Đề xuất mô hình nghiên cứu ý định mua ô tô điện của người tiêu dùng Việt Nam: Tiếp cận tích hợp TPB, TAM và các điều kiện thị trường

Nghiên cứu - Trao đổi 11:11 | 08/09/2026
Chuyển đổi sang xe điện là một cấu phần quan trọng của chiến lược giảm phát thải trong giao thông. Năm 2025, doanh số ô tô điện tại Đông Nam Á tăng hơn gấp đôi so với năm trước; Việt Nam trở thành thị trường lớn nhất khu vực, với gần 40% xe mới bán ra là xe điện.

ThS. Nguyễn Trọng Việt

Trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung

Email: viet@viu.edu.vn

Tóm tắt

Thị trường ô tô điện Việt Nam đang tăng trưởng nhanh trong bối cảnh chuyển đổi năng lượng xanh và các chính sách hỗ trợ. Bài viết tổng hợp các nghiên cứu quốc tế và Việt Nam nhằm đề xuất mô hình giải thích ý định mua ô tô điện của người tiêu dùng Việt Nam. Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) được sử dụng làm khung nền, kết hợp với Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) và các nghiên cứu về động lực, rào cản chấp nhận ô tô điện. Mô hình đề xuất gồm các tiền tố về nhận thức môi trường, hữu ích và hiệu năng, giá trị kinh tế, rủi ro, hạ tầng sạc, chính sách hỗ trợ và tính đổi mới cá nhân; các cơ chế gồm thái độ, chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi cảm nhận; biến kết quả là ý định mua ô tô điện. Trên cơ sở đó, bài viết xây dựng hệ giả thuyết và thang đo phù hợp với bối cảnh Việt Nam, làm nền tảng cho các nghiên cứu định lượng tiếp theo.

Từ khóa: Ô tô điện, ý định mua, người tiêu dùng Việt Nam, TPB, TAM, hạ tầng sạc, chính sách hỗ trợ.

Abstract

Vietnam’s electric vehicle market is growing rapidly amid the transition toward green energy and supportive policies. This article synthesizes international and Vietnamese studies to propose a model explaining Vietnamese consumers’ intention to purchase electric vehicles. The Theory of Planned Behavior (TPB) serves as the foundational framework, complemented by the Technology Acceptance Model (TAM) and research on the drivers and barriers to electric vehicle adoption. The proposed model incorporates antecedents related to environmental awareness, perceived usefulness and performance, perceived economic value, perceived risk, charging infrastructure, perceived policy support, and personal innovativeness. The proximal mechanisms comprise attitude, subjective norm, and perceived behavioral control, while electric vehicle purchase intention is specified as the outcome variable. Based on this framework, the article develops a set of research hypotheses and measurement scales tailored to the Vietnamese context, providing a foundation for subsequent quantitative studies.

Keywords: Electric vehicles, purchase intention, Vietnamese consumers, TPB, TAM, charging infrastructure, policy support.

GIỚI THIỆU

Chuyển đổi sang xe điện là một cấu phần quan trọng của chiến lược giảm phát thải trong giao thông. Năm 2025, doanh số ô tô điện tại Đông Nam Á tăng hơn gấp đôi so với năm trước; Việt Nam trở thành thị trường lớn nhất khu vực, với gần 40% xe mới bán ra là xe điện (IEA, 2026). Tại Việt Nam, định hướng chuyển đổi năng lượng xanh trong giao thông được xác lập tại Quyết định số 876/QĐ-TTg (Thủ tướng Chính phủ, 2022), đồng thời lệ phí trước bạ lần đầu 0% đối với ô tô điện chạy pin được kéo dài đến hết năm 2030 (Báo Điện tử Chính phủ, 2026).

Ý định mua ô tô điện chịu ảnh hưởng của đặc điểm người tiêu dùng, sản phẩm và điều kiện thị trường (Ivanova & Moreira, 2023), trong khi chi phí, rủi ro công nghệ và hạ tầng sạc vẫn là những rào cản đáng chú ý (Coffman và cộng sự, 2017; Pamidimukkala và cộng sự, 2024). Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng ghi nhận vai trò của yếu tố môi trường, kinh tế, công nghệ, chính sách và xã hội (Pham và cộng sự, 2022; Tran, 2025; Nguyen và cộng sự, 2025). Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất mô hình tích hợp, hệ giả thuyết và thang đo về ý định mua ô tô điện của người tiêu dùng Việt Nam.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Ý định mua ô tô điện

Ý định mua ô tô điện phản ánh mức độ sẵn sàng và dự định của người tiêu dùng trong việc lựa chọn ô tô điện khi có nhu cầu mua phương tiện. Theo Lý thuyết hành vi có kế hoạch, ý định là tiền đề gần của hành vi và thể hiện mức độ cá nhân dự kiến thực hiện một hành vi cụ thể (Ajzen, 1991). Tuy nhiên, đối với ô tô điện, ý định mua không đồng nhất với hành vi mua thực tế do quyết định còn chịu ảnh hưởng của các rào cản như chi phí, hạ tầng sạc, phạm vi di chuyển và rủi ro công nghệ (Coffman và cộng sự, 2017; Pamidimukkala và cộng sự, 2024). Vì vậy, nghiên cứu này xác định ý định mua ô tô điện là biến kết quả, phản ánh khuynh hướng lựa chọn ô tô điện của người tiêu dùng trong tương lai.

Lý thuyết hành vi có kế hoạch

Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) giải thích ý định hành vi thông qua ba cấu phần: thái độ, chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi cảm nhận. Trong bối cảnh ô tô điện, thái độ thể hiện sự đánh giá tích cực hoặc tiêu cực đối với việc mua xe; chuẩn chủ quan phản ánh ảnh hưởng từ những người hoặc nhóm tham chiếu quan trọng; kiểm soát hành vi cảm nhận thể hiện mức độ người tiêu dùng nhận thấy mình có khả năng thực hiện việc mua và sử dụng ô tô điện. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy TPB và các mô hình mở rộng từ TPB có khả năng giải thích ý định mua ô tô điện trong nhiều bối cảnh, bao gồm Việt Nam (Dutta và Hwang, 2021; Pham và cộng sự, 2022; Tran, 2025). Đặc biệt, bằng chứng tổng hợp cho thấy thái độ có mối quan hệ đáng kể với ý định mua ô tô điện (Qiu và cộng sự, 2025). Vì vậy, TPB được sử dụng làm khung lý thuyết nền tảng của mô hình nghiên cứu đề xuất.

Mô hình chấp nhận công nghệ và tính đổi mới cá nhân

Ô tô điện vừa là phương tiện giao thông, vừa chứa đựng những đặc trưng của một sản phẩm công nghệ. Theo Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM), hữu ích cảm nhận là một niềm tin quan trọng hình thành sự chấp nhận công nghệ của người sử dụng (Davis, 1989). Trong bối cảnh ô tô điện, nhận thức về hữu ích và hiệu năng có thể gắn với khả năng đáp ứng nhu cầu di chuyển, hiệu quả vận hành và những lợi ích mà công nghệ mang lại. Các nghiên cứu về chấp nhận ô tô điện cũng cho thấy nhận thức về đặc tính và hiệu quả của sản phẩm có vai trò đối với đánh giá và ý định của người tiêu dùng (Wang và cộng sự, 2018). Bên cạnh đó, tính đổi mới cá nhân phản ánh khuynh hướng sẵn sàng tiếp nhận và trải nghiệm công nghệ mới. Moon (2021) và Tran (2025) cho thấy tính đổi mới có vai trò trong quá trình hình thành ý định đối với ô tô điện. Trên cơ sở đó, nghiên cứu xem hữu ích và hiệu năng cảm nhận cùng tính đổi mới cá nhân là các tiền tố của thái độ.

