Đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật trong kinh doanh dịch vụ giáo dục trực tuyến - Thực tiễn tại Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 17:55 | 31/08/2026
Số hóa hoạt động giáo dục đang làm thay đổi không chỉ phương thức dạy và học mà cả cách thức dịch vụ giáo dục được đưa ra thị trường. Sản phẩm công nghệ thông minh, tính năng đa dạng do đó việc tiếp cận dịch vụ vì thế được mở rộng đáng kể

Lê Văn Nghĩa

Khoa Quan hệ công chúng - Truyền thông, Trường Đại học Văn Lang

Email: nghia.lv@vlu.edu.vn

Tóm tắt

Thị trường giáo dục số làm gia tăng nhanh chóng hoạt động cung ứng các khóa học, chương trình học các dịch vụ nhằm hỗ trợ học tập thông qua website, ứng dụng và nền tảng số. Từ đó làm xuất hiện ngày càng nhiều giao dịch người học lựa chọn thanh toán và sử dụng khóa học trên môi trường trực tuyến. Đặc điểm này đưa người học vào vị trí pháp lý đặc biệt: bên cạnh tư cách người học, cá nhân mua dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu học tập của cá nhân còn có thể được bảo vệ với quyền lợi của người tiêu dùng. Bài viết hướng đến nghiên cứu sự giao thoa giữa pháp luật giáo dục, pháp luật về quyền lợi người tiêu dùng, thương mại điện tử và bảo vệ dữ liệu cá nhân; đồng thời sử dụng sáu phương diện để xem xét hiệu quả của cơ chế hiện hành, gồm thông tin được biết trước giao kết, công bằng trong hợp đồng, chấm dứt, hoàn trả, chủ thể phải chịu trách nhiệm, quản trị dữ liệu cá nhân và thực thi quyền. Kết quả nghiên cứu cho thấy luật pháp Việt Nam không thiếu các quy phạm có khả năng áp dụng đối với giao dịch giáo dục trực tuyến; hạn chế chủ yếu nằm ở việc các quy phạm này thuộc nhiều luật chuyên ngành khác nhau và một số yêu cầu chung chưa được cụ thể để phù hợp với đặc điểm của dịch vụ giáo dục số. Từ đấy kiến nghị tập trung hoàn thiện chuẩn thông tin trước giao kết, cơ chế kiểm chứng tuyên bố về kết quả đào tạo, nguyên tắc xử lý học phí khi quan hệ dịch vụ chấm dứt, phân quyền theo mức độ kiểm soát của từng chủ thể và hướng dẫn quản trị dữ liệu trong hoạt động EdTech.

Từ khóa: Quyền lợi của người tiêu dùng, giáo dục trực tuyến, người học, giao dịch số, dữ liệu cá nhân.

Abstract

The digital education market has driven the rapid expansion of courses, learning programs, and learning support services delivered through websites, applications, and digital platforms. This development has led to a growing number of transactions in which learners select, pay for, and access courses online. Such transactions place learners in a distinctive legal position: in addition to their status as learners, individuals who purchase services to meet their personal learning needs may also be entitled to protection as consumers. This article examines the intersection of education law, consumer protection law, e-commerce law, and personal data protection law. It assesses the effectiveness of the existing legal framework across six dimensions: pre-contractual information disclosure, contractual fairness, termination and refunds, allocation of responsibility, personal data governance, and enforcement of rights. The findings indicate that Vietnamese law does not lack legal provisions applicable to online education transactions. Rather, the principal limitations arise from the fragmentation of relevant provisions across different sector-specific laws and from the fact that certain general requirements have yet to be sufficiently specified to address the particular characteristics of digital education services. Accordingly, the article recommends improving pre-contractual information standards, establishing mechanisms for verifying claims concerning educational outcomes, clarifying principles governing the handling of tuition fees upon termination of the service relationship, allocating responsibilities according to each actor’s degree of control, and providing guidance on data governance in EdTech activities.

Keywords: Consumer rights, online education, learners, digital transactions, personal data.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Số hóa hoạt động giáo dục đang làm thay đổi không chỉ phương thức dạy và học mà cả cách thức dịch vụ giáo dục được đưa ra thị trường. Sản phẩm công nghệ thông minh, tính năng đa dạng do đó việc tiếp cận dịch vụ vì thế được mở rộng đáng kể. Tuy nhiên, sự thuận tiện của giao dịch số đồng thời làm thay đổi cấu trúc rủi ro: người học thường quyết định mua và thanh toán dựa chủ yếu vào thông tin trực tuyến trong khi chất lượng thực tế chỉ có thể được kiểm chứng sau khi dịch vụ đã bắt đầu.

Về mặt pháp lý: người học tham gia giao dịch không chỉ được xác định bởi quan hệ giáo dục mà còn đặt trong mối quan hệ cá nhân mua, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt và không nhằm mục đích thương mại trong phạm vi khái niệm người tiêu dùng (Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 (LBVQLNTD). Từ khoản này có thể suy ra rằng người học tự bỏ chi phí để mua khóa học đáp ứng mong mỏi học tập của mình, nếu đáp ứng các điều kiện luật định, không chỉ là người học mà còn có thể là người tiêu dùng. Việc xác định đồng thời hai tư cách có ý nghĩa quan trọng bởi quyền của họ khi đó không chỉ gắn với chất lượng và hoạt động giáo dục mà còn liên quan đến thông tin, giao kết hợp đồng, thanh toán, giao dịch và cơ chế xử lý khi bị xâm phạm về lợi ích.

Bài viết nghiên cứu khả năng bảo đảm người học có đủ thông tin trước khi thực hiện giao dịch; mức độ kiểm soát các điều khoản không cân bằng trong hợp đồng; khả năng chấm dứt dịch vụ và xử lý khoản tiền đã thanh toán; khả năng nhận diện chủ thể chịu trách nhiệm trong mô hình nhiều bên; mức bảo vệ đối với dữ liệu xảy ra trong quá trình học; và khả năng thực hiện quyền khi tranh chấp xảy ra. Cách đánh giá theo chức năng này giúp nhìn nhận cụ thể ưu điểm và khoảng trống của pháp luật thay vì đưa ra kết luận tổng quát rằng hệ thống hiện hành đã “đầy đủ” hay “chưa đầy đủ”.

CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG KINH DOANH DỊCH VỤ GIÁO DỤC TRỰC TUYẾN

Khác với hàng hóa hữu hình mà người mua có thể quan sát một số đặc tính trước khi quyết định, giá trị của khóa học thường chỉ bộc lộ dần trong khoảng thời gian học. Trước khi thực hiện thanh toán, người học chủ yếu dựa vào những thông tin do bên cung cấp đưa ra về nội dung chương trình, người giảng dạy, thời lượng, phương pháp học, chứng nhận, kết quả dự kiến hoặc chính sách hoàn phí. Trong khi đó, hiệu quả cuối cùng của khoá học còn tuỳ thuộc vào nhiều điều kiện, kể cả mức độ tham gia của chính người học. Bất cân xứng thông tin vì vậy không phải hiện tượng phụ mà là một đặc điểm có thể ảnh hưởng đến quyết định giao dịch. Đặc tính này đặt ra yêu cầu phân biệt giữa mô tả dịch vụ, mục tiêu đào tạo và sự bảo đảm về kết quả.

Việc nhìn nhận người học với tư cách người tiêu dùng không đồng nghĩa với việc thương mại hóa toàn bộ quan hệ giáo dục. McCulloch (2009) cho rằng mô hình “student as consumer” (người học với tư cách là người tiêu dùng) chưa phản ánh đầy đủ quan hệ giữa người học và cơ sở giáo dục, bởi người học không chỉ tiếp nhận dịch vụ mà còn tham gia vào quá trình tạo lập kết quả giáo dục với tư cách chủ thể đồng sản xuất (co-producer) (McCulloch, 2009). Nghiên cứu thực nghiệm của Bunce et al. (2017) cũng cho thấy định hướng coi mình là người tiêu dùng ở mức độ cao có liên hệ với kết quả học tập thấp hơn, qua đó cho thấy giới hạn của việc áp dụng thuần túy mô hình khách hàng - nhà cung cấp vào giáo dục. Vì vậy, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nên được tiếp cận như một cơ chế bổ trợ cho pháp luật giáo dục, tập trung vào các quan hệ mang tính giao dịch như cung cấp thông tin, điều khoản hợp đồng, thanh toán, trách nhiệm của bên cung ứng và giải quyết tranh chấp.

Cách tiếp cận này cũng phù hợp với các chuẩn mực quốc tế được sử dụng trong bài viết. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) khuyến nghị bảo vệ người tiêu dùng trong các hoạt động thương mại điện tử hướng tới nguyên tắc người giao dịch trực tuyến phải được hưởng mức bảo vệ hiệu quả và minh bạch tương xứng với giao dịch ngoài môi trường số. Trên cơ sở những đặc trưng của dịch vụ giáo dục số và các chuẩn mực này, bài viết sử dụng sáu tiêu chí: minh bạch, công bằng hợp đồng, chấm dứt và hoàn trả, phân bổ trách nhiệm, dữ liệu cá nhân và thực thi quyền.

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT VÀ MỨC ĐỘ BẢO VỆ NGƯỜI NGƯỜI HỌC TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ GIÁO DỤC TRỰC TUYẾN

Quyền được thông tin và kiểm soát thông tin của người học

Về nền tảng pháp lý, quyền được biết rõ thông tin của người mua dịch vụ đã được ghi nhận (LBVQLNTD năm 2023). Điểm cần tiếp tục xem xét nằm ở nội hàm thông tin cần thiết đối với chính dịch vụ giáo dục. Một khóa học không thể được đánh giá đầy đủ chỉ bằng tên gọi và mức học phí. Quyết định của người học có thể phụ thuộc đáng kể vào ai trực tiếp giảng dạy, thời lượng tương tác thực tế, bao nhiêu nội dung là video ghi sẵn, quyền truy cập kéo dài trong bao lâu, cách thức đánh giá kết quả, điều kiện nhận chứng nhận, giá trị pháp lý hoặc giá trị sử dụng của chứng nhận, khả năng bảo lưu cũng như trường hợp được hoàn phí. Đây đều là thông tin có khả năng làm thay đổi bản chất mà người học nhận được nhưng pháp luật chung về giao dịch từ xa chưa thiết kế riêng một danh mục thông tin tiền hợp đồng cho giáo dục trực tuyến.

Khoảng trống nằm ở khoảng cách giữa chuẩn thông tin chung của giao dịch từ xa với những yếu tố mà một người học thực sự cần biết trước khi mua dịch vụ giáo dục số. Khoảng cách này có thể làm giảm khả năng phòng ngừa tranh chấp dù quyền về nguyên tắc đã tồn tại. Tuy nhiên, giáo dục có đặc điểm là kết quả không chỉ phụ thuộc vào bên cung cấp. Vì vậy, cần tách biệt một mục tiêu mà chương trình hướng đến với một kết quả mà doanh nghiệp chủ động bảo đảm nhằm thúc đẩy khách hàng giao dịch. Khi lựa chọn hình thức bảo đảm kết quả, yêu cầu về căn cứ chứng minh và điều kiện áp dụng cần cao hơn so với việc mô tả mục tiêu đào tạo thông thường.

Từ thực tiễn trên, có thể nhận định pháp luật hiện hành đã có công cụ xử lý thông tin sai lệch nhưng chưa hình thành chuẩn chuyên biệt để đánh giá các tuyên bố về kết quả giáo dục. Đây mới là điểm cần hoàn thiện thay vì tạo thêm một lệnh cấm chung về quảng cáo sai sự thật.

Kiểm soát hợp đồng theo mẫu và xử lý học phí khi hợp đồng chấm dứt

Giao dịch giáo dục trực tuyến chủ yếu dựa trên hợp đồng theo mẫu, trong đó khả năng thương lượng của người học khá hạn chế. Vì vậy, Điều 25 và Điều 26 LBVQLNTD năm 2023 có ý nghĩa trực tiếp trong kiểm soát các điều khoản bất lợi và bảo đảm người học được tiếp cận nội dung hợp đồng trước khi giao kết. Tuy nhiên, cơ chế hiện hành còn hạn chế về tính phòng ngừa do dịch vụ giáo dục trực tuyến chưa có chuẩn kiểm soát riêng đối với hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung.

Hạn chế này thể hiện rõ trong vấn đề hoàn học phí. Việc hoàn trả không nên dựa trên điều khoản “không hoàn phí” một cách tuyệt đối mà cần xem xét nguyên nhân chấm dứt, mức độ thực hiện nghĩa vụ của bên cung cấp và phần dịch vụ người học đã sử dụng. Mặc dù pháp luật dân sự và LBVQLNTD đã tạo nền tảng xử lý vi phạm hợp đồng, tiêu chí xác định khoản hoàn trả đối với dịch vụ giáo dục trực tuyến vẫn chưa đủ cụ thể. Do đó, vấn đề trọng tâm không phải xây dựng một chế độ hợp đồng riêng, mà là cụ thể hóa các nguyên tắc hiện hành thành chuẩn áp dụng phù hợp với đặc thù của dịch vụ giáo dục số.

Xác định trách nhiệm trong mô hình cung ứng dịch vụ qua nền tảng số

Trong giáo dục trực tuyến, một giao dịch có thể có sự tham gia của nhiều chủ thể như cơ sở đào tạo, doanh nghiệp cung ứng, nền tảng số, đơn vị thanh toán và bên quảng bá. Cấu trúc đa chủ thể này làm phát sinh yêu cầu xác định rõ phạm vi trách nhiệm của từng bên. Luật Thương mại điện tử, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tạo cơ sở điều chỉnh các chủ thể tham gia giao dịch điện tử, nhưng trách nhiệm thương mại không đồng nhất với trách nhiệm chuyên môn giáo dục.

Việc phân định trách nhiệm cần dựa trên chức năng và mức độ kiểm soát thực tế của từng chủ thể. Nền tảng chỉ cung cấp hạ tầng kỹ thuật không đương nhiên chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo; ngược lại, nếu trực tiếp lựa chọn khóa học, định giá, thu tiền, quản lý truy cập, hoàn phí hoặc quảng bá, trách nhiệm phải tương ứng với mức độ tham gia đó. Vì vậy, pháp luật cần làm rõ trách nhiệm theo từng chức năng, gồm nội dung giáo dục, thông tin thương mại, hạ tầng giao dịch, thanh toán, hoàn phí và xử lý dữ liệu.

Dữ liệu cá nhân phải được bảo vệ khi cung cấp dịch vụ giáo dục trực tuyến

Giáo dục trực tuyến phát sinh nhiều loại dữ liệu cá nhân trong suốt quá trình học, từ thông tin định danh, thanh toán đến hình ảnh, giọng nói, kết quả học tập và dữ liệu hành vi. Việc ứng dụng phân tích dữ liệu và AI đồng thời làm gia tăng nguy cơ sử dụng dữ liệu vượt quá mục đích cung cấp dịch vụ.

Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 đã thiết lập cơ sở pháp lý trực tiếp cho hoạt động xử lý dữ liệu. Theo Điều 9, quyền của chủ thể dữ liệu gắn với mục đích xử lý cụ thể; do đó, việc tham gia khóa học không đồng nghĩa với việc người học chấp thuận mọi mục đích khai thác dữ liệu. Vấn đề hiện nay là cụ thể hóa các nguyên tắc này đối với phân tích dữ liệu học tập (learning analytics), giám sát thi trực tuyến, hệ thống gợi ý và ứng dụng AI. Vì vậy, hướng dẫn chuyên ngành phù hợp hơn việc thiết lập một chế độ bảo vệ dữ liệu riêng cho giáo dục trực tuyến.

Khả năng thực thi quyền và giải quyết tranh chấp

Mức độ bảo vệ người tiêu dùng trên thực tế không chỉ phụ thuộc vào việc pháp luật ghi nhận những quyền gì, mà còn ở khả năng thực thi các quyền đó. LBVQLNTD năm 2023 đã thiết lập các phương thức giải quyết việc tranh chấp. Tuy nhiên, tính chất số của giao dịch đặt ra yêu cầu tương ứng đối với phương thức thực thi. Khi toàn bộ quá trình từ quảng bá, đăng ký, thanh toán đến sử dụng khóa học đều diễn ra trực tuyến, một cơ chế cho phép người tiêu dùng gửi yêu cầu và chứng cứ điện tử từ xa sẽ giảm đáng kể chi phí theo đuổi vụ việc. Hóa đơn điện tử, ảnh chụp nội dung quảng cáo, thư điện tử, tin nhắn hoặc lịch sử tài khoản đều có thể trở thành nguồn chứng cứ quan trọng trong loại tranh chấp này.

Nếu phản ánh về giáo dục trực tuyến chỉ được tổng hợp chung dưới các nhóm lớn như dịch vụ hoặc thương mại điện tử thì khó nhận biết loại vi phạm nào đang phổ biến: quảng cáo, chất lượng khóa học, hoàn phí, chứng nhận, hợp đồng hay dữ liệu. Thiếu dữ liệu phân loại cũng làm suy giảm cơ sở thực chứng để quyết định có cần tăng cường kiểm soát đối với một nhóm dịch vụ hoặc một dạng hợp đồng nhất định hay không. Do đó, dữ liệu khiếu nại không chỉ phục vụ quản lý vụ việc. Nếu được phân loại phù hợp, dữ liệu còn là nguồn chứng cứ để đánh giá hiệu quả của pháp luật và xác định chính xác nơi cần can thiệp.

NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI TRONG CƠ CHẾ PHÁP LÝ

Từ các phân tích trên có thể nhận thấy nhiều khía cạnh của quan hệ trên đã được điều chỉnh bởi LBVQLNTD 2023 và Nghị định số 55/2024/NĐ-CP, đồng thời chịu sự chi phối của pháp luật về dữ liệu cá nhân và thương mại điện tử. Vì vậy, điểm cần hoàn thiện không phải là xây dựng lại hệ thống quy định từ đầu, mà là tăng tính liên kết giữa các nhóm quy phạm và xác lập cơ chế bảo vệ phù hợp hơn với đặc thù của dịch vụ giáo dục trên nền tảng số.

Một là, chuẩn thông tin chung của giao dịch từ xa trong luật chưa trả lời đầy đủ câu hỏi người mua khóa học cần được biết tối thiểu những gì trước khi trả tiền. Những yếu tố như thời hạn truy cập, tỷ lệ học tương tác, tư cách người giảng dạy, giá trị chứng nhận, bảo lưu hoặc điều kiện của cam kết đầu ra có ý nghĩa lớn đối với quyết định giao dịch nhưng chưa được hệ thống hóa thành một chuẩn thông tin chuyên biệt.

Hai là, các quy tắc kiểm soát điều khoản bất lợi đã tương đối rõ ở cấp độ luật, song việc áp dụng đối với những tình huống như thay giảng viên, thay đổi chương trình, khóa tài khoản hoặc từ chối hoàn học phí vẫn phụ thuộc nhiều vào giải thích các nguyên tắc chung. Hạn chế này làm giảm khả năng dự liệu của cả người học lẫn bên cung cấp và khiến cơ chế bảo vệ thiên nhiều hơn về xử lý sau tranh chấp.

Ba là, mô hình nền tảng tạo ra sự phân tách giữa chủ thể sản xuất nội dung, chủ thể bán dịch vụ, đơn vị vận hành nền tảng và các bên hỗ trợ giao dịch. Pháp luật thương mại điện tử cung cấp nền tảng điều chỉnh mới nhưng ranh giới giữa trách nhiệm thương mại của nền tảng và trách nhiệm chuyên môn giáo dục của chủ thể cung cấp nội dung vẫn cần được làm rõ khi áp dụng.

Bốn là, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 đã thiết lập cơ chế kiểm soát chặt chẽ hơn đối với hoạt động khai thác thông tin cá nhân. Tuy nhiên, trong giáo dục trực tuyến, dữ liệu người học còn được tạo lập và xử lý thông qua việc theo dõi tiến trình học tập, tổ chức thi trực tuyến hoặc vận hành các công cụ AI. Đặc thù này đòi hỏi những tiêu chí áp dụng cụ thể hơn để xác định phạm vi thu thập, mục đích khai thác và trách nhiệm của chủ thể cung cấp dịch vụ.

Nhìn tổng thể, hạn chế của pháp luật hiện hành ở chỗ: phân tán về nguồn điều chỉnh và chưa đủ chuyên biệt ở cấp độ áp dụng. Cách xác định này quan trọng bởi nó dẫn tới một hướng hoàn thiện khác với quan điểm phải xây dựng ngay một đạo luật mới cho giáo dục trực tuyến.

ĐỊNH HƯỚNG ĐIỀU CHỈNH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO VỆ NGƯỜI HỌC

Trước hết, cụ thể hóa nghĩa vụ cung cấp thông tin theo Điều 37 LBVQLNTD năm 2023 đối với dịch vụ giáo dục trực tuyến. Trước khi giao kết hoặc thanh toán, bên cung cấp phải công khai rõ ràng các thông tin thiết yếu về chủ thể cung ứng, nội dung và mục tiêu chương trình, phương thức và thời lượng học, người giảng dạy, tổng chi phí, thời hạn truy cập, đánh giá và chứng nhận, chính sách bảo lưu, chấm dứt, hoàn phí và giải quyết khiếu nại. Các thông tin này cần được trình bày minh bạch, dễ tiếp cận, bảo đảm người học có thể nhận biết đầy đủ trước khi quyết định giao dịch.

Thứ hai, xây dựng tiêu chí đánh giá riêng đối với các cam kết về kết quả giáo dục. Khi cơ sở giáo dục sử dụng tỷ lệ đạt, mức điểm hoặc chính sách hoàn phí để thu hút người học, các tuyên bố này phải có căn cứ chứng minh, điều kiện áp dụng rõ ràng và có thể kiểm chứng. Quy định này nhằm nâng cao trách nhiệm của cơ sở giáo dục đối với những thông tin có khả năng tác động trực tiếp đến quyết định giao dịch của người học.

Thứ ba, tăng cường cơ chế phòng ngừa đối với điều khoản hợp đồng có nguy cơ gây bất lợi cho người học. Trên cơ sở Điều 25 LBVQLNTD năm 2023, cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn nhận diện các điều khoản rủi ro cao, như đơn phương thay đổi nội dung, giảng viên, quyền truy cập; tự động gia hạn; từ chối hoàn phí hoặc hạn chế quyền khiếu nại. Trước mắt, thay vì áp dụng đăng ký hợp đồng theo mẫu cho toàn bộ dịch vụ giáo dục trực tuyến, có thể dựa trên dữ liệu khiếu nại và thực tiễn giao dịch để xác định nhóm dịch vụ cần kiểm soát chặt chẽ hơn.

Thứ tư, quy định rõ nguyên tắc hoàn học phí khi dịch vụ chấm dứt trước thời hạn, dựa trên nguyên nhân chấm dứt và phần dịch vụ thực tế đã cung cấp. Nếu bên cung cấp vi phạm cam kết hoặc dịch vụ khác biệt đáng kể so với thông tin trước giao kết, người học cần được hoàn khoản tiền tương ứng với phần dịch vụ chưa sử dụng. Trường hợp người học chủ động chấm dứt mà không do lỗi của bên cung cấp, có thể khấu trừ giá trị dịch vụ đã sử dụng và chi phí hợp lý. Nguyên tắc và cách tính hoàn phí phải được công khai trước khi giao kết, tránh áp dụng chính sách không hoàn phí một cách cứng nhắc.

Thứ năm, trách nhiệm trong mô hình nền tảng nên được xác định theo mức độ chi phối thực tế của từng chủ thể. Theo đó, trách nhiệm đối với nội dung, quảng cáo, thanh toán hay dữ liệu cần gắn với chủ thể trực tiếp quyết định hoặc kiểm soát hoạt động tương ứng. Cách xác định này vừa hạn chế việc nền tảng viện dẫn vị trí trung gian để né tránh nghĩa vụ, vừa tránh áp đặt trách nhiệm đối với những hoạt động nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ.

Thứ sáu, cụ thể hóa cơ chế bảo vệ dữ liệu người học trong EdTech. Việc đăng ký khóa học không nên được hiểu là sự chấp thuận cho mọi hình thức khai thác dữ liệu. Cần phân định dữ liệu phục vụ trực tiếp cho khóa học với dữ liệu được sử dụng cho quảng cáo, phân tích hành vi hoặc AI; đồng thời áp dụng yêu cầu bảo vệ cao hơn đối với hoạt động giám sát trực tuyến và dữ liệu trẻ em, phù hợp với Điều 9 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025.

Thứ bảy, cơ chế xử lý tranh chấp cần thích ứng với phương thức cung ứng dịch vụ số. Người học nên có khả năng khiếu nại, gửi chứng cứ và theo dõi quá trình giải quyết bằng phương thức trực tuyến. Song song đó, dữ liệu phản ánh và khiếu nại cần được phân loại theo từng nhóm vấn đề của giáo dục trực tuyến, qua đó tạo nguồn thông tin thực tiễn phục vụ hoạt động quản lý và điều chỉnh pháp luật.

KẾT LUẬN

Bảo vệ người học trong giáo dục trực tuyến đòi hỏi sự phối hợp giữa pháp luật giáo dục, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thương mại điện tử và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Pháp luật Việt Nam hiện đã có nền tảng điều chỉnh tương đối đầy đủ, nhưng còn phân tán và chưa phản ánh đầy đủ đặc thù của dịch vụ giáo dục số.

Vì vậy, trước mắt chưa cần thiết xây dựng một đạo luật riêng mà nên tập trung hoàn thiện cơ chế hiện hành theo hướng minh bạch thông tin, kiểm soát cam kết về kết quả đào tạo, xác định nguyên tắc hoàn học phí, phân định trách nhiệm giữa các chủ thể, bảo vệ dữ liệu người học và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp trực tuyến. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm tính thống nhất của pháp luật, vừa tăng hiệu quả bảo vệ người học trong môi

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2023). Thông tư số 28/2023/TT-BGDĐT ngày 28/12/2023 ban hành Quy chế đào tạo từ xa trình độ đại học.

2. Bunce, L., Baird, A., & Jones, S. E. (2017). The student-as-consumer approach in higher education and its effects on academic performance. Studies in Higher Education, 42(11), 1958–1978

3. Chính phủ (2024), Nghị định số 55/2024/NĐ-CP ngày 16/5/2024 quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

4. McCulloch, A. (2009). The student as co-producer: Learning from public administration about the student–university relationship. Studies in Higher Education, 34(2), 171–183.

5. OECD (2022), Report on the Implementation of the Recommendation of the Council on Consumer Protection in E-commerce, OECD Publishing.

6. Quốc hội (2023). Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

7. Quốc hội (2023). Luật Giao dịch điện tử.

8. Quốc hội (2025). Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân.

9. Quốc hội (2025). Luật Thương mại điện tử.

10. Quốc hội (2025). Luật Giáo dục đại học.

11. Thủ tướng Chính phủ (2024). Quyết định số 07/2024/QĐ-TTg ngày 20/6/2024 ban hành Danh mục sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung.

12. United Nations General Assembly (2015). United Nations Guidelines for Consumer Protection, Resolution 70/186.

Ngày nhận bài: 5/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 20/8/2026; Ngày duyệt đăng: 28/8/2026

Các tin khác

Một số giải pháp nhằm phát triển xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Nam Á trong thời gian tới

Một số giải pháp nhằm phát triển xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Nam Á trong thời gian tới

Với dân số khổng lồ và tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định (trung bình 4-6%/năm), thị trường Nam Á, đang nổi lên như một thị trường nhiều tiềm năng cho xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam
Phân tích ý định quay trở lại TP. Hồ Chí Minh của du khách quốc tế: Mô hình tích hợp dựa trên Lý thuyết Hành vi có kế hoạch

Phân tích ý định quay trở lại TP. Hồ Chí Minh của du khách quốc tế: Mô hình tích hợp dựa trên Lý thuyết Hành vi có kế hoạch

Trong bối cảnh cạnh tranh điểm đến đô thị giữa các thành phố lớn trong khu vực ngày càng gay gắt, việc thấu hiểu cơ chế hình thành ý định quay trở lại của du khách quốc tế trở thành vấn đề có ý nghĩa thực tiễn cấp thiết đối với công tác quản trị điểm đến.
Cơ sở lý thuyết về trải nghiệm, cảm xúc du khách và doanh thu điểm đến: Vai trò điều tiết của thời tiết và đề xuất mô hình nghiên cứu tại TP. Huế

Cơ sở lý thuyết về trải nghiệm, cảm xúc du khách và doanh thu điểm đến: Vai trò điều tiết của thời tiết và đề xuất mô hình nghiên cứu tại TP. Huế

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về kinh tế du lịch chủ yếu tập trung vào mối quan hệ giữa hoạt động du lịch và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô. Đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu trong nước tích hợp đồng thời chất lượng trải nghiệm, cảm xúc, sự hài lòng, vai trò điều tiết của thời tiết và kết quả kinh tế tại một điểm đến di sản. Nhìn chung, các nhóm nghiên cứu về kinh tế học trải nghiệm, tâm lý học cảm xúc và tác động của thời tiết đã cung cấp những góc nhìn bổ sung nhưng vẫn được xem xét riêng lẻ.
Ảnh hưởng của cá nhân hóa bởi AI đến trải nghiệm số và niềm tin của người tiêu dùng thời trang tại TP. Hồ Chí Minh: Vai trò điều tiết của quan ngại quyền riêng tư

Ảnh hưởng của cá nhân hóa bởi AI đến trải nghiệm số và niềm tin của người tiêu dùng thời trang tại TP. Hồ Chí Minh: Vai trò điều tiết của quan ngại quyền riêng tư

Sự phát triển nhanh của thương mại điện tử và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi đáng kể cách người tiêu dùng tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn sản phẩm thời trang.
Chuyển đổi số trong quản trị đô thị thông minh và tác động đến môi trường kinh doanh: Bằng chứng từ chỉ số PCI của TP. Cần Thơ giai đoạn 2020-2025

Chuyển đổi số trong quản trị đô thị thông minh và tác động đến môi trường kinh doanh: Bằng chứng từ chỉ số PCI của TP. Cần Thơ giai đoạn 2020-2025

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số hành chính công và phát triển đô thị thông minh đã trở thành công cụ đột phá nhằm cắt giảm chi phí tuân thủ, nâng cao tính công khai, minh bạch cho doanh nghiệp.
Quản lý rủi ro đối với dịch vụ mua trước trả sau: So sánh kinh nghiệm các nước Đông Nam Á và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Quản lý rủi ro đối với dịch vụ mua trước trả sau: So sánh kinh nghiệm các nước Đông Nam Á và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Sự phát triển của tài chính số và thương mại điện tử thúc đẩy dịch vụ mua trước, trả sau ngày càng phổ biến, tạo thêm lựa chọn tín dụng cho người tiêu dùng và hỗ trợ mở rộng thanh toán số.
Thay đổi hệ thống xử lý thông tin kế toán theo thông tư số 99/2025/TT-BTC: Thảo luận và khuyến nghị

Thay đổi hệ thống xử lý thông tin kế toán theo thông tư số 99/2025/TT-BTC: Thảo luận và khuyến nghị

Những thay đổi của Thông tư số 99/2025/TT-BTC đối với hệ thống tài khoản, sổ kế toán và phần mềm kế toán cho thấy sự điều chỉnh đồng thời ở các khâu phân loại, ghi nhận, hệ thống hóa và xử lý thông tin kế toán.
Lãnh đạo xanh trong doanh nghiệp khởi nghiệp - từ tầm nhìn sáng lập đến hành vi xanh của nhân viên

Lãnh đạo xanh trong doanh nghiệp khởi nghiệp - từ tầm nhìn sáng lập đến hành vi xanh của nhân viên

Tăng trưởng xanh và phát triển bền vững đang trở thành định hướng quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Ở Việt Nam, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050 nhấn mạnh việc gắn tăng trưởng với bảo vệ môi trường và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Chiến lược nâng cao chất lượng dịch vụ công tại phường Trấn Biên, tỉnh Đồng Nai

Chiến lược nâng cao chất lượng dịch vụ công tại phường Trấn Biên, tỉnh Đồng Nai

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu hướng chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, khu vực công nói chung và lĩnh vực cung ứng dịch vụ hành chính công nói riêng đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải đổi mới phương thức phục vụ, nâng cao hiệu quả và tính minh bạch trong hoạt động.
Tích hợp đa kênh và sự hài lòng mua sắm thời trang: Khảo sát người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Tích hợp đa kênh và sự hài lòng mua sắm thời trang: Khảo sát người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Mua sắm thời trang kết hợp giữa trực tuyến và cửa hàng vật lý đang trở nên phổ biến, đòi hỏi doanh nghiệp tạo ra trải nghiệm thuận tiện và liền mạch cho khách hàng. Vì vậy, tích hợp đa kênh có vai trò quan trọng trong việc nâng cao sự hài lòng của người tiêu dùng.