểu tác động môi trường từ hoạt động sản xuất. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng bởi nghệ thuật làm gốm của người Chăm đã được UNESCO (2022) ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, trong khi quy trình nung gốm truyền thống vẫn sử dụng củi và nhiên liệu tự nhiên, phát sinh khí thải CO₂ đáng kể. Vì vậy, Lý thuyết phát triển bền vững giúp giải thích mục tiêu cân bằng giữa bảo tồn di sản - tăng trưởng kinh tế - bảo vệ môi trường, là cơ sở trực tiếp cho biến phát triển bền vững trong mô hình nghiên cứu.

Lý thuyết nguồn lực dựa trên giá trị

Lý thuyết này cho rằng, các nguồn lực có giá trị, khan hiếm, khó sao chép và khó thay thế sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho tổ chức hoặc cộng đồng (Barney, 1991).

Trong nghiên cứu này, nghề gốm Bàu Trúc sở hữu nhiều nguồn lực độc đáo như tri thức bản địa Chăm, kỹ thuật tạo hình thủ công không dùng bàn xoay, nghệ nhân truyền thống, thương hiệu làng nghề lâu đời và đặc biệt là danh hiệu UNESCO (2022). Những nguồn lực này không chỉ mang giá trị văn hóa mà còn có khả năng chuyển hóa thành giá trị kinh tế thông qua du lịch trải nghiệm, marketing di sản số và thương mại hóa sản phẩm văn hóa.

Lý thuyết hành vi có kế hoạch

Lý thuyết hành vi có kế hoạch được Ajzen (1991) phát triển nhằm giải thích cách thái độ, chuẩn mực xã hội và nhận thức kiểm soát hành vi tác động đến ý định và hành vi của cá nhân.

Đối với nghiên cứu này, Lý thuyết hành vi có kế hoạch là cơ sở lý thuyết phù hợp nhất để giải thích biến điều tiết ý thức bảo vệ môi trường. Khi các nghệ nhân, hộ sản xuất và cộng đồng địa phương có nhận thức tích cực về bảo vệ môi trường, họ sẽ có xu hướng chấp nhận các quy trình sản xuất xanh hơn, tiết kiệm nhiên liệu, giảm phát thải và tham gia các hoạt động du lịch bền vững. Ngược lại, nếu ý thức môi trường thấp, quá trình thương mại hóa có thể dẫn đến khai thác quá mức tài nguyên, gia tăng ô nhiễm và làm suy giảm giá trị di sản.

Lý thuyết hành vi có kế hoạch giúp lý giải vì sao cùng một mức độ thương mại hóa di sản nhưng kết quả phát triển bền vững có thể khác nhau tùy thuộc vào mức độ ý thức môi trường của cộng đồng. Do đó, ý thức bảo vệ môi trường đóng vai trò điều tiết mối quan hệ giữa năng lực thương mại hóa di sản xanh và phát triển bền vững di sản văn hóa xanh.

Đề xuất mô hình nghiên cứu

Căn cứ vào 3 lý thuyết trên và một số nghiên cứu của Elkington (1997), Timothy, D. J. (2018), Su, M. M., Wall, G., Xu, K. (2019), Richards, G. (2021), mô hình nghiên cứu được đề xuất gồm 5 biến độc lập: Giá trị di sản được cảm nhận, Định hướng bảo tồn môi trường, Du lịch xanh, Tiếp thị di sản số và Quy trình sản xuất thân thiện với môi trường, biến trung gian Khả năng thương mại hóa di sản xanh, biến phụ thuộc Phát triển bền vững di sản văn hóa xanh và biến điều tiết Ý thức bảo vệ môi trường và các giả thuyết nghiên cứu như sau:

H1: Giá trị cảm nhận ảnh hưởng cùng chiều đến Năng lực thương mại hóa di sản xanh.

H2: Định hướng bảo tồn ảnh hưởng cùng chiều đến Năng lực thương mại hóa di sản xanh.

H3: Du lịch xanh ảnh hưởng cùng chiều đến Năng lực thương mại hóa di sản xanh.

H4: Marketing di sản số ảnh hưởng cùng chiều đến Năng lực thương mại hóa di sản xanh.

H5: Qui trình sản xuất xanh ảnh hưởng cùng chiều đến Năng lực thương mại hóa di sản xanh.

H6: Năng lực thương mại hóa di sản xanh ảnh hưởng cùng chiều đến Phát triển bền vững di sản văn hóa xanh.

H7: Ý thức bảo vệ môi trường điều tiết Năng lực thương mại hóa di sản xanh.ảnh hưởng đến Phát triển bền vững di sản văn hóa xanh.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện nghiên cứu tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 9 chuyên gia bao gồm 2 giảng viện đại học có học vị tiến sĩ quản trị kinh doanh, 2 chuyên gia là quản lý địa phương và 5 chủ thể kinh doanh sản phẩm làng gốm Bàu trúc. Sau đó tiến hành thảo luận nhóm với 9 chuyên gia là các chủ thể kinh doanh như doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, hô kinh doanh sản phẩm làng gốm Bàu trúc, có thâm niên kinh doanh trên 5 năm để hiệu chỉnh thang đo cho dễ hiểu. Khảo sát các chủ thể kinh doanh từ tháng 5-7/2026. Kết quả thu được 359 phiếu khảo sát phản hồi hợp lệ và phương pháp PLS-SEM được sử dụng nhằm kiểm định các mối quan hệ trong mô hình nghiên cứu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đánh giá hệ số đường dẫn

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, các hệ số đường dẫn thể hiện các mối quan hệ có giá trị từ 0,074 đến 0,686 (Hình 1). Như vậy, các mối quan hệ thể hiện sự ảnh hưởng trong mô hình nghiên cứu đều tồn tại.

Hình 1: Mô hình hệ số đường dẫn

Thương mại hóa di sản văn hóa xanh và phát triển bền vững tại làng nghề gốm Bàu Trúc: Vai trò điều tiết của ý thức bảo vệ môi trường

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả

Đánh giá hệ số tải ngoài

Kết quả phân tích mô hình đo lường cho thấy, tất cả các biến quan sát đều có hệ số tải ngoài (Outer Loading) dao động từ 0,786 đến 0,901, cao hơn ngưỡng khuyến nghị 0,70 của Hair và cộng sự (2022). Cụ thể, nhóm biến DHBT đạt từ 0,821 – 0,867; DLX từ 0,797 – 0,863; GTDS từ 0,812 – 0,853; MDSS từ 0,788 – 0,850; PTBV từ 0,869 – 0,901; SXX từ 0,880 – 0,901; TMHDSX từ 0,814 – 0,851 và YTMT từ 0,786 – 0,864. Ngoài ra, toàn bộ các chỉ báo đều có giá trị t rất lớn (33,089 – 70,937) và p-value = 0,000, chứng tỏ các biến quan sát đều có ý nghĩa thống kê và phản ánh tốt khái niệm tiềm ẩn tương ứng. Như vậy, mô hình đo lường đạt độ tin cậy cao và không cần loại bỏ bất kỳ biến quan sát nào.

Tính hội tụ

Kết quả Bảng 1 cho thấy, tất cả các biến đều có CR > 0,87 và AVE > 0,66, vượt xa ngưỡng đề xuất. Vì vậy, mô hình đạt giá trị hội tụ rất tốt.

Bảng 1: Kết quả kiểm định độ tin cậy và độ hội tụ

Cronbach's Alpha

Composite reliability (rho_a)

Composite reliability (rho_c)

Average variance extracted (AVE)

DHBT

0,877

0,882

0,916

0,73

DLX

0,844

0,851

0,895

0,681

GTDS

0,884

0,885

0,915

0,682

MDSS

0,876

0,878

0,91

0,668

PTBV

0,866

0,866

0,918

0,789

SXX

0,865

0,867

0,917

0,787

TMHDSX

0,784

0,792

0,873

0,697

YTMT

0,863

0,95

0,902

0,698

Nguồn: Kết quả SMART.PLS

Giá trị phân biệt theo HTMT

Kết quả HTMT ở Bảng 2 cho thấy, giá trị lớn nhất là cặp TMHDSX – PTBV = 0,898; các cặp còn lại dao động từ 0,035 - 0,828. Do toàn bộ giá trị HTMT đều nhỏ hơn 0,90 nên mô hình đạt giá trị phân biệt theo tiêu chuẩn HTMT.