Rủi ro, giá trị kinh tế, hạ tầng và chính sách

Việc chấp nhận ô tô điện còn chịu ảnh hưởng của những đánh giá về lợi ích, rủi ro và điều kiện sử dụng. Người tiêu dùng có thể cân nhắc giá trị kinh tế của ô tô điện đồng thời với các lo ngại về pin, an toàn, chi phí, phạm vi di chuyển và khả năng tiếp cận hạ tầng sạc. Các nghiên cứu cho thấy rủi ro cảm nhận và những rào cản về công nghệ, chi phí và hạ tầng có vai trò đáng kể đối với quá trình chấp nhận ô tô điện (Egbue và Long, 2012; Coffman và cộng sự, 2017; Ivanova và Moreira, 2023; Pamidimukkala và cộng sự, 2024). Bên cạnh đó, hạ tầng sạc và các chính sách khuyến khích có liên quan đến khả năng chấp nhận xe điện (Narassimhan và Johnson, 2018). Trong mô hình đề xuất, giá trị kinh tế và rủi ro cảm nhận được xem là tiền tố của thái độ, trong khi điều kiện hạ tầng sạc và chính sách hỗ trợ cảm nhận được đặt là tiền tố của kiểm soát hành vi cảm nhận, qua đó kết nối các điều kiện đặc thù của ô tô điện với cấu trúc TPB

ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở TPB, mô hình nghiên cứu xác định thái độ, chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi cảm nhận là ba tiền tố trực tiếp của ý định mua ô tô điện (Ajzen, 1991). Để phản ánh đặc thù của quyết định mua ô tô điện, mô hình mở rộng TPB bằng các yếu tố về môi trường, công nghệ, kinh tế, rủi ro, hạ tầng và chính sách.

Theo đó, nhận thức môi trường, hữu ích và hiệu năng cảm nhận, giá trị kinh tế cảm nhận và tính đổi mới cá nhân được đề xuất có quan hệ tích cực với thái độ, trong khi rủi ro cảm nhận có quan hệ tiêu cực. Điều kiện hạ tầng sạc và chính sách hỗ trợ cảm nhận được đề xuất có quan hệ tích cực với kiểm soát hành vi cảm nhận. Cách tổ chức này phù hợp với bằng chứng về các động lực và rào cản trong chấp nhận ô tô điện (Ivanova và Moreira, 2023; Pamidimukkala và cộng sự, 2024). Các mối quan hệ được trình bày trong Hình 1 và cụ thể hóa thành các giả thuyết nghiên cứu.

Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Đề xuất mô hình nghiên cứu ý định mua ô tô điện của người tiêu dùng Việt Nam: Tiếp cận tích hợp TPB, TAM và các điều kiện thị trường

Nguồn: Đề xuất của tác giả

GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở TPB và mô hình nghiên cứu đề xuất, các giả thuyết tập trung vào hai nhóm quan hệ: các cấu phần TPB với ý định mua ô tô điện và các tiền tố hình thành thái độ, kiểm soát hành vi cảm nhận (Ajzen, 1991; Ivanova và Moreira, 2023). Cụ thể:

H1: Thái độ đối với ô tô điện có quan hệ tích cực với ý định mua ô tô điện;

H2: Chuẩn chủ quan có quan hệ tích cực với ý định mua ô tô điện;

H3: Kiểm soát hành vi cảm nhận có quan hệ tích cực với ý định mua ô tô điện;

H4: Nhận thức môi trường có quan hệ tích cực với thái độ đối với ô tô điện;

H5: Hữu ích và hiệu năng cảm nhận có quan hệ tích cực với thái độ đối với ô tô điện;

H6: Giá trị kinh tế cảm nhận có quan hệ tích cực với thái độ đối với ô tô điện;

H7: Rủi ro cảm nhận có quan hệ tiêu cực với thái độ đối với ô tô điện;

H8: Điều kiện hạ tầng sạc cảm nhận có quan hệ tích cực với kiểm soát hành vi cảm nhận;

H9: Chính sách hỗ trợ cảm nhận có quan hệ tích cực với kiểm soát hành vi cảm nhận;

H10: Tính đổi mới cá nhân có quan hệ tích cực với thái độ đối với ô tô điện.

THANG ĐO NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT

Thang đo các cấu trúc trong mô hình được kế thừa và điều chỉnh từ các nghiên cứu trước nhằm phù hợp với bối cảnh người tiêu dùng ô tô điện tại Việt Nam. Ý định mua, thái độ, chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi cảm nhận được phát triển trên cơ sở TPB và các nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực ô tô điện (Ajzen, 1991; Pham và cộng sự, 2022). Các thang đo về nhận thức môi trường, hữu ích và hiệu năng, giá trị kinh tế, rủi ro và tính đổi mới cá nhân được điều chỉnh từ các nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến chấp nhận ô tô điện (Wang và cộng sự, 2018; Moon, 2021; Ivanova và Moreira, 2023). Điều kiện hạ tầng sạc và chính sách hỗ trợ cảm nhận được đo lường dựa trên khả năng tiếp cận, tính thuận tiện và mức độ hỗ trợ mà người tiêu dùng cảm nhận (Narassimhan và Johnson, 2018; Pamidimukkala và cộng sự, 2024). Các biến được đo bằng thang Likert và cần được đánh giá độ tin cậy, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt trước khi kiểm định mô hình..

KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

Bài viết đề xuất một mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua ô tô điện của người tiêu dùng Việt Nam dựa trên TPB, TAM và bằng chứng về rào cản, động lực chấp nhận ô tô điện. Đóng góp chính của bài viết nằm ở việc sắp xếp các biến theo cơ chế: các niềm tin về môi trường, công nghệ, kinh tế, rủi ro, hạ tầng, chính sách và tính đổi mới không được xem như các tác nhân trực tiếp ngang hàng, mà được đặt vào các đường dẫn lý thuyết thông qua thái độ, chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi cảm nhận. Cách sắp xếp này giúp mô hình gọn, dễ kiểm định và phù hợp hơn với bản chất của quyết định mua ô tô điện.

Về hàm ý quản trị, nhà sản xuất và nhà phân phối cần truyền thông ô tô điện theo cả ba lớp giá trị: lợi ích môi trường, hiệu năng sử dụng và giá trị kinh tế. Nếu chỉ nhấn mạnh yếu tố xanh mà không xử lý lo ngại về pin, bảo dưỡng, giá trị bán lại và khả năng sạc, thái độ tích cực có thể không chuyển thành ý định mua. Về hàm ý chính sách, ưu đãi tài chính nên đi kèm minh bạch thông tin, tiêu chuẩn an toàn, mở rộng hạ tầng sạc và các cơ chế khiến người mua cảm thấy việc sử dụng ô tô điện trong đời sống hằng ngày là khả thi. Trong thị trường Việt Nam, chuẩn chủ quan và tác động nhóm tham chiếu cũng đáng chú ý: trải nghiệm của người dùng hiện tại, review đáng tin cậy và sự chấp nhận trong gia đình có thể ảnh hưởng đến tốc độ lan tỏa.

Các nghiên cứu tiếp theo cần kiểm định mô hình bằng dữ liệu khảo sát người tiêu dùng Việt Nam và phương pháp SEM hoặc PLS-SEM, đồng thời đánh giá độ tin cậy và giá trị của thang đo. Nghiên cứu cũng có thể xem xét sự khác biệt giữa các nhóm người tiêu dùng và mở rộng từ ý định mua sang hành vi mua thực tế.

Tài liệu tham khảo:

1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50, 179-211.

2. Báo Điện tử Chính phủ. (2026). Ô tô điện được áp dụng lệ phí trước bạ lần đầu 0% đến hết năm 2030.

3. Coffman, M., Bernstein, P., & Wee, S. (2017). Electric vehicles revisited: A review of factors that affect adoption. Transport Reviews, 37, 79-93.

4. Davis, F. D. (1989). Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information technology. MIS Quarterly, 13, 319-340.

5. Dutta, B., & Hwang, H.-G. (2021). Consumers purchase intentions of green electric vehicles: The influence of consumers technological and environmental considerations. Sustainability, 13(21):12025.

6. Egbue, O., & Long, S. (2012). Barriers to widespread adoption of electric vehicles: An analysis of consumer attitudes and perceptions. Energy Policy, 48, 717-729.

7. International Energy Agency. (2026). Global EV Outlook 2026: Trends in electric cars. IEA.

8. Ivanova, G., & Moreira, A. (2023). Antecedents of electric vehicle purchase intention from the consumer's perspective: A systematic literature review. Sustainability. 15(4):2878.

9. Moon, S.-J. (2021). Effect of consumer environmental propensity and innovative propensity on intention to purchase electric vehicles: Applying an extended theory of planned behavior. International Journal of Sustainable Transportation, 16, 1032-1046.

10. Narassimhan, E. J., & Johnson, C. R. (2018). The role of demand-side incentives and charging infrastructure on plug-in electric vehicle adoption: Analysis of US States. Environmental Research Letters, 13.

11. Nguyen, P. H., Duong, H. T., & Hoang, S. D. (2025). The impact of cultural values on the electric vehicle purchase intention: Testing the moderating role of subjective norms. Innovative Marketing, 21(3):183-196.

12. Pamidimukkala, A., Kermanshachi, S., Rosenberger, J., & Hladik, G. (2024). Barriers and motivators to the adoption of electric vehicles: A global review. Green Energy and Intelligent Transportation. DOI: 10.1016/j.geits.2024.100153

13. Pham Van Tuan, Nguyen Phuong Tran Thao, L. T. Linh, Tran T. Le, & Nguyen Thi Thuy Linh. (2022). Factors influencing purchasing intention toward electric vehicle in Vietnam. Journal of Social Commerce, 2(2):82-99.

14. Qiu, Q., Thoo, A. C., Sarker, M., & Huam, H. (2025). Attitudes and purchase intention towards electric vehicles: A systematic meta-analytical literature review. Transportation Planning and Technology. DOI:10.1080/03081060.2025.2493920

15. Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định 876/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí các-bon và khí mê-tan của ngành giao thông vận tải.

16. Tran, M. T. (2025). Factors influencing consumers' electric vehicle purchase intention in emerging markets: Evidence from Vietnam. Frontiers in Business, Economics and Management, 21(3), 184-194.

17. Wang, S., Wang, J., Li, J., Wang, J., & Liang, L. (2018). Policy implications for promoting the adoption of electric vehicles: Do consumer's knowledge, perceived risk and financial incentive policy matter? Transportation Research Part A: Policy and Practice. 117, 58-69.

Ngày nhận bài: 25/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 3/8/2026; Ngày duyệt đăng: 8/9/2026

Các tin khác

Năng suất lao động, đầu tư nước ngoài và thể chế trong năng lực cạnh tranh quốc gia Việt Nam

Năng suất lao động, đầu tư nước ngoài và thể chế trong năng lực cạnh tranh quốc gia Việt Nam

Năng lực cạnh tranh quốc gia phản ánh khả năng của nền kinh tế tạo lập môi trường thuận lợi cho tăng trưởng năng suất dài hạn. Đối với Việt Nam, việc xác định nhân tố nào thực sự có hiệu lực là cơ sở để phân bổ nguồn lực cải cách trong giai đoạn 2026–2035.
Mối quan hệ giữa mật độ doanh nghiệp mới và tỷ lệ thất nghiệp: Bằng chứng từ các quốc gia OECD

Mối quan hệ giữa mật độ doanh nghiệp mới và tỷ lệ thất nghiệp: Bằng chứng từ các quốc gia OECD

Sự gia tăng doanh nghiệp mới được xem là một kênh quan trọng để thúc đẩy tạo việc làm và giảm áp lực thất nghiệp. Từ dữ liệu các quốc gia OECD, bài viết làm rõ hơn mối liên hệ giữa khởi sự doanh nghiệp và biến động của thị trường lao động.
Tăng cường thu hút đầu tư tư nhân và hợp tác công tư trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam

Tăng cường thu hút đầu tư tư nhân và hợp tác công tư trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam

Xử lý chất thải rắn sinh hoạt đang đặt ra yêu cầu lớn về công nghệ, vốn đầu tư và cơ chế huy động nguồn lực tư nhân. Trong bối cảnh nhiều dự án PPP còn vướng mắc, việc hoàn thiện chính sách và tháo gỡ điểm nghẽn là cần thiết để nâng cao hiệu quả xử lý chất thải và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.
Vai trò của Nhà nước trong quản lý ngân sách: Nghiên cứu tại Nghệ An và hàm ý chính sách

Vai trò của Nhà nước trong quản lý ngân sách: Nghiên cứu tại Nghệ An và hàm ý chính sách

Ở cấp địa phương, hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước không chỉ quyết định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ thường xuyên về giáo dục, y tế, an sinh xã hội, quốc phòng và an ninh, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực đầu tư kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư và tạo lập động lực tăng trưởng dài hạn.
Tác động của chuyển đổi số đến hiệu suất công việc của nhân viên hành chính tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở TP.  Hồ Chí Minh

Tác động của chuyển đổi số đến hiệu suất công việc của nhân viên hành chính tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở TP. Hồ Chí Minh

Chuyển đổi số không chỉ làm thay đổi quy trình vận hành của doanh nghiệp nhỏ và vừa, mà còn tác động trực tiếp đến môi trường làm việc và trải nghiệm của nhân viên. Trong bối cảnh đó, việc làm rõ mối quan hệ giữa công nghệ, văn hóa tổ chức, sự hài lòng và hiệu suất công việc có ý nghĩa thiết thực.
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ hậu cần hàng không tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài: Vai trò trung gian của giá trị cảm nhận

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ hậu cần hàng không tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài: Vai trò trung gian của giá trị cảm nhận

Trong lĩnh vực hậu cần hàng không tại Nội Bài, giá trị cảm nhận là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ của khách hàng.
Hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Dệt may Supertex, TP. Hà Nội

Hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Dệt may Supertex, TP. Hà Nội

Trong ngành dệt may - lĩnh vực thâm dụng lao động đặc trưng - quản trị nguồn nhân lực là yếu tố cốt lõi quyết định đến năng suất, chi phí vận hành và khả năng thích ứng của doanh nghiệp trước những biến động thị trường.
Tín dụng xanh gắn với phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Tín dụng xanh gắn với phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Biến đổi khí hậu toàn cầu, suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia
Nâng cao ý định mua hàng trực tuyến trên Digishop VNPT Tiền Giang: Phân tích vai trò trung gian của sự hài lòng và niềm tin thương hiệu

Nâng cao ý định mua hàng trực tuyến trên Digishop VNPT Tiền Giang: Phân tích vai trò trung gian của sự hài lòng và niềm tin thương hiệu

Tại Việt Nam, thương mại điện tử tăng trưởng nhanh và đóng góp lớn cho kinh tế số, nhưng hành vi tiêu dùng số vẫn phân hóa theo ngành và khu vực; ở các tỉnh như Tiền Giang, người dân vẫn ưu tiên mua bán truyền thống, ít chủ động tự mua dịch vụ viễn thông trên nền tảng trực tuyến.
Tác động của các biến động tài chính toàn cầu đến rủi ro thị trường chứng khoán Việt Nam

Tác động của các biến động tài chính toàn cầu đến rủi ro thị trường chứng khoán Việt Nam

Nghiên cứu phân tích tác động của các yếu tố trong nước và quốc tế đến rủi ro của VN-Index. Kết quả cho thấy việc bỏ qua các yếu tố quốc tế có thể dẫn đến đánh giá chưa đầy đủ về rủi ro thị trường, từ đó nghiên cứu đề xuất hàm ý góp phần ổn định và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam.