Mối quan hệ giữa chuyển đổi số và kết quả hoạt động: Bằng chứng thực nghiệm tại các trường đại học công lập tại TP. Hồ Chí Minh
ThS. Nguyễn Thị Diễm Trang
Bộ môn Kế toán và Quản trị Kinh doanh, Phân hiệu Trường Đại học Thủy lợi
Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa chuyển đổi số, năng lực đổi mới và kết quả hoạt động trong các trường đại học công lập tại TP. Hồ Chí Minh. Dựa trên Lý thuyết nguồn lực (RBV) và tiếp cận năng lực động, nghiên cứu đề xuất mô hình trong đó Năng lực đổi mới đóng vai trò trung gian giữa Chuyển đổi số và Kết quả hoạt động. Dữ liệu được thu thập từ 212 mẫu khảo sát và phân tích bằng phương pháp PLS-SEM. Kết quả cho thấy, Chuyển đổi số tác động tích cực đến Năng lực đổi mới và Kết quả hoạt động; đồng thời, Năng lực đổi mới cũng cải thiện Kết quả hoạt động và đóng vai trò trung gian có ý nghĩa. Nghiên cứu làm rõ cơ chế chuyển hóa nguồn lực số thành hiệu quả và đề xuất hàm ý quản trị cho giáo dục đại học.
Từ khóa: Chuyển đổi số, năng lực đổi mới, kết quả hoạt động, giáo dục đại học
Abstract
This study investigates the interplay between digital transformation, innovation capability, and organizational performance in public universities in Ho Chi Minh City. Drawing upon the Resource-Based View (RBV) and the dynamic capabilities perspective, the study develops a conceptual framework in which innovation capability functions as a mediating mechanism linking digital transformation to organizational performance. Data collected from 212 survey respondents were analyzed using the Partial Least Squares Structural Equation Modeling (PLS-SEM) approach. The empirical findings demonstrate that digital transformation exerts a significant positive effect on both innovation capability and organizational performance. Furthermore, innovation capability not only enhances organizational performance directly but also serves as a significant mediator in the relationship between digital transformation and performance outcomes. These findings highlight the critical role of innovation capability in converting digital resources and technological adoption into sustainable organizational effectiveness. Accordingly, the study contributes to the growing literature on digital transformation in higher education and offers several managerial implications for improving institutional performance in the context of digital transformation and educational modernization.
Keywords: Digital transformation, innovation capability, organizational performance, higher education
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số (CĐS) đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức. Đặc biệt, trong lĩnh vực giáo dục đại học, việc ứng dụng công nghệ số không chỉ góp phần đổi mới phương thức giảng dạy mà còn cải thiện hiệu quả quản trị và nâng cao chất lượng đào tạo (Abad-Segura và cộng sự, 2020). Tại Việt Nam, CĐS được xác định là một trong những định hướng chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các trường đại học trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Các xu hướng gần đây cho thấy, các cơ sở giáo dục đại học không chỉ tập trung vào mở rộng quy mô đào tạo mà còn chú trọng nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua đổi mới và ứng dụng công nghệ (Xu và cộng sự, 2025; Vial, 2019). Mục tiêu của sự chuyển đổi này là tối ưu hóa hiệu quả vận hành, nâng cao chất lượng đào tạo và tăng cường sự hài lòng của người học. Do đó, các nhà quản lý giáo dục ngày càng nhận thức rõ vai trò của CĐS như một công cụ quan trọng để cải thiện hiệu quả tổ chức.
Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây cho thấy tác động của CĐS đến kết quả hoạt động không phải lúc nào cũng trực tiếp, mà phụ thuộc vào khả năng khai thác và chuyển hóa công nghệ của tổ chức (Vial, 2019). Trong đó, năng lực đổi mới được xem là một yếu tố trung gian quan trọng giúp tổ chức tận dụng hiệu quả các nguồn lực số để tạo ra giá trị (Monferrer và cộng sự, 2015). Các tổ chức có năng lực đổi mới cao thường có khả năng thích ứng tốt hơn với môi trường thay đổi và đạt được hiệu quả hoạt động vượt trội.
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến mối quan hệ giữa CĐS, đổi mới và hiệu quả hoạt động, tuy nhiên vẫn tồn tại một số khoảng trống nghiên cứu đáng chú ý. Thứ nhất, phần lớn các nghiên cứu tập trung vào các ngành công nghiệp hoặc doanh nghiệp tại các quốc gia phát triển, trong khi bối cảnh giáo dục đại học tại các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam còn ít được xem xét. Thứ hai, các nghiên cứu trước chủ yếu phân tích những mối quan hệ trực tiếp mà chưa làm rõ cơ chế trung gian, đặc biệt là vai trò của năng lực đổi mới trong mối quan hệ giữa CĐS và kết quả hoạt động. Thứ ba, số lượng nghiên cứu thực nghiệm sử dụng phương pháp định lượng để kiểm định đồng thời các mối quan hệ này trong cùng một mô hình còn hạn chế.
Xuất phát từ những khoảng trống trên, nghiên cứu này được thực hiện nhằm kiểm định mối quan hệ giữa CĐS, năng lực đổi mới và kết quả hoạt động trong các trường đại học công lập tại TP. Hồ Chí Minh. Đồng thời, nghiên cứu tập trung làm rõ vai trò trung gian của năng lực đổi mới trong việc chuyển hóa các nguồn lực số thành hiệu quả hoạt động thực tiễn, qua đó đóng góp vào cả lý thuyết và thực tiễn quản trị trong lĩnh vực giáo dục đại học.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu
Chuyển đổi số
Theo Vial (2019), CĐS là quá trình tích hợp công nghệ số vào tất cả các lĩnh vực hoạt động của tổ chức nhằm tạo ra những thay đổi căn bản về cách thức vận hành và tạo giá trị. Tương tự, Singh và cộng sự (2020) cho rằng, CĐS không chỉ dừng lại ở việc áp dụng công nghệ mà còn bao gồm sự thay đổi về chiến lược, quy trình và mô hình kinh doanh. Trong bối cảnh giáo dục đại học, CĐS được thể hiện thông qua việc ứng dụng công nghệ trong giảng dạy, quản trị và tương tác với người học. Các nghiên cứu gần đây cho thấy CĐS có tác động tích cực đến hiệu quả tổ chức, tuy nhiên mức độ tác động phụ thuộc vào khả năng khai thác và tích hợp công nghệ của từng tổ chức. Do đó, các giả thuyết đưa ra như sau:
H1: CĐS có ảnh hưởng tích cực đến Năng lực đổi mới.
H2: CĐS có ảnh hưởng tích cực đến Kết quả hoạt động.
Năng lực đổi mới
Theo Monferrer và cộng sự (2015), năng lực đổi mới phản ánh khả năng của tổ chức trong việc tạo ra, tiếp nhận và triển khai các ý tưởng mới nhằm cải thiện sản phẩm, dịch vụ và quy trình hoạt động. Tương tự, Iddris (2016) nhấn mạnh rằng, năng lực đổi mới không chỉ bao gồm đổi mới công nghệ mà còn cả đổi mới tổ chức và đổi mới dịch vụ. Dựa trên Lý thuyết nguồn lực (RBV) của Barney (1991), năng lực đổi mới được xem là một năng lực chiến lược giúp chuyển hóa nguồn lực (như công nghệ số) thành lợi thế cạnh tranh bền vững. Trong bối cảnh CĐS, năng lực đổi mới đóng vai trò là cầu nối giúp tổ chức khai thác hiệu quả các công nghệ mới và tạo ra giá trị thực tiễn (Vial, 2019). Do đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
H3: Năng lực đổi mới có ảnh hưởng tích cực đến Kết quả hoạt động.
Vai trò trung gian của năng lực đổi mới
Trong bối cảnh CĐS, việc ứng dụng công nghệ không tự động cải thiện kết quả hoạt động nếu tổ chức không có khả năng khai thác hiệu quả các nguồn lực này. Theo Barney (1991), nguồn lực chỉ tạo ra giá trị khi được chuyển hóa thông qua các năng lực tổ chức phù hợp, trong đó năng lực đổi mới đóng vai trò then chốt. CĐS cung cấp nền tảng công nghệ và dữ liệu, tạo điều kiện thúc đẩy đổi mới thông qua việc cải thiện chia sẻ tri thức và khả năng thích ứng (Vial, 2019). Đồng thời, năng lực đổi mới giúp tổ chức nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua cải tiến quy trình và chất lượng dịch vụ (Monferrer và cộng sự, 2015). Do đó, CĐS không chỉ tác động trực tiếp mà còn gián tiếp đến kết quả hoạt động thông qua năng lực đổi mới, đóng vai trò là cơ chế chuyển hóa nguồn lực số thành hiệu quả thực tiễn (Xu và cộng sự, 2025). Từ đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
H4: Năng lực đổi mới đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa CĐS và Kết quả hoạt động.
Dựa trên cơ sở lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu, tác giả xây dựng mô hình phân tích mối quan hệ giữa CĐS, Năng lực đổi mới và Kết quả hoạt động trong các trường đại học công lập tại TP. Hồ Chí Minh như Hình.
Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Nguồn: Tác giả đề xuất
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng khảo sát bảng hỏi để kiểm định mối quan hệ giữa CĐS, Năng lực đổi mới và Kết quả hoạt động tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Đối tượng khảo sát gồm: cán bộ quản lý, giảng viên và nhân sự được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Dữ liệu chính thức được thu thập từ tháng 11/2025-2/2026 bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến, thu về 212/300 phản hồi hợp lệ (đạt tỷ lệ 70,7%).
Công cụ đo lường là bảng hỏi gồm 2 phần, tập trung vào các biến nghiên cứu và thông tin nhân khẩu học, trong đó các thang đo đều được kế thừa từ các nghiên cứu quốc tế đã được kiểm chứng như Singh và cộng sự (2021) về CĐS; Monferrer và cộng sự (2015) về năng lực đổi mới (NLĐM); Li và cộng sự (2021) về kết quả hoạt động (KQHĐ). Tất cả biến được đo bằng thang Likert 5 mức độ và được hiệu chỉnh ngôn ngữ thông qua quy trình dịch ngược của Brislin (1970) cùng việc tham vấn chuyên gia để đảm bảo tính phù hợp với bối cảnh giáo dục tại Việt Nam.
Về kỹ thuật xử lý dữ liệu, nghiên cứu áp dụng phương pháp mô hình hóa phương trình cấu trúc (SEM) với sự hỗ trợ của phần mềm SmartPLS. Đây là phương pháp phù hợp cho nghiên cứu liên quan đến nhiều khái niệm và biến số, cho phép ước lượng tương quan toàn diện theo khuyến nghị của Hair và cộng sự (2019).
Nghiên cứu sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kết quả thang đo
Kết quả đánh giá mô hình đo lường cho thấy các thang đo đạt độ tin cậy và giá trị hợp lệ. Cụ thể, hệ số Cronbach’s Alpha dao động từ 0.849-0.861 (> 0.6) và độ tin cậy tổng hợp (CR) từ 0.898-0.904 (> 0.7), khẳng định tính nhất quán nội bộ và độ tin cậy của thang đo. Tính hội tụ được đảm bảo khi các hệ số tải ngoài đều > 0.7 (0.742-0.866) và AVE nằm trong khoảng 0.643-0.701 (> 0.5) (Hair và cộng sự, 2019). Kết quả kiểm định đa cộng tuyến cho thấy các giá trị VIF đều < 3, chứng tỏ không tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến. Đồng thời, tiêu chí Fornell-Larcker xác nhận giá trị phân biệt khi căn bậc hai AVE của các biến (CĐS = 0.802; KQHĐ = 0.829; NLĐM = 0.837) đều lớn hơn hệ số tương quan tương ứng (Henseler và cộng sự, 2015). Tóm lại, mô hình đo lường đạt độ tin cậy, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt, đáp ứng yêu cầu cho các phân tích tiếp theo.
Bảng 1: Giá trị và độ tin cậy
|
Yếu tố |
Cronbach’s Alpha |
CR |
AVE |
CĐS |
KQHĐ |
NLĐM |
|---|---|---|---|---|---|---|
|
Chuyển đổi số (CĐS) |
0.861 |
0.900 |
0.643 |
0.802 |
|
|
|
Kết quả hoạt động (KQHĐ) |
0.849 |
0.898 |
0.688 |
0.644 |
0.829 |
|
|
Năng lực đổi mới (NLĐM) |
0.858 |
0.904 |
0.701 |
0.556 |
0.746 |
0.837 |
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu của tác giả, 2026
Kết quả kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu
Kết quả kiểm định cho thấy mô hình đạt độ phù hợp với dữ liệu khi SRMR = 0.077 (< 0.08) theo Hair và cộng sự (2019). Phân tích bootstrapping với 5,000 mẫu lặp xác nhận các mối quan hệ trong mô hình đều có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Cụ thể, CĐS tác động tích cực đến NLĐM (β = 0.332; p < 0.01) và KQHĐ (β = 0.556; p < 0.01), qua đó ủng hộ H1 và H2. Đồng thời, NLĐM ảnh hưởng tích cực đến KQHĐ (β = 0.561; p < 0.01), xác nhận H3. Kết quả cũng cho thấy, NLĐM đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa CĐS và KQHĐ với hệ số tác động gián tiếp β = 0.312 (p < 0.01), do đó H4 được chấp nhận. Nhìn chung, toàn bộ các giả thuyết nghiên cứu đều được hỗ trợ.
Bảng 2: Kết qủa kiểm định giả thuyết theo nghiên cứu
|
Giả thuyết nghiên cứu |
Mối quan hệ |
Giá trị ước lượng ban đầu (O) |
Độ lệch chuẩn (STDEV) |
Giá trị t |
Giá trị p |
Ủng hộ giả thuyết |
|---|---|---|---|---|---|---|
|
Hệ số đường dẫn |
||||||
|
H1 |
CĐS -> NLĐM |
0.332 |
0.060 |
5.576 |
0.000 |
Chấp nhận |
|
H2 |
CĐS -> KQHĐ |
0.556 |
0.066 |
8.366 |
0.000 |
Chấp nhận |
|
H3 |
NLĐM -> KQHĐ |
0.561 |
0.055 |
10.129 |
0.000 |
Chấp nhận |
|
Hiệu ứng gián tiếp cụ thể (trung gian) |
||||||
|
H4 |
CĐS -> NLĐM -> KQHĐ |
0.312 |
0.050 |
6.305 |
0.000 |
Chấp nhận |
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu của tác giả, 2026
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa CĐS, Năng lực đổi mới và Kết quả hoạt động trong bối cảnh các trường đại học công lập tại Việt Nam. Kết quả không chỉ khẳng định tác động tích cực trực tiếp của CĐS đến Kết quả hoạt động, mà còn làm rõ vai trò trung gian của Năng lực đổi mới trong việc chuyển hóa các nguồn lực số thành hiệu quả thực tiễn. Qua đó, nghiên cứu góp phần mở rộng ứng dụng của lý thuyết nguồn lực (RBV) và tiếp cận năng lực động trong lĩnh vực giáo dục đại học, đặc biệt tại các nền kinh tế mới nổi.
Từ góc độ quản trị, kết quả nghiên cứu cho thấy các trường đại học công lập cần tiếp cận CĐS theo hướng toàn diện, không chỉ dừng lại ở đầu tư công nghệ mà còn gắn với phát triển năng lực đổi mới tổ chức. Cụ thể, các nhà quản lý cần xây dựng môi trường khuyến khích sáng tạo, thúc đẩy chia sẻ tri thức và tăng cường khả năng thích ứng của đội ngũ giảng viên và nhân sự. Đồng thời, việc tích hợp công nghệ với cải tiến quy trình và phương pháp giảng dạy sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, hiệu quả vận hành và năng lực cạnh tranh của nhà trường.
Tài liệu tham khảo:
1. Abad-Segura, E., González-Zamar, M. D., Infante-Moro, J. C., & Ruipérez García, G. (2020). Sustainable management of digital transformation in higher education: Global research trends. Sustainability, 12(5), 2107. https://doi.org/10.3390/su12052107
2. Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of management, 17(1), 99-120.
3. Brislin, R. W. (1970). Back-translation for cross-cultural research. Journal of cross-cultural psychology, 1(3), 185-216.
4. Henseler, J., Ringle, C. M., & Sarstedt, M. (2015). A new criterion for assessing discriminant validity in variance-based structural equation modeling. Journal of the Academy of Marketing Science, 43(1), 115-135. https://link.springer.com/article/10.1007/s11747-014-0403-8
5. Iddris, F. (2016). Innovation capability: A systematic review and research agenda. Interdisciplinary Journal of Information, Knowledge, and Management, 11, 235-260.
6. Li, H., Wu, Y., Cao, D., & Wang, Y. (2021). Organizational mindfulness towards digital transformation as a prerequisite of information processing capability to achieve market agility. Journal of Business Research, 122, 700-712. https://doi.org/10.1016/j.jbusres.2019.10.036
7. Monferrer, D., Blesa, A., & Ripollés, M. (2015). Born globals through knowledge-based dynamic capabilities and network market orientation. BRQ Business Research Quarterly, 18(1), 18-36.
8. Hair, J. F., Risher, J. J., Sarstedt, M., & Ringle, C. M. (2019). When to use and how to report the results of PLS-SEM. European business review, 31(1), 2-24. https://doi.org/10.1108/EBR-11-2018-0203
9. Singh, A., Klarner, P., & Hess, T. (2020). How do chief digital officers pursue digital transformation activities? The role of organization design parameters. Long Range Planning, 53(3), 101890. https://doi.org/10.1016/j.lrp.2019.07.001
10. Vial, G. (2019). Understanding digital transformation: A review and a research agenda. The Journal of Strategic Information Systems, 28(2), 118-144. https://doi.org/10.1016/j.jsis.2019.01.003
11. Xu, Y., Ji, J., Qiao, Y., & Huang, J. (2025). How and when does digital transformation promote technological innovation performance? A study of Chinese high-tech firms. Technovation, 146, 103294. https://doi.org/10.1016/j.technovation.2025.103294
| Ngày nhận bài: 20/3/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 27/4/2026; Ngày duyệt đăng: 14/5/2026 |
Các tin khác
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng AI của sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh
Nâng cao khả năng giải quyết vấn đề và sáng tạo của sinh viên thông qua các công cụ AI: Phân tích trắc lượng thư mục sử dụng cơ sở dữ liệu Scopus
Ảnh hưởng của hành vi mua sắm tìm kiếm đến sự gắn kết của khách hàng trong xu hướng bán lẻ hợp kênh tại TP. Hồ Chí Minh
Tiếp cận du lịch sinh thái theo định hướng kinh tế tuần hoàn tại vườn quốc gia Yok Đôn từ lý thuyết tái sản xuất của C. Mác
Đề xuất mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi số đến hiệu quả quản trị nguồn nhân lực tại các trường đại học trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh
Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Đông Nam Bộ trong bối cảnh chuyển đổi số: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách
Nghiên cứu tác động của thực hành quản trị nhân sự xanh đến hiệu quả môi trường: Vai trò trung gian của hành vi công dân tổ chức hướng về môi trường
Chuyển đổi số trong các trường đại học công lập: Thực trạng và giải pháp
Từ tập trung định chế đến khơi thông nguồn vốn qua trung tâm tài chính quốc tế: Hàm ý cho Việt Nam