Hàm ý chính sách phát triển kinh tế tại Đồng bằng sông Cửu Long: Trường hợp ngành chế biến thủy sản
PGS.TS. Phước Minh Hiệp
Trưởng Khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng
Email: [email protected]
TS. Chu Bảo Hiệp
Viện Kinh tế - Chính trị quốc tế, Trường Đại học Tài chính - Marketing
Email: [email protected]
Tóm tắt
Bên cạnh sự biến động khó lường về kinh tế, chính trị, xã hội… trên thế giới, lĩnh vực thủy sản, cụ thể là ngành chế biến thủy sản tại Đồng bằng sông Cửu Long, hiện đang đối mặt với nhiều rủi ro lớn từ biến đổi khí hậu, đặc biệt là tình trạng xâm nhập mặn, sụt lún, thay đổi thủy văn, môi trường nước thiếu phù sa do khai thác bừa bãi và phát triển các đập thủy điện thượng nguồn, giảm lượng trầm tích về vùng hạ lưu, làm kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp bị suy giảm. Với mục tiêu đưa ra các hàm ý chính sách phát triển kinh tế hiệu quả của vùng Đồng bằng sông Cửu Long cải thiện tốt kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp chế biến thủy sản trong bối cảnh hiện nay, nghiên cứu đo lường tác động của các nhân tố thuộc Năng lực động: Năng lực sáng tạo, Năng lực hợp tác, Lãnh đạo định hướng tri thức, Năng lực thích nghi, Năng lực tiếp thu, tác động trực tiếp thuận chiều đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp chế biến thủy sản tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Từ khoá: Năng lực đổi mới, kết quả kinh doanh, Đồng bằng sông Cửu Long
Summary
In addition to unpredictable global economic, political, and social fluctuations, the fisheries sector, particularly the seafood processing industry in the Mekong Delta, faces substantial risks arising from climate change. These include salinity intrusion, land subsidence, hydrological alterations, and water environmental degradation caused by sediment depletion due to unsustainable exploitation and the development of upstream hydropower dams, which reduce sediment flows to downstream areas. These challenges have adversely affected the business performance of seafood processing enterprises.
With the aim of providing policy implications for effective economic development in the Mekong Delta to improve the business performance of seafood processing firms in the current context, the study examines the impacts of dynamic capability factors, including innovation capability, collaboration capability, knowledge-oriented leadership, adaptive capability, and absorptive capacity. The results indicate that these dynamic capabilities have a direct and positive effect on the business performance of seafood processing enterprises in the Mekong Delta.
Keywords: Innovation capability, business performance, Mekong Delta
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi và tăng trưởng theo các mục tiêu quốc gia, trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp và khó lường. An ninh năng lượng, an ninh lương thực và an ninh mạng đang đối mặt với nhiều thách thức; trong khi các yếu tố nền tảng như thể chế, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, khoa học và công nghệ tuy đã được cải thiện nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Cùng với đó, các hiện tượng thiên tai như hạn hán, xâm nhập mặn, bão lũ, biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng tại nhiều địa phương, qua đó tác động toàn diện đến quá trình phát triển kinh tế, đặc biệt là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Bối cảnh chung nêu trên đã tác động đáng kể đến năng lực cạnh tranh cũng như kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc ngành Chế biến thủy sản tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Do đó, việc tiến hành các nghiên cứu chuyên sâu và đề xuất các chính sách, giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của nhóm doanh nghiệp này là hết sức cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Lý thuyết dựa vào nguồn lực (resource base view - RBV)
Lý thuyết quan điểm dựa trên nguồn lực khẳng định rằng nguồn lực của chính doanh nghiệp (DN) thực sự giúp DN đó khai thác các cơ hội và vô hiệu hóa các mối đe dọa (David & David, 2017). Tiền đề cơ bản của RBV là sự kết hợp số lượng và bản chất của các nguồn lực nội bộ của DN và cần được xem xét trước hết trong việc đưa ra các chiến lược tạo lợi thế cạnh tranh bền vững (David & David, 2017).
Tiếp cận theo năng lực động
Năng lực động là một nguồn lực đặc biệt và cũng là một loại năng lực. Vì vậy, năng lực động là nền tảng tạo ra lợi thế cạnh tranh và kết quả kinh doanh (KQKD) cho DN theo mô hình VRIN (giá trị, hiếm có, khó thay thế, khó bắt chước) của Barney (1991). Khi xác định được năng lực động, DN sẽ sử dụng nguồn lực hiệu quả, cải thiện được sản xuất, KQKD, phát triển của khoa học công nghệ và thích nghi đáp ứng sự biến động của môi trường.
Qua khảo lược các lý thuyết, thành phần Năng lực động tác động vào KQKD của DN chế biến thuỷ sản vùng ĐBSCL gồm có: Năng lực tiếp thu; Năng lực sáng tạo; Năng lực hợp tác; Năng lực thích nghi; Lãnh đạo định hướng tri thức và Năng lực đổi mới theo các giả thuyết:
H1: Năng lực sáng tạo có tác động cùng chiều tích cực vào KQKD.
H2: Năng lực sáng tạo có tác động cùng chiều tích cực vào năng lực đổi mới.
H3: Năng lực hợp tác có tác động cùng chiều tích cực vào KQKD.
H4: Năng lực hợp tác có tác động cùng chiều tích cực vào năng lực đổi mới.
H5: Lãnh đạo định hướng tri thức có tác động cùng chiều tích cực vào năng lực đổi mới.
H6: Lãnh đạo định hướng tri thức có tác động cùng chiều tích cực vào KQKD.
H7: Năng lực thích nghi có tác động cùng chiều tích cực vào năng lực đổi mới.
H8: Năng lực thích nghi có tác động cùng chiều tích cực vào KQKD.
H9: Năng lực tiếp thu có tác động cùng chiều tích cực vào năng lực đổi mới.
H10: Năng lực tiếp thu có tác động cùng chiều tích cực vào KQKD.
H11: Năng lực đổi mới có tác động cùng chiều tích cực vào KQKD.
Hình: Mô hình đề xuất nghiên cứu
![]() |
Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả
Kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu từ khảo sát 580 Tổng giám đốc/ Giám đốc của các DN chế biến thủy sản tại các khu vực đại diện vùng ĐBSCL: Trà Vinh -Vĩnh Long, An Giang - Kiên Giang, Cần Thơ - Hậu Giang, Bạc Liêu - Cà Mau, có nhiều DN chế biến thuỷ sản tập trung, điển hình về môi trường thủy sản và tăng trưởng kinh tế của vùng ĐBSCL.
Qua kiểm định CFA: TLI = 0.980; CFI= 0.983; GFI= 0.936; RMSEA = 0.031 < 0,05; CMIN/df = 1.513< 5, kết quả đạt yêu cầu mô hình đo lường phù hợp với dữ liệu thực tế.
Những giá trị của CR > 0.7: độ tin cậy thang đo được đảm bảo; Tất cả giá trị AVE > 0.5: tính hội tụ được đảm bảo; Tất cả giá trị của MSV < AVE, các giá trị SQRTAVE đều lớn hơn tất cả các tương quan giữa các cấu trúc.
Bảng 1: Tính chính xác của cấu trúc SEM
|
| CR | AVE | MSV | SQRTAVE | MaxR(H) | PER | INNO | CRE | COOP | KOL | ADAP | ABS |
| PER | 0,914 | 0,679 | 0,183 | 0,824 | 0,915 | 0,824 |
|
|
|
|
|
|
| IINNO | 0,927 | 0,717 | 0,183 | 0,847 | 0,927 | 0,427 | 0,846 |
|
|
|
|
|
| CRE | 0,916 | 0,731 | 0,301 | 0,855 | 0,92 | 0,364 | 0,349 | 0,855 |
|
|
|
|
| COOP | 0,901 | 0,694 | 0,144 | 0,833 | 0,902 | 0,308 | 0,284 | 0,380 | 0,833 |
|
|
|
| KOL | 0,909 | 0,713 | 0,301 | 0,844 | 0,909 | 0,403 | 0,404 | 0,549 | 0,348 | 0,845 |
|
|
| ADAP | 0,903 | 0,757 | 0,108 | 0,870 | 0,904 | 0,282 | 0,299 | 0,284 | 0,172 | 0,328 | 0,87 |
|
| ABS | 0,872 | 0,633 | 0,183 | 0,796 | 0,884 | 0,305 | 0,289 | 0,280 | 0,262 | 0,428 | 0,232 | 0,796 |
Nguồn: Nhóm tác giả tính toán
Bảng 2: Kết quả kiểm định
| Giả thuyết | Tương quan | Estimate Ước lượng | S.E. | C.R. | P | Kết luận |
|---|---|---|---|---|---|---|
| H1 | PER ß CRE | 0,118 | 0,057 | 2,068 | 0,039 | Chấp nhận |
| H2 | INNO ß CRE | 0,132 | 0,059 | 2,253 | 0,024 | Chấp nhận |
| H3 | PER ß COOP | 0,157 | 0,069 | 2,278 | 0,023 | Chấp nhận |
| H4 | INNO ß COOP | 0,167 | 0,071 | 2,369 | 0,018 | Chấp nhận |
| H5 | INNO ß KOL | 0,295 | 0,085 | 3,475 | 0,000 | Chấp nhận |
| H6 | PER ß KOL | 0,191 | 0,083 | 2,305 | 0,021 | Chấp nhận |
| H7 | INNO ß ADAP | 0,207 | 0,062 | 3,321 | 0,000 | Chấp nhận |
| H8 | PER ß ADAP | 0,123 | 0,061 | 2,017 | 0,044 | Chấp nhận |
| H9 | INNO ß ABS | 0,138 | 0,067 | 2,067 | 0,039 | Chấp nhận |
| H10 | PER ß ABS | 0,128 | 0,065 | 1,976 | 0,048 | Chấp nhận |
| H11 | PER ß INNO | 0,247 | 0,048 | 5,131 | 0,000 | Chấp nhận |
Nguồn: Nhóm tác giả tính toán
Từ kết quả kiểm định SEM, các giá trị P đều nhỏ hơn 0,05: chấp nhận các giả thuyết: H1, H2, H3, H4, H5, H6, H7, H8, H9, H10, H11.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả giả thuyết liên quan các thành phần năng lực động: Năng lực tiếp thu; Năng lực sáng tạo; Năng lực hợp tác; Năng lực thích nghi; Lãnh đạo định hướng tri thức và Năng lực đổi mới đều được chấp nhận. Từ đó, nhóm tác giả đưa ra các hàm ý chính sách phát triển ĐBSCL, cụ thể ngành Chế biến thủy sản, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững của DN, cải thiện KQKD trong bối cảnh hiện nay.
HÀM Ý CHÍNH SÁCH
Hàm ý chính sách dựa vào kết quả kiểm định giả thuyết về tác động của năng lực sáng tạo vào kết quả kinh doanh
Theo kết quả đo lường giả thuyết (H1), nhân tố năng lực sáng tạo có ảnh hưởng tích cực và làm tăng KQKD. Các cơ quan ban hành chính sách cần tập trung vào năng lực sáng tạo, hỗ trợ các DN: Thay đổi quan điểm về an ninh lương thực để thay đổi tầm nhìn, sáng tạo về kinh tế vùng ĐBSCL. Việc sáng tạo, áp dụng quan điểm “an ninh lương thực” mới sẽ hỗ trợ các địa phương chỉ giữ một diện tích đất lúa vừa đủ cho tiêu dùng nội địa và dự trữ/xuất khẩu ở một tỷ lệ nhất định, sau đó có thể chuyển đổi mục đích một cách linh hoạt cho các hoạt động nông nghiệp có năng suất và giá trị cao hơn như chế biến thuỷ sản, dịch vụ thuỷ sản sinh thái, tái cơ cấu nông nghiệp và phát triển kinh tế ĐBSCL gắn kết với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, từ đó tạo ra hướng đi và động lực sáng tạo mới cho các DN chế biến thuỷ sản.
Hàm ý dựa theo kết quả kiểm định giả thuyết về tác động của năng lực sáng tạo đến năng lực đổi mới
Theo kết quả đo lường giả thuyết về ảnh hưởng của năng lực sáng tạo vào năng lực đổi mới (H2), nhân tố này tác động cùng chiều vào năng lực đổi mới với mức độ tác động là 0,132. Các hàm ý chính sách được đề xuất như sau: Cần giảm bớt thâm canh lúa. Việc giảm diện tích trồng lúa sẽ tạo điều kiện cho ĐBSCL hình thành các cụm công nghiệp chế biến thuỷ sản cùng các nông sản khác, xây dựng mới các vùng chuyên canh mới như chuyên canh nuôi trồng thuỷ sản phục vụ chế biến thuỷ sản ở cấp độ quy mô lớn, sáng tạo cao, cơ sở hạ tầng đổi mới, hiện đại, phù hợp biến động khí hậu, tiến tới mở rộng các mô hình nuôi trồng thủy sản kết hợp trồng rừng.
Hàm ý dựa vào kết quả kiểm định giả thuyết về tác động của năng lực hợp tác đến kết quả kinh doanh
Kết quả đo lường của giả thuyết (H3): nhân tố năng lực hợp tác có ảnh hưởng cùng chiều và làm gia tăng KQKD. Chính sách cần tập trung vào năng lực hợp tác theo hướng khoa học, công nghệ cao, cần chú trọng hoàn thiện cơ chế về logistics và hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông ở vùng ĐBSCL, tạo chi phí vận tải và logistics thấp, có tính cạnh tranh, và thuận lợi trong hợp tác, kết nối giữa các DN chế biến thuỷ sản vùng ĐBSCL với các thị trường trong và ngoài nước. Hạ tầng chế biến thủy sản cho các DN cần đặt tại các vùng ít chịu ảnh hưởng ngập mặn/ xâm nhập mặn, có giải pháp chống mặn/thích ứng môi trường; Hệ thống kho lạnh và chuỗi cung ứng cần có nguồn điện ổn định, năng lực dự phòng do biến đổi khí hậu làm tăng rủi ro thiên tai, cắt điện, ngập úng; Hỗ trợ đào tạo, vốn cho doanh nghiệp, khuyến khích mô hình “chế biến thủy sản xanh”. Từ đó, ngành thuỷ sản của vùng ĐBSCL mới có sức hút với các DN lớn, mạnh đến hợp tác, liên kết và đầu tư.
Hàm ý dựa trên kết quả kiểm định giả thuyết về tác động của năng lực hợp tác đến năng lực đổi mới
Dựa theo kết quả đánh giá giả thuyết (H4), năng lực hợp tác tác động thuận chiều nhân tố năng lực đổi mới. Các chính sách nên tập trung liên kết giữa các tỉnh, liên ngành (nông nghiệp, tài nguyên môi trường, thủy lợi, kinh tế biển…) để quản lý vùng ven biển - cửa sông - vùng nuôi, nhờ đó đổi mới cơ cấu kinh tế ĐBSCL trong đó có nghành chế thuỷ sản theo hướng ngày một hiện đại với giá trị gia tăng cao hơn.
Hàm ý dựa trên kết quả kiểm định giả thuyết về tác động của lãnh đạo định hướng tri thức vào năng lực đổi mới
Kết quả đo lường giả thuyết (H5) cho thấy, nhân tố lãnh đạo định hướng tri thức có tác động thuận chiều và làm tăng năng lực đổi mới. Vì vậy các chính sách cần tạo điều kiện thuận lợi cho Hội đồng quản trị, Ban giám đốc của các DN tập trung vào lãnh đạo định hướng tri thức, tạo năng lực đổi mới của DN. Chiến lược phát triển nông nghiệp cũng như ngành thuỷ sản của ĐBSCL cần có sự thay đổi toàn diện về tầm nhìn, thể chế, khoa học - công nghệ và cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh chuyển đổi số trong thương mại: xúc tiến xuất khẩu trực tuyến, thương mại điện tử cho sản phẩm chế biến. Đáp ứng yêu cầu này đòi hỏi chính sách cần hỗ trợ nguồn nhân lực cấp quản trị, quản lý của các DN thuỷ sản vùng ĐBSCL, được nâng tầm tri thức nhằm định hướng và điều hành DN thích nghi, đáp ứng kịp thời với những thay đổi mới, được chính quyền các cấp tổ chức các chương trình tập huấn nâng cao các kỹ năng, khuyến nông về đào tạo, áp dụng công nghệ thông tin, giám sát môi trường nước (như độ mặn, nhiệt độ, oxy), ứng dụng dữ liệu lớn (big data), Internet vạn vật (IoT) để ra quyết định tối ưu, kịp thời.
Hàm ý dựa trên kết quả kiểm định giả thuyết về tác động của lãnh đạo định hướng tri thức vào kết quả kinh doanh
Từ kết quả đánh giá giả thuyết (H6), nhân tố lãnh đạo định hướng tri thức có ảnh hưởng cùng chiều và cải thiện KQKD. Vì vậy, chính sách cần được chú trọng theo hướng: nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của ĐBSCL về kỹ năng, thái độ, kiến thức, trong đó hệ thống các trường phổ thông và các trường dạy nghề giữ vai trò chủ chốt, góp phần giữ chân lao động ở lại ĐBSCL và thu hút thêm các dự án đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội và KQKD của các DN, thúc đẩy hợp tác quốc tế và học hỏi mô hình từ các vùng đồng bằng khác.
Hàm ý dựa trên kết quả kiểm định giả thuyết về tác động của năng lực thích nghi vào năng lực đổi mới
Đánh giá giả thuyết (H7), nhân tố năng lực thích nghi có ảnh hưởng thuận chiều tích cực với năng lực đổi mới. Các nhà ban hành chính sách cần tập trung vào năng lực thích nghi với thay đổi khí hậu của DN. Chính sách ưu tiên đầu tư vào các hạng mục chính của ĐBSCL như hệ thống thủy lợi, đê bao giữ ngọt, ngăn mặn, phục hồi và bảo vệ rừng ngập mặn, bãi bùn ven biển và cửa sông, giúp giảm xói lở bờ biển, giảm sóng/ triều cường và tạo môi trường sinh thái thủy sản; Tăng cường chính sách đào tạo, nâng cao nhận thức cho nông dân, DN về thích ứng biến đổi khí hậu, quản lý môi trường và tạo chuỗi giá trị thủy sản. Yếu tố năng lực thích nghi nên được xem là một mắt xích quan trọng trong sự đổi mới của chính sách “Chuyển đổi nông nghiệp”, giải phóng sức sống của khu vực nông nghiệp, ngành chế biến thuỷ sản trước tình trạng suy thoái môi trường, biến đổi khí khí hậu để tạo năng lực cạnh tranh của các DN vùng ĐBSCL.
Hàm ý dựa trên kết quả kiểm định giả thuyết về tác động của năng lực thích nghi vào kết quả kinh doanh
Đánh giá giả thuyết (H8) cho kết quả: nhân tố năng lực thích nghi có ảnh hưởng thuận chiều làm tăng KQKD. Vì vậy, các chính sách cần phải phù hợp chung với quy hoạch của vùng, các địa phương; cần định hình lại mô hình phát triển, chú trọng hỗ trợ các DN thích nghi bối cảnh mới chịu tác động từ thay đổi khí hậu, từ các đập thủy điện thượng nguồn sông Mekong.
Hàm ý dựa trên kết quả kiểm định giả thuyết về tác động của năng lực tiếp thu vào năng lực đổi mới
Kết quả đo lường giả thuyết (H9): nhân tố năng lực tiếp thu có ảnh hưởng thuận chiều và làm tăng năng lực đổi mới. Từ kết quả này, các chính sách cần tập trung, quan tâm sâu sắc về xã hội ở ĐBSCL: tình trạng nghèo đa chiều, thiếu việc làm, thu nhập thấp do hạn chế trình độ, kỹ năng và kiến thức trong độ tuổi lao động ở khu vực nông thôn để hỗ trợ tài chính cho nông dân, bảo hiểm thủy sản, hỗ trợ giống và kỹ thuật cho các hộ nuôi trồng thủy sản chịu rủi ro biến đổi khí hậu để tránh sự dịch chuyển lao động làm mất cân đối nguồn lực sản xuất của vùng. Vấn đề này liên quan nhiều đến năng lực tiếp thu của vùng và DN trong quá trình tiếp nhận các công nghệ mới, chế biến đa dạng sản phẩm có giá trị gia tăng, tiếp nhận các dự án đầu tư, tạo nguồn lực mới để phát triển thị trường xuất khẩu theo hướng “xanh, sạch”.
Hàm ý dựa trên kết quả kiểm định giả thuyết về tác động của năng lực tiếp thu vào kết quả kinh doanh
Theo đánh giá giả thuyết (H10), nhân tố năng lực tiếp thu có ảnh hưởng thuận chiều và làm tăng KQKD. Do đó, các chính sách, chủ trương của Chính phủ như Nghị quyết 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu, và Quy hoạch tích hợp ĐBSCL giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 cần được triển khai, hướng dẫn thực hiện cụ thể cho các DN được tiếp cận các thông tin quy hoạch, chức năng và lợi thế của Vùng, để phát huy năng lực tiếp thu, áp dụng quy trình sản xuất “xanh”, tiết giảm năng lượng, sử dụng vật liệu thân thiện, xử lý nước thải và khí thải hiệu quả, giảm tổn hại môi trường, đảm bảo truy xuất nguồn gốc và chứng nhận quốc tế (HACCP, BAP, GLOBAL GAP) để đáp ứng yêu cầu thị trường xuất khẩu, cải thiện KQKD, góp phát triển kinh tế xanh trong chế biến thủy sản tại ĐBSCL.
Hàm ý dựa trên kết quả kiểm định giả thuyết về tác động của năng lực đổi mới vào kết quả kinh doanh
Kết quả đo lường giả thuyết (H11) xác định nhân tố năng lực đổi mới có ảnh hưởng thuận chiều đối với KQKD. Theo kết quả này, các chính sách nên được tiếp tục nghiên cứu, thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP về “Phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu”, giúp ĐBSCL và các DN phát triển trên cơ sở tôn trọng quy luật “thuận thiên”, nuôi trồng/ chế biến thủy sản trong mô hình tuần hoàn/ hệ thống kín và bán kín: hạn chế rủi ro từ biến đổi môi trường, chủ động thích nghi với lũ, xâm nhập mặn, tiến tới xây dựng mô hình nuôi - trồng “vùng chuyển đổi” (transition zones) giữa ngọt - lợ - mặn, đổi mới mô hình từ “lúa gạo - thủy sản - trái cây sang thủy sản - trái cây - lúa gạo”, định hướng “chế biến xanh, tuần hoàn” và “xuất khẩu xanh”.
Hàm ý chính sách về sự khác biệt từ tác động của các nhân tố trong mô hình giữa các doanh nghiệp có loại hình doanh nghiệp khác nhau
Trên cơ sở kết quả kiểm định sự khác biệt giữa 4 nhóm doanh nghiệp có các loại hình khác nhau, các chính sách cần lưu ý sau:
Một là, củng cố và phát triển hiệu quả mối liên kết 4 nhà: nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà nông trong vùng ĐBSCL với những cơ chế hợp tác và liên kết tạo ra tiếng nói chung của cả “4 nhà”. Mối liên kết 4 nhóm này sẽ giúp tháo gỡ các vướng mắc về thể chế đang chi phối các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu mua và chế biến nông thuỷ sản, giải quyết vấn đề “giải cứu nông dân” ở ĐSBCL .
Hai là, ngân sách cần được phân bổ hợp lý, hiệu quả về đầu tư của Nhà nước đối với các loại hình tại ĐBSCL: DNnhà nước, DN cổ phần, DN tư nhân trong và ngoài nước…; Xây dựng cụm công nghiệp hỗ trợ; Xây dựng cơ sở hạ tầng, hệ thống xử lý môi trường, đặc biệt là giao thông của Vùng ĐBSCL, tạo điều kiện thuận lợi thu hút được nhiều dự án đầu tư của các nhóm DN, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
Ba là, các Bộ, Ngành trung ương cần quan tâm, khuyến khích nhiều hơn đối với chính quyền địa phương, DN và nông dân. Cơ chế khuyến khích cần phù hợp với từng loại nhóm DN chế biến thủy sản, gắn kết các mục tiêu chung của vùng ĐBSCL với các mục tiêu và chỉ tiêu cụ thể của các địa phương, của các thành phần DN.
Bốn là, quy hoạch tích hợp cho ngành thủy sản cần ưu tiên cao nhất có thể cho các thành phần kinh tế tư nhân và các loại hình DN đầu tư, phát triển nuôi trồng, chế biến thủy sản, đảm bảo nguyên tắc nâng cao giá trị kinh tế và bảo vệ môi trường; chú trọng tăng giá trị trong nuôi trồng, chế biến thủy sản theo mô hình chuỗi giá trị khép kín: DN có vùng nuôi riêng hoặc liên kết vùng nuôi đạt chuẩn (BAP, ASC, GlobalGAP), chuyển đổi theo hướng “kinh tế xanh: giảm phát thải, dùng năng lượng sạch - tuần hoàn: tận dụng phụ phẩm, tái chế nước và năng lượng - thông minh: ứng dụng công nghệ số, dự báo môi trường, quản lý chuỗi giá trị.”
KẾT LUẬN
Sự phát triển kinh tế và tạo năng lực cạnh tranh cho ngành thuỷ sản nói chung, ngành chế biến thủy sản nói riêng tại vùng ĐBSCL có tiềm năng lớn nhưng đang chịu tác động lớn từ biến đổi khí hậu cùng sự chuyển động khó lường, phức tạp từ các yếu tố bên ngoài, rất cần thiết phải có hệ thống chính sách đồng bộ về chế độ sở hữu đất, vai trò liên kết giữa nhà nước - hiệp hội - DN - nông dân, cơ chế quản lý vùng, cụm ngành, chuỗi giá trị v.v… Từ đó tạo ra các động lực tăng năng suất và giá trị thủy sản một cách bền vững cùng những thay đổi, sáng tạo khoa học - kỹ thuật như cơ giới hóa, chuyển đổi số, sản xuất thông minh, nông nghiệp xanh, kinh tế xanh, tuần hoàn,…
Các hàm ý chính sách của nghiên cứu phần nào sẽ hỗ trợ xây dựng thể chế, hệ thống chính sách hiệu quả hơn, hiện đại hóa công nghiệp chế biến thuỷ sản, ổn định sinh kế cho nông dân, tăng năng lực cạnh tranh và KQKD cho các DN trong và ngoài ngành thuỷ sản, định hướng phát triển nền kinh tế thị trường nông nghiệp bền vững, “thuận thiên, thuận tự nhiên”, đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trường có tính cân bằng và hài hòa tại vùng ĐBSCL.
Tài liệu tham khảo:
1. Barney, J. B. (1991). Firm Resources and Sustained Competitive Advantage. Journal of Management, 17(1), 99-120.
2. Bykova, A., & Jardon, C. M. (2018). The mediation role of companies’ dynamic capabilities for business performance excellence: Insights from foreign direct investments. the case of transitional partnership. Knowledge Management Reand Practice, 16(1), 144-159. https://doi.org/10.1080/14778238.2018.1428070.
3. David, F. r., & David, F. r. (2017). Strategic management concepts and Cases: A competitive advantage approach. In Fortune. Pearson education.
4. Nguyễn Ngọc Thắng (2011). Quản trị dựa vào tri thức: Kinh nghiệm từ Nhật Bản, Tạp Chí Khoa Học ĐHQGHN, Kinh Tế và Kinh Doanh, 27, 179-185.
5. Spulber, D. F. (2009). The theory of the firm: microeconomics with endogenous entrepreneurs, firms, markets, and organizations. Cambridge University Press.
| Ngày nhận bài: 18/11/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 24/12/2025 ; Ngày duyệt đăng: 27/12/2025 |
Các tin khác
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng AI của sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh
Nâng cao khả năng giải quyết vấn đề và sáng tạo của sinh viên thông qua các công cụ AI: Phân tích trắc lượng thư mục sử dụng cơ sở dữ liệu Scopus
Ảnh hưởng của hành vi mua sắm tìm kiếm đến sự gắn kết của khách hàng trong xu hướng bán lẻ hợp kênh tại TP. Hồ Chí Minh
Tiếp cận du lịch sinh thái theo định hướng kinh tế tuần hoàn tại vườn quốc gia Yok Đôn từ lý thuyết tái sản xuất của C. Mác
Đề xuất mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi số đến hiệu quả quản trị nguồn nhân lực tại các trường đại học trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh
Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Đông Nam Bộ trong bối cảnh chuyển đổi số: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách
Nghiên cứu tác động của thực hành quản trị nhân sự xanh đến hiệu quả môi trường: Vai trò trung gian của hành vi công dân tổ chức hướng về môi trường
Chuyển đổi số trong các trường đại học công lập: Thực trạng và giải pháp
Từ tập trung định chế đến khơi thông nguồn vốn qua trung tâm tài chính quốc tế: Hàm ý cho Việt Nam