Tuy nhiên, cặp TMHDSX – PTBV (0,898) tiệm cận ngưỡng 0,90, cho thấy hai khái niệm có mức độ liên hệ khá cao nhưng vẫn đảm bảo phân biệt khái niệm.

Bảng 2: Kết quả kiểm định tính phân biệt HTMT

DHBT

LX

GTDS

MDSS

PTBV

SXX

TMH

SX

YTMT

YTMT x TMHDSX

DHBT

DLX

0,423

GTDS

0,547

0,454

MDSS

0,556

0,405

0,496

PTBV

0,599

0,602

0,704

0,556

SXX

0,566

0,399

0,542

0,439

0,551

TMHDSX

0,701

0,694

0,828

0,64

0,898

0,631

YTMT

0,035

0,068

0,083

0,087

0,066

0,091

0,1

YTMT x TMHDSX

0,126

0,074

0,079

0,052

0,169

0,1

0,115

0,062

Nguồn: Kết quả SMART.PLS

Giá trị phân biệt theo Fornell-Larcker

Theo Fornell và Larcker (1981), căn bậc hai AVE phải lớn hơn tương quan giữa biến đó với các biến còn lại. Kết quả Bảng 3 cho thấy: DHBT = 0,855 > các tương quan lớn nhất (0,584); DLX = 0,825 > các tương quan lớn nhất (0,569); GTDS = 0,826 > các tương quan lớn nhất (0,691); MDSS = 0,817 > các tương quan lớn nhất (0,531); PTBV = 0,888 > tương quan lớn nhất (0,752); SXX = 0,887 > tương quan lớn nhất (0,520); TMHDSX = 0,835 > tương quan lớn nhất (0,752); YTMT = 0,835 > các tương quan khác. Do đó, toàn bộ các cấu trúc đều đạt giá trị phân biệt theo tiêu chuẩn Fornell-Larcker.

Bảng 3: Kết quả kiểm định tính phân biệt Fornell Larcker criterion

DHBT

DLX

GTDS

MDSS

PTBV

SXX

TMHDSX

YTMT

DHBT

0,855

DLX

0,374

0,825

GTDS

0,487

0,399

0,826

MDSS

0,493

0,351

0,441

0,817

PTBV

0,527

0,519

0,618

0,487

0,888

SXX

0,495

0,349

0,476

0,384

0,477

0,887

TMHDSX

0,584

0,569

0,691

0,531

0,752

0,52

0,835

YTMT

0,003

-0,04

-0,064

-0,073

-0,051

-0,073

-0,083

0,835

Nguồn: Kết quả SMART.PLS

Đánh giá VIF

Kết quả nghiên cứu không xuất hiện hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng. Các đường tác động đều được giữ lại và hệ số ước lượng ổn định với các giá trị VIF đều < 3,3. Theo Hair và cộng sự (2022), VIF < 5 được xem là đạt yêu cầu và VIF < 3,3 là rất tốt.

Đánh giá R²

Kết quả Bảng 4 R-square cho thấy, các biến GTDS, DHBT, DLX, MDSS và SXX giải thích được 64,9% sự biến thiên của năng lực thương mại hóa di sản xanh. TMHDSX, SXX và YTMT giải thích được 58,1% sự biến thiên của phát triển bền vững di sản văn hóa xanh.

Đây là mức giải thích tương đối cao đối với các nghiên cứu trong lĩnh vực di sản văn hóa, du lịch và phát triển bền vững.

Bảng 4: Kết quả R-square

R-square

R-square adjusted

Đánh giá

PTBV

0,581

0,576

Mạnh

TMHDSX

0,649

0,644

Khá mạnh

Nguồn: Kết quả SMART.PLS

Kiểm định giả thuyết nghiên cứu

Kết quả Bootstrap cho thấy, hệ số đường dẫn chuẩn hóa của các mối quan hệ đều > 0,07, giá trị thống kê (t-value) đều < 0,006 và P values của các giả thuyết H1- H6 đều < 0,05 nên các giả thuyết H1- H6 đều được chấp nhận. Riêng giả thuyết H7, có P values = 0,051 như vậy giả thuyết H7 được chấp nhận với mức ý nghĩa 10%.

