Năng suất lao động, đầu tư nước ngoài và thể chế trong năng lực cạnh tranh quốc gia Việt Nam
TS. Đỗ Quốc Đạt
Trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung; Email: datnuocdoquocdat@gmail.com
TS. Đỗ Thị Hằng, TS. Nguyễn Thị Huyền Trang
ThS. Nguyễn Thị Thanh Hiên, TS. Nguyễn Đức Nguyện, ThS. Nguyễn Minh Hải
Trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung
PGS.TS. Đỗ Hữu Hải (Tác giả liên hệ)
Trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung; Email: haidh1975@gmail.com
Tóm tắt
Nghiên cứu ước lượng tác động của năng suất lao động, đầu tư trực tiếp nước ngoài và chất lượng thể chế đến năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam, đồng thời kiểