Một số giải pháp nhằm phát triển xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Nam Á trong thời gian tới

Nghiên cứu - Trao đổi 17:13 | 31/08/2026
Với dân số khổng lồ và tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định (trung bình 4-6%/năm), thị trường Nam Á, đang nổi lên như một thị trường nhiều tiềm năng cho xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam

ThS. Đỗ Quốc Hưng

Vụ Phát triển thị trường nước ngoài - Bộ Công Thương

Email: HungDQ@moit.gov.vn

Tóm tắt

Trên cơ sở đặc điểm về thị trường, bài viết thực hiện khái quát chung về thực trạng xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Nam Á và chỉ ra những xu hướng chủ đạo trong hoạt động xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường này. Từ việc khái quát thực trạng và nhận diện xu hướng xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Nam Á, bài viết đề xuất các giải pháp đối với Nhà nước, hiệp hội và doanh nghiệp nhằm phát triển xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường khu vực Nam Á trong thời gian đến năm 2030.

Từ khoá: Xuất khẩu hàng hoá, phát triển xuất khẩu hàng hoá, thị trường Nam Á, giải pháp phát triển xuất khẩu hàng hoá.

Abstract

Based on market characteristics, this article provides an overview of the current state of Vietnam's goods exports to South Asian market and identifies key trends in these export activities. Drawing on this analysis, the article proposes solutions for the State, associations, and enterprises to boost Vietnam's goods exports to the South Asian market through 2030.

Keywords: Goods exports, goods export development, South Asian market, solutions for goods export development.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Khu vực Nam Á bao gồm 8 quốc gia (Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Nepal, Bhutan, Maldives, Sri Lanka, và Afghanistan) với tổng dân số hơn 2 tỷ người, chiếm gần 1/4 dân số toàn cầu là một thị trường lớn. Đặc biệt, 4 thị trường trọng điểm là Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh và Sri Lanka được đánh giá có nhiều triển vọng hợp tác thương mại và đầu tư với Việt Nam. Bên cạnh đó, Nam Á có vị trí địa lý gần Việt Nam, thuận tiện cho vận chuyển đường biển qua các cảng lớn như Mumbai (Ấn Độ), Karachi (Pakistan) hay Chittagong (Bangladesh). Khu vực này cũng là cửa ngõ kết nối Đông Nam Á với Trung Đông và châu Phi, mở ra cơ hội tiếp cận các thị trường lớn hơn. Với dân số khổng lồ và tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định (trung bình 4-6%/năm), thị trường Nam Á, đang nổi lên như một thị trường nhiều tiềm năng cho xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh các yếu tố thuận lợi nêu trên, phát triển xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Nam Á còn một số khó khăn thách thức như: Thị trường nhạy cảm về giá và cạnh tranh gay gắt; Hạ tầng logistics tại Nam Á còn nhiều hạn chế; Thủ tục hải quan phức tạp, thiếu minh bạch; Các quy định nhập khẩu thiếu ổn định và có xu hướng bảo hộ... Vì vậy cần có những giải pháp phù hợp và khả thi để vượt qua khó khăn, thách thức nhằm phát triển hơn nữa xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào khu vực thị trường này.

THỰC TRẠNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG NAM Á

Bảng 1 cho thấy, giai đoạn 2021-2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Nam Á tăng mạnh, gần 2 lần, từ 6.324,04 triệu USD năm 2020 lên 12.001,67 triệu USD năm 2025. Tăng trưởng trong cả giai đoạn khá ổn định và tốc độ tăng trưởng cao (13,67%/năm). Ấn Độ là thị trường nổi bật nhất, chiếm gần 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực Nam Á trong giai đoạn này.

Bảng 1: Xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang một số quốc gia Nam Á giai đoạn 2021-2025

Đơn vị: Triệu USD

Một số giải pháp nhằm phát triển xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Nam Á trong thời gian tới

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ UN Comtrade, 2026

Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang thị trường Nam Á trong giai đoạn 2021-2025 gồm: Máy điện và thiết bị điện và các bộ phận; Sắt và thép; Đồng và các sản phẩm bằng đồng; Nồi hơi, máy và thiết bị cơ khí; Hóa chất vô cơ; các hợp chất vô cơ hoặc hữu cơ của kim loại quý; Cà phê, chè và các loại gia vị; Plastic và các sản phẩm bằng plastic; Giày, dép, dệt may; Cao su và các sản phẩm bằng cao su; Các sản phẩm bằng sắt hoặc thép. Trong cả giai đoạn, hàng công nghiệp luôn chiếm giá trị lớn trong tổng KNXK của Việt Nam sang thị trường Nam Á, như máy điện và thiết bị điện và các bộ phận; sắt thép, đồng và các phẩm… Đây là các mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn trong các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Nam Á, chiếm trên 85% tổng KNXK của Việt Nam sang thị trường này.

Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu sang Nam Á thể hiện khá rõ sự kết hợp giữa hàng công nghiệp chế biến và một số sản phẩm nông nghiệp, thủy sản, tiêu dùng. Điều này cho thấy xuất khẩu sang thị trường Nam Á đã vượt ra ngoài phạm vi hàng nông sản thô và chuyển mạnh sang các sản phẩm công nghiệp, công nghệ và linh kiện.

Thực trạng xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Nam Á giai đoạn 2021-2025 cho thấy, những xu hưởng nổi bật sau:

Thứ nhất, xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường các quốc gia Nam Á, đặc biệt là Ấn Độ đã tăng đều trong cả giai đoạn 2021-2025 (Bộ Công Thương, 2025). Điều này thể hiện năng lực cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam được cải thiện đang kể, nhất là ở một số nhóm hàng điện tử, máy móc, kim loại và hàng công nghiệp chế biến của Việt Nam tại thị trường này.

Thứ hai, xuất khẩu có xu hướng đa dạng hóa từ nông sản sang hàng công nghiệp và công nghệ. Điện thoại, linh kiện điện tử, máy móc, phương tiện vận tải, hóa chất và sản phẩm nhựa ngày càng đóng vai trò quan trọng.

Thứ ba, Bangladesh, Pakistan và Sri Lanka còn nhiều dư địa nhưng quy mô nhỏ hơn đáng kể so với Ấn Độ. Bangladesh có nhu cầu đối với vật liệu xây dựng, máy móc, nông sản và hàng tiêu dùng. Sri Lanka có lợi thế về vị trí cảng biển và logistics. Pakistan có nhu cầu đối với thực phẩm, chè, nông sản và hàng tiêu dùng, nhưng việc mở rộng thị trường cần đi kèm cơ chế bảo đảm thanh toán và kiểm soát rủi ro thương mại.

Thứ tư, quan hệ thương mại đang chuyển dần từ mua bán hàng hóa đơn thuần sang kết nối chuỗi cung ứng, xúc tiến thương mại, đầu tư và logistics. Việt Nam và Bangladesh đặt mục tiêu nâng thương mại song phương lên 2 tỷ USD; Việt Nam và Sri Lanka hướng tới mục tiêu 1 tỷ USD (VietNam News, 2026).

Tóm lại, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Nam Á đang tăng trưởng tích cực, tuy nhiên chưa cân bằng và chưa tương xứng với tiềm năng. Thị trường Ấn Độ luôn giữ vai trò chính với các mặt hàng điện thoại, điện tử, máy móc, kim loại, hóa chất và một số mặt hàng nông, thủy sản. Bangladesh, Pakistan và Sri Lanka là các thị trường có quy mô nhỏ hơn nhưng có tiềm năng và cơ sở rõ rệt để mở rộng; Nepal, Bhutan, Maldives và Afghanistan phù hợp với chiến lược phát triển thị trường ngách. Trong thời giai đoạn đến năm 2030, hướng đi quan trọng không chỉ là tăng lượng hàng xuất khẩu mà còn phải đa dạng hóa thị trường, nâng tỷ trọng hàng chế biến sâu, đáp ứng tiêu chuẩn Halal và tiêu chuẩn kỹ thuật, phát triển thương hiệu, cải thiện logistics và tăng cường xúc tiến xuất khẩu.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG NAM Á

Thực hiện mục tiêu đa dạng hoá thị trường xuất khẩu hàng hoá, phát triển xuất khẩu sang Nam Á là hướng đi đúng đắn nhằm giảm phụ thuộc vào một số thị trường và đối tác xuất khẩu truyền thống. Để làm được điều đó, cần xây dựng và thực hiện một số giải pháp sau:

Giải pháp đối với Nhà nước

- Thúc đẩy xây dựng khuôn khổ hợp tác toàn diện và thực chất với các nước Nam Á.

Việt Nam cần cụ thể hoá các mục tiêu, nhiệm vụ trong Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hoá đến nhăm 2030 thành các chương trình hành động xuất khẩu hàng hoá sang Nam Á nói chung và với từng đối tác trong khu vực. Bên cạnh đó, Nhà nước cần chủ động và tích cực trong việc tham gia các diễn đàn khu vực, xúc tiến ký kết các thỏa thuận thương mại song phương với các nước trong khu vực Nam Á; Tiếp tục triển khai các cơ chế đối thoại phù hợp với từng đối tác; Đàm phán để xóa bỏ các trở ngại với trong thương mại song phương liên quan đến cơ chế, chính sách, rào cản thương mại, thủ tục hải quan và xuất nhập cảnh giữa Việt Nam với từng nước theo hướng thuận lợi, giảm bớt đơn giản thủ tục…; Thiết lập cơ chế trao đổi thông tin cấp Chính phủ, xử lý các vấn đề vướng mắc trong quan hệ thương mại với các nước trong khu vực Nam Á.

- Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển xuất khẩu.

Nhà nước cần điều chỉnh và hoàn thiện chính sách xuất khẩu theo nhóm ngành hàng từ phát triển nguồn nguyên liệu, sản xuất, xuất khẩu và phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng tại thị trường Nam Á. Hoàn thiện cơ chế, chính sách về quản lý xuất khẩu đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo cơ sở pháp lý cho phát triển xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Nam Á. Đó là: Ban hành quy định về biện pháp kiểm dịch động thực vật, an toàn thực phẩm; Xây dựng và ban hành tiêu chuẩn hàng hóa xuất khẩu phù hợp với quy định đặc thù của thị trường Nam Á; Xây dựng chương trình, kế hoạch hỗ trợ người nuôi trồng về kỹ thuật và hạn chế tối đa các chất bị cấm trong quá trình nuôi trồng nông, lâm, thủy sản, tăng cường kiểm tra, kiểm soát về dư lượng hoá chất, dư lượng kháng sinh trong hàng hoá…; Đẩy mạnh cải cách hành chính và hiện đại hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi hơn nữa cho hoạt động xuất khẩu; Tăng cường cơ chế cảnh báo sớm cho các doanh nghiệp để chủ động ứng phó với các quy định mang tính đột xuất, bất ngờ và không phù hợp với quy định quốc tế.

- Tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến xuất khẩu, thông tin về thị trường các quốc gia Nam Á.

Các cơ quan quản lý nhà nước liên quan cần nâng chất lượng thông tin thị trường. Thương vụ Việt Nam tại các nước Nam Á nên duy trì cơ sở dữ liệu cập nhật về quy định nhập khẩu, cảnh báo thay đổi chính sách, danh sách hội chợ, nhà nhập khẩu tiềm năng và các vụ việc tranh chấp điển hình. Cần tiếp tục đẩy mạnh và đổi mới, cải tiến các hoạt động xúc tiến thương mại, đặc biệt là các hoạt động thuộc Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia; Tổ chức hiệu quả các Chương trình Xúc tiến thương mại sang Nam Á; Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu các sản phẩm công nghiệp, nông sản có chất lượng và bảo đảm an toàn thực phẩm của các doanh nghiệp sản xuất chế biến, hợp tác xã, hộ trồng trong nước đến các nhà xuất khẩu; Tổ chức tốt công tác dự báo và cung cấp thông tin về thị trường; Tăng cường hiệu quả công tác xây dựng, nâng cao uy tín của thương hiệu hàng Việt Nam tại thị trường Nam Á; Hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc tham gia các Hội chợ triển lãm và giao thương tại Nam Á.

- Xây dựng cơ sở dữ liệu xuất khẩu sang Nam Á theo từng quốc gia, bang/thành phố, ngành hàng và mã HS.

Cơ sở dữ liệu nên tích hợp thuế nhập khẩu, thuế nội địa, yêu cầu kiểm dịch, tiêu chuẩn kỹ thuật, chứng nhận bắt buộc, doanh nghiệp nhập khẩu, giá tham chiếu, tuyến vận tải và rủi ro thanh toán. Doanh nghiệp cần được truy cập thông tin ngắn gọn bằng tiếng Việt, tiếng Anh và khi cần bằng ngôn ngữ địa phương. Indian Trade Portal, chẳng hạn, cung cấp chức năng tra cứu thuế quan, quy tắc xuất xứ, yêu cầu tiếp cận thị trường và chính sách xuất nhập khẩu; Việt Nam có thể liên thông hoặc chuẩn hóa việc khai thác các dữ liệu tương tự.

- Thúc đẩy kết nối logistics và hợp tác đầu tư.

Các cơ quan đại diện cần hỗ trợ kết nối doanh nghiệp logistics hai nước, khuyến khích hình thành kho hàng và trung tâm phân phối ở các địa bàn có nhu cầu lớn. Về dài hạn, xuất khẩu hàng hóa nên gắn với đầu tư, chuyển giao công nghệ và hợp tác sản xuất tại chỗ, đặc biệt trong các lĩnh vực điện tử, xe điện, công nghiệp hỗ trợ, chế biến thực phẩm và năng lượng sạch. Cách tiếp cận này giúp doanh nghiệp vượt qua một phần chi phí logistics, tăng mức độ hiện diện thương hiệu và tiếp cận sâu hơn với hệ sinh thái kinh doanh địa phương.

Giải pháp đối với hiệp hội

- Từng hiệp hội ngành hàng cần xây dựng và ban hành bộ tiêu chuẩn xuất khẩu chung và cơ chế chia sẻ dữ liệu về thị trường Nam Á.

Bộ tiêu chuẩn này cần cần được xây dựng cho từng nhóm hàng. Đối với nông sản và thực phẩm, việc thống nhất quy cách, mã vùng trồng, hồ sơ truy xuất, kiểm soát dư lượng và mẫu nhãn sẽ giảm tình trạng mỗi doanh nghiệp chuẩn bị một bộ hồ sơ khác nhau. Đối với điện tử, cơ khí và dệt may, hiệp hội nên phát triển danh mục nhà cung ứng đủ năng lực, chứng nhận chất lượng và năng lực bảo hành.

- Trung tâm trong thay đổi cách tiếp cận và xúc tiến xuất khẩu của các doanh nghiệp.

Hiệp hội cần chuyển từ quảng bá chung sang xây dựng thương hiệu ngành hàng Việt Nam. Chẳng hạn, cà phê, hạt tiêu, cao su, thủy sản, giày dép và đồ gỗ nên có bộ nhận diện, câu chuyện nguồn gốc, tiêu chuẩn tối thiểu và chiến dịch truyền thông phù hợp từng quốc gia. Cách làm này giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa hưởng lợi từ uy tín tập thể, thay vì tự chịu toàn bộ chi phí tạo dựng niềm tin.

Giải pháp đối với doanh nghiệp

- Xây dựng chiến lược thị trường theo từng quốc gia.

Các doanh nghiệp Việt Nam không nên coi Nam Á là một thị trường duy nhất. Ấn Độ phù hợp với chiến lược vừa xuất khẩu hàng công nghiệp, điện tử, máy móc, thực phẩm chế biến và nông sản, vừa tìm kiếm đối tác đầu tư, phân phối hoặc sản xuất tại chỗ. Bangladesh có thể được tiếp cận thông qua hàng tiêu dùng, nguyên phụ liệu, thực phẩm, sản phẩm nhựa, dệt may và các mặt hàng phục vụ đời sống với giá cạnh tranh. Pakistan cần chú trọng thẩm định đối tác, phương thức thanh toán và rủi ro chính sách. Sri Lanka có quy mô nhỏ hơn nhưng có thể là thị trường thử nghiệm cho thực phẩm, đồ gia dụng, vật liệu xây dựng và hàng tiêu dùng trước khi mở rộng sang các nước khác. Cách làm phù hợp là lập hồ sơ thị trường riêng cho từng quốc gia, trong đó xác định nhóm khách hàng, mức giá mục tiêu, quy định nhập khẩu, đối thủ cạnh tranh, kênh phân phối và phương thức thanh toán. Việc phân khúc cũng cần tính đến người tiêu dùng trẻ và tầng lớp trung lưu đang tăng, nhưng không nên bỏ qua khu vực ngoài đô thị, nơi yêu cầu về giá và độ bền sản phẩm thường quan trọng hơn các thuộc tính cao cấp.

- Nâng cao năng lực cạnh tranh tại thị trường Nam Á bằng chất lượng, giá và bản địa hóa.

Giá thấp không thể là lợi thế duy nhất, bởi doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh với hàng hóa từ Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh và nhiều nguồn cung khác. Doanh nghiệp cần tối ưu chi phí từ nguyên liệu, sản xuất, bao bì đến logistics; đồng thời thiết kế các quy cách sản phẩm phù hợp với sức mua tại từng địa bàn. Với thực phẩm, cần nghiên cứu khẩu vị, tôn giáo, yêu cầu về thành phần, kích cỡ đóng gói và ngôn ngữ nhãn hàng. Với hàng điện tử và gia dụng, độ bền, khả năng sửa chữa, linh kiện thay thế và chính sách bảo hành có thể quan trọng không kém giá bán. Bản địa hóa không chỉ là dịch nhãn mác. Đó là quá trình điều chỉnh sản phẩm, thông điệp tiếp thị, màu sắc, kênh bán hàng, phương thức thanh toán và dịch vụ sau bán hàng theo hành vi tiêu dùng địa phương. Doanh nghiệp nên thử nghiệm ở một bang, thành phố hoặc nhóm nhà phân phối trước khi mở rộng trên toàn quốc, qua đó giảm chi phí sai lầm.

- Chủ động đáp ứng tiêu chuẩn và quản trị hồ sơ xuất khẩu.

Mỗi lô hàng cần được chuẩn bị trên cơ sở “đúng sản phẩm, đúng chứng từ và đúng quy định”. Doanh nghiệp phải cập nhật yêu cầu về mã hàng, nhãn, kiểm dịch, an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn kỹ thuật, chứng nhận xuất xứ và thủ tục nhập khẩu. Với nông sản và thực phẩm, cần tăng đầu tư vào vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát dư lượng và năng lực kiểm nghiệm. Với điện tử, máy móc và sản phẩm công nghiệp, cần chuẩn hóa thông số kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng và hồ sơ bảo hành.

Một quy trình thẩm định trước giao dịch cũng rất cần thiết. Doanh nghiệp nên kiểm tra tư cách pháp lý, lịch sử thanh toán, năng lực kho bãi, mạng lưới phân phối và uy tín thương mại của đối tác. Hợp đồng cần quy định rõ điều kiện giao hàng, trách nhiệm bảo hiểm, cơ chế xử lý khi hàng bị giữ ở cảng, phương thức giải quyết tranh chấp và điều khoản điều chỉnh khi chính sách nhập khẩu thay đổi.

- Phát triển đa kênh phân phối tại thị trường các quốc gia Nam Á.

Các nền tảng như Amazon India, Flipkart và Daraz được chuyên gia nhận diện là những kênh có tiềm năng giúp hàng Việt tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng. Tuy nhiên, thương mại điện tử không thay thế hoàn toàn nhà nhập khẩu và mạng lưới bán lẻ truyền thống. Doanh nghiệp nên kết hợp ba kênh: bán trực tuyến để kiểm chứng nhu cầu và xây dựng thương hiệu; hợp tác với nhà phân phối để mở rộng độ phủ; và tham gia hội chợ để tìm khách hàng B2B, đại lý hoặc đối tác sản xuất.

Bộ Công Thương ghi nhận các hoạt động như tổ chức gian hàng Việt Nam tại Indusfood, Vibrant Gujarat và tham gia IndiaSoft đã tạo cơ hội kết nối doanh nghiệp, quảng bá thực phẩm, công nghệ thông tin và các sản phẩm khác. Từ kinh nghiệm này, hoạt động xúc tiến thương mại cần chuyển từ việc trưng bày đơn thuần sang mô hình có mục tiêu: xác định trước nhóm người mua, đặt lịch giao thương, chuẩn bị mẫu hàng, theo dõi báo giá và đánh giá tỷ lệ chuyển đổi sau hội chợ.

- Giảm rủi ro, chi phí logistics và thanh toán.

Chi phí vận tải cao có thể làm mất lợi thế giá của hàng Việt Nam. Doanh nghiệp cần gom hàng, ký hợp đồng logistics theo tuyến, sử dụng kho trung chuyển phù hợp và lựa chọn điều kiện giao hàng trên cơ sở tính đủ chi phí đến tay người mua. Với đơn hàng nhỏ hoặc thử nghiệm, có thể ưu tiên vận tải đa phương thức và dịch vụ hoàn tất đơn hàng của đối tác địa phương. Với hàng có giá trị cao, cần đánh giá kỹ thời gian vận chuyển, bảo hiểm và khả năng kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm nếu là thực phẩm hoặc dược phẩm.

Rủi ro thanh toán nên được quản trị theo cấp độ tin cậy của đối tác. Giai đoạn đầu có thể ưu tiên phương thức an toàn hơn, hạn mức tín dụng nhỏ và giao hàng từng phần. Khi quan hệ ổn định, doanh nghiệp mới mở rộng kỳ hạn thanh toán. Việc mua bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, sử dụng ngân hàng có kinh nghiệm tại Nam Á và theo dõi biến động tỷ giá cũng giúp giảm tổn thất bất ngờ.

KẾT LUẬN

Phát triển xuất khẩu hàng hoá sang Nam Á không chỉ là tìm thêm người mua mà là xây dựng năng lực hiện diện tại một khu vực đa dạng và nhiều biến động. Thực trạng xuất khẩu cho thấy, Việt Nam đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận và còn nhiều tiềm năng để phát triển xuất khẩu hàng hoá vào khu vực này. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành tăng trưởng bền vững, Nhà nước cần thúc đẩy xây dựng khuôn khổ hợp tác toàn diện, hoàn thiện cơ chế, chính sách, tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến xuất khẩu, thông tin về thị trường, xây dựng cơ sở dữ liệu xuất khẩu sang Nam Á, thúc đẩy kết nối logistics và hợp tác đầu tư. Bên cạnh đó, các hiệp hội cần xây dựng và ban hành bộ tiêu chuẩn xuất khẩu chung và cơ chế chia sẻ dữ liệu về thị trường Nam Á, phải là trung tâm trong thay đổi cách tiếp cận và xúc tiến xuất khẩu của các doanh nghiệp. Cùng với đó, doanh nghiệp nên thực hiện các giải pháp: Xây dựng chiến lược thị trường theo từng quốc gia; Nâng cao năng lực cạnh tranh bằng chất lượng, giá và bản địa hóa; Chủ động đáp ứng tiêu chuẩn và quản trị hồ sơ xuất khẩu; Phát triển đa kênh phân phối; Giảm rủi ro, chi phí logistics và thanh toán.

Nếu thực hiện đồng bộ các giải pháp trên, Nam Á có thể trở thành một trụ cột bổ sung cho chiến lược đa dạng hóa thị trường xuất khẩu của Việt Nam, giảm sự phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống và nâng cao giá trị của hàng hóa Việt Nam trong chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Công Thương (2025). Thương mại song phương Việt Nam - Ấn Độ đạt xấp xỉ 15 tỷ USD trong năm 2024, http://moit.gov.vn.

2. Bộ Công Thương (2024). Một số hoạt động xúc tiến thương mại nổi bật của Thương vụ Ấn Độ trong tháng 1 năm 2024, http://moit.gov.vn.

3. Ministry of Commerce and Industry of India (2026). Indian Trade Portal - Tariffs, market access and trade information, https://www.commerce.gov.in.

4. Vietnam News (2025). South Asia offers opportunities for Vietnamese exporters, experts say. https://vietnamnews.vn

5. World Bank (2017). South Asia Economic Focus, Spring 2017: Globalization Backlash, https://openknowledge.worldbank.org.

6. UN Comtrade Database (2026). International Trade Statistics. United Nations, https://comtrade.un.org.

Ngày nhận bài: 20/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 20/8/2026; Ngày duyệt đăng: 28/8/2026

Các tin khác

Đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật trong kinh doanh dịch vụ giáo dục trực tuyến - Thực tiễn tại Việt Nam

Đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật trong kinh doanh dịch vụ giáo dục trực tuyến - Thực tiễn tại Việt Nam

Số hóa hoạt động giáo dục đang làm thay đổi không chỉ phương thức dạy và học mà cả cách thức dịch vụ giáo dục được đưa ra thị trường. Sản phẩm công nghệ thông minh, tính năng đa dạng do đó việc tiếp cận dịch vụ vì thế được mở rộng đáng kể
Phân tích ý định quay trở lại TP. Hồ Chí Minh của du khách quốc tế: Mô hình tích hợp dựa trên Lý thuyết Hành vi có kế hoạch

Phân tích ý định quay trở lại TP. Hồ Chí Minh của du khách quốc tế: Mô hình tích hợp dựa trên Lý thuyết Hành vi có kế hoạch

Trong bối cảnh cạnh tranh điểm đến đô thị giữa các thành phố lớn trong khu vực ngày càng gay gắt, việc thấu hiểu cơ chế hình thành ý định quay trở lại của du khách quốc tế trở thành vấn đề có ý nghĩa thực tiễn cấp thiết đối với công tác quản trị điểm đến.
Cơ sở lý thuyết về trải nghiệm, cảm xúc du khách và doanh thu điểm đến: Vai trò điều tiết của thời tiết và đề xuất mô hình nghiên cứu tại TP. Huế

Cơ sở lý thuyết về trải nghiệm, cảm xúc du khách và doanh thu điểm đến: Vai trò điều tiết của thời tiết và đề xuất mô hình nghiên cứu tại TP. Huế

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về kinh tế du lịch chủ yếu tập trung vào mối quan hệ giữa hoạt động du lịch và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô. Đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu trong nước tích hợp đồng thời chất lượng trải nghiệm, cảm xúc, sự hài lòng, vai trò điều tiết của thời tiết và kết quả kinh tế tại một điểm đến di sản. Nhìn chung, các nhóm nghiên cứu về kinh tế học trải nghiệm, tâm lý học cảm xúc và tác động của thời tiết đã cung cấp những góc nhìn bổ sung nhưng vẫn được xem xét riêng lẻ.
Ảnh hưởng của cá nhân hóa bởi AI đến trải nghiệm số và niềm tin của người tiêu dùng thời trang tại TP. Hồ Chí Minh: Vai trò điều tiết của quan ngại quyền riêng tư

Ảnh hưởng của cá nhân hóa bởi AI đến trải nghiệm số và niềm tin của người tiêu dùng thời trang tại TP. Hồ Chí Minh: Vai trò điều tiết của quan ngại quyền riêng tư

Sự phát triển nhanh của thương mại điện tử và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi đáng kể cách người tiêu dùng tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn sản phẩm thời trang.
Chuyển đổi số trong quản trị đô thị thông minh và tác động đến môi trường kinh doanh: Bằng chứng từ chỉ số PCI của TP. Cần Thơ giai đoạn 2020-2025

Chuyển đổi số trong quản trị đô thị thông minh và tác động đến môi trường kinh doanh: Bằng chứng từ chỉ số PCI của TP. Cần Thơ giai đoạn 2020-2025

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số hành chính công và phát triển đô thị thông minh đã trở thành công cụ đột phá nhằm cắt giảm chi phí tuân thủ, nâng cao tính công khai, minh bạch cho doanh nghiệp.
Quản lý rủi ro đối với dịch vụ mua trước trả sau: So sánh kinh nghiệm các nước Đông Nam Á và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Quản lý rủi ro đối với dịch vụ mua trước trả sau: So sánh kinh nghiệm các nước Đông Nam Á và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Sự phát triển của tài chính số và thương mại điện tử thúc đẩy dịch vụ mua trước, trả sau ngày càng phổ biến, tạo thêm lựa chọn tín dụng cho người tiêu dùng và hỗ trợ mở rộng thanh toán số.
Thay đổi hệ thống xử lý thông tin kế toán theo thông tư số 99/2025/TT-BTC: Thảo luận và khuyến nghị

Thay đổi hệ thống xử lý thông tin kế toán theo thông tư số 99/2025/TT-BTC: Thảo luận và khuyến nghị

Những thay đổi của Thông tư số 99/2025/TT-BTC đối với hệ thống tài khoản, sổ kế toán và phần mềm kế toán cho thấy sự điều chỉnh đồng thời ở các khâu phân loại, ghi nhận, hệ thống hóa và xử lý thông tin kế toán.
Lãnh đạo xanh trong doanh nghiệp khởi nghiệp - từ tầm nhìn sáng lập đến hành vi xanh của nhân viên

Lãnh đạo xanh trong doanh nghiệp khởi nghiệp - từ tầm nhìn sáng lập đến hành vi xanh của nhân viên

Tăng trưởng xanh và phát triển bền vững đang trở thành định hướng quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Ở Việt Nam, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050 nhấn mạnh việc gắn tăng trưởng với bảo vệ môi trường và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Chiến lược nâng cao chất lượng dịch vụ công tại phường Trấn Biên, tỉnh Đồng Nai

Chiến lược nâng cao chất lượng dịch vụ công tại phường Trấn Biên, tỉnh Đồng Nai

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu hướng chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, khu vực công nói chung và lĩnh vực cung ứng dịch vụ hành chính công nói riêng đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải đổi mới phương thức phục vụ, nâng cao hiệu quả và tính minh bạch trong hoạt động.
Tích hợp đa kênh và sự hài lòng mua sắm thời trang: Khảo sát người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Tích hợp đa kênh và sự hài lòng mua sắm thời trang: Khảo sát người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Mua sắm thời trang kết hợp giữa trực tuyến và cửa hàng vật lý đang trở nên phổ biến, đòi hỏi doanh nghiệp tạo ra trải nghiệm thuận tiện và liền mạch cho khách hàng. Vì vậy, tích hợp đa kênh có vai trò quan trọng trong việc nâng cao sự hài lòng của người tiêu dùng.