HÀM Ý QUẢN TRỊ

Kết quả nghiên cứu cho thấy phát triển bền vững làng gốm Bàu Trúc cần được đặt trong mối quan hệ đồng bộ giữa bảo tồn giá trị di sản, thương mại hóa, phát triển du lịch và bảo vệ môi trường. Trong đó, năng lực thương mại hóa di sản xanh giữ vai trò quan trọng đối với phát triển bền vững, còn giá trị di sản được cảm nhận và du lịch xanh là những yếu tố nổi bật thúc đẩy năng lực này. Từ kết quả nghiên cứu, một số hàm ý quản trị được đề xuất như sau:

Thứ nhất, nâng cao giá trị di sản được cảm nhận. Cần tăng cường truyền thông và kể chuyện di sản gắn với lịch sử làng nghề, kỹ thuật tạo hình không sử dụng bàn xoay, phương pháp nung truyền thống, tri thức bản địa và vai trò của phụ nữ Chăm. Đồng thời, phát triển không gian trải nghiệm, bảo tàng sống và hoạt động diễn giải để du khách nhận diện sản phẩm gốm không chỉ là hàng thủ công mà còn là sản phẩm chứa đựng giá trị văn hóa đặc sắc.

Thứ hai, phát triển du lịch xanh gắn với trải nghiệm di sản. Cần chuyển từ tham quan đơn thuần sang các hoạt động trải nghiệm như làm gốm, tìm hiểu quy trình sản xuất, kết hợp ẩm thực, nghệ thuật dân gian và văn hóa Chăm. Bàu Trúc cũng cần được liên kết với các điểm đến trong khu vực để hình thành chuỗi du lịch văn hóa – sinh thái – cộng đồng, qua đó kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng giá trị kinh tế từ di sản.

Thứ ba, tăng cường bảo tồn môi trường và cải tiến quy trình sản xuất. Địa phương có thể xây dựng bộ tiêu chí “Làng nghề gốm xanh Bàu Trúc”, khuyến khích phân loại chất thải, tái sử dụng nguyên liệu, tiết kiệm nhiên liệu và kiểm soát khí thải. Việc nghiên cứu lò nung cải tiến, công nghệ giảm khói bụi và các giải pháp sản xuất sạch hơn cần được triển khai theo nguyên tắc giảm tác động môi trường nhưng vẫn bảo tồn kỹ thuật, màu sắc và đặc trưng của gốm Chăm.

Thứ tư, đẩy mạnh tiếp thị số và nâng cao năng lực thương mại hóa di sản xanh. Cần phát triển hệ sinh thái truyền thông số thông qua website, mạng xã hội, video trải nghiệm, thương mại điện tử và mã QR truy xuất nguồn gốc, câu chuyện văn hóa của sản phẩm. Các hợp tác xã và cơ sở sản xuất cần chuyển từ bán sản phẩm đơn thuần sang cung cấp đồng thời sản phẩm, trải nghiệm và giá trị văn hóa; phát triển các dòng sản phẩm phù hợp với du lịch, quà tặng và xuất khẩu, gắn với xây dựng thương hiệu tập thể, sở hữu trí tuệ và chứng nhận sản phẩm xanh.

Thứ năm, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của các chủ thể kinh doanh. Mặc dù tác động điều tiết của ý thức bảo vệ môi trường chỉ được chấp nhận ở mức ý nghĩa 10%, kết quả này vẫn gợi mở sự cần thiết của các chương trình đào tạo về sản xuất sạch, kinh tế tuần hoàn, du lịch có trách nhiệm và quản trị môi trường cho nghệ nhân, hộ sản xuất và doanh nghiệp. Có thể kết hợp các cơ chế khuyến khích như chứng nhận cơ sở sản xuất xanh hoặc hỗ trợ đối với các chủ thể áp dụng giải pháp thân thiện với môi trường.

Về dài hạn, cần hướng tới mô hình “Bàu Trúc – Làng di sản văn hóa xanh” dựa trên ba trụ cột: bảo tồn văn hóa Chăm, phát triển kinh tế di sản và bảo vệ môi trường. Việc kết nối nghệ nhân, hợp tác xã, doanh nghiệp du lịch, cơ quan quản lý và cơ sở nghiên cứu, cùng với chuyển đổi số và sản xuất phát thải thấp, sẽ tạo nền tảng để Bàu Trúc vừa bảo tồn giá trị di sản được UNESCO ghi danh, vừa nâng cao sinh kế cộng đồng và hướng tới phát triển bền vững.

Tài liệu tham khảo:

1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179–211. https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T

2. Barney, J. B. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), 99–120. https://doi.org/10.1177/014920639101700108

3. Elkington, J. (1997). Cannibals with forks: The triple bottom line of 21st century business. Capstone.

4. Fornell, C., & Larcker, D. F. (1981). Evaluating structural equation models with unobservable variables and measurement error. Journal of Marketing Research, 18(1), 39–50. https://doi.org/10.2307/3151312

5. Hair, J. F., Hult, G. T. M., Ringle, C. M., & Sarstedt, M. (2022). A primer on partial least squares structural equation modeling (PLS-SEM) (3rd ed.). SAGE Publications.

6. Richards, G. (2021). Rethinking cultural tourism. Edward Elgar Publishing.

7. Su, M. M., Wall, G., & Xu, K. (2019). Heritage tourism and sustainable development. Journal of Heritage Tourism, 14(5–6), 421–435.

8. Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 801/QĐ-TTg ngày 7/7/2022 phê duyệt Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021–2030.

9. Timothy, D. J. (2018). Cultural heritage and tourism: An introduction (2nd ed.). Channel View Publications.

10. UNESCO. (2022). Art of pottery-making of Chăm people. UNESCO Intangible Cultural Heritage. https://ich.unesco.org/en/USL/art-of-pottery-making-of-cham-people-01574

11. World Commission on Environment and Development. (1987). Our common future. Oxford University Press.

Ngày nhận bài: 1/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 20/8/2026; Ngày duyệt đăng: 28/8/2026

Các tin khác

Các tác động đến việc triển khai trí tuệ nhân tạo trong ngành kế toán, kiểm toán tại Việt Nam theo Lý thuyết TOE

Các tác động đến việc triển khai trí tuệ nhân tạo trong ngành kế toán, kiểm toán tại Việt Nam theo Lý thuyết TOE

Trong ngành kế toán, kiểm toán, AI mang lại những giá trị vượt trội như là nâng cao hiệu suất làm việc nhân viên, số liệu báo cáo có độ chính xác tuyệt đối và cho phép nhà quản trị khai thác dữ liệu để ra quyết định kinh doanh thay vì chỉ dừng lại ở việc ghi chép các giao dịch xảy ra trong quá khứ.
Xây dựng khung đo lường văn bản thích ứng để đánh giá tiến trình chuyển đổi số của các ngân hàng thương mại

Xây dựng khung đo lường văn bản thích ứng để đánh giá tiến trình chuyển đổi số của các ngân hàng thương mại

Việc ứng dụng các công nghệ số không chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động, cải thiện chất lượng dịch vụ mà còn tăng cường năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại. Do đó, việc xây dựng một công cụ đo lường chính xác tiến trình chuyển đổi số có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà quản lý, nhà đầu tư và cơ quan giám sát.
Chính sách tín dụng xanh, thực hành biến đổi khí hậu và hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại ASEAN

Chính sách tín dụng xanh, thực hành biến đổi khí hậu và hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại ASEAN

Nghiên cứu này đánh giá tác động của Chính sách Tín dụng Xanh (GCP) và Năng lực thực hành ứng phó Biến đổi khí hậu (CCP) đến hiệu quả tài chính của 34 ngân hàng thương mại niêm yết tại 6 quốc gia ASEAN giai đoạn 2017-2024. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của năng lực khí hậu trong việc chuyển hóa áp lực chính sách thành giá trị tài chính dài hạn.
Năng lực động xanh và lợi thế cạnh tranh: Vai trò trung gian của đổi mới xanh và hiệu quả bền vững

Năng lực động xanh và lợi thế cạnh tranh: Vai trò trung gian của đổi mới xanh và hiệu quả bền vững

Nghiên cứu làm rõ cơ chế chuyển hóa từ Năng lực động xanh (GDC) đến Lợi thế cạnh tranh (CA) thông qua Đổi mới sản phẩm xanh (GPI), Đổi mới quy trình xanh (GPrI) và Hiệu quả hoạt động bền vững (SP) tại 324 doanh nghiệp sản xuất Việt Nam. Kết quả cho thấy GDC liên hệ tích cực với cả GPI và GPrI, trên cơ sở đó đề xuất một số hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bền vững cho doanh nghiệp.
Tác động của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đến kim ngạch xuất khẩu tại Việt Nam

Tác động của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đến kim ngạch xuất khẩu tại Việt Nam

Nghiên cứu phân tích tác động của chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) đến kim ngạch xuất khẩu của các tỉnh, thành phố tại Việt Nam trong giai đoạn 2015-2024. Kết quả cho thấy các địa phương cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh gắn với các chính sách hỗ trợ trực tiếp hoạt động xuất khẩu.
Đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật trong kinh doanh dịch vụ giáo dục trực tuyến - Thực tiễn tại Việt Nam

Đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật trong kinh doanh dịch vụ giáo dục trực tuyến - Thực tiễn tại Việt Nam

Số hóa hoạt động giáo dục đang làm thay đổi không chỉ phương thức dạy và học mà cả cách thức dịch vụ giáo dục được đưa ra thị trường. Sản phẩm công nghệ thông minh, tính năng đa dạng do đó việc tiếp cận dịch vụ vì thế được mở rộng đáng kể
Một số giải pháp nhằm phát triển xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Nam Á trong thời gian tới

Một số giải pháp nhằm phát triển xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Nam Á trong thời gian tới

Với dân số khổng lồ và tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định (trung bình 4-6%/năm), thị trường Nam Á, đang nổi lên như một thị trường nhiều tiềm năng cho xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam
Thực trạng thực hiện ESG tại các doanh nghiệp sản xuất thực phẩm niêm yết ở Việt Nam

Thực trạng thực hiện ESG tại các doanh nghiệp sản xuất thực phẩm niêm yết ở Việt Nam

Cùng với yêu cầu từ các thị trường xuất khẩu, khung pháp lý trong nước và cam kết Net Zero đang thúc đẩy doanh nghiệp chuyển từ tuân thủ sang chủ động thực hành các tiêu chuẩn Môi trường - Xã hội - Quản trị (ESG).
Phân tích ý định quay trở lại TP. Hồ Chí Minh của du khách quốc tế: Mô hình tích hợp dựa trên Lý thuyết Hành vi có kế hoạch

Phân tích ý định quay trở lại TP. Hồ Chí Minh của du khách quốc tế: Mô hình tích hợp dựa trên Lý thuyết Hành vi có kế hoạch

Trong bối cảnh cạnh tranh điểm đến đô thị giữa các thành phố lớn trong khu vực ngày càng gay gắt, việc thấu hiểu cơ chế hình thành ý định quay trở lại của du khách quốc tế trở thành vấn đề có ý nghĩa thực tiễn cấp thiết đối với công tác quản trị điểm đến.
Cơ sở lý thuyết về trải nghiệm, cảm xúc du khách và doanh thu điểm đến: Vai trò điều tiết của thời tiết và đề xuất mô hình nghiên cứu tại TP. Huế

Cơ sở lý thuyết về trải nghiệm, cảm xúc du khách và doanh thu điểm đến: Vai trò điều tiết của thời tiết và đề xuất mô hình nghiên cứu tại TP. Huế

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về kinh tế du lịch chủ yếu tập trung vào mối quan hệ giữa hoạt động du lịch và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô. Đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu trong nước tích hợp đồng thời chất lượng trải nghiệm, cảm xúc, sự hài lòng, vai trò điều tiết của thời tiết và kết quả kinh tế tại một điểm đến di sản. Nhìn chung, các nhóm nghiên cứu về kinh tế học trải nghiệm, tâm lý học cảm xúc và tác động của thời tiết đã cung cấp những góc nhìn bổ sung nhưng vẫn được xem xét riêng lẻ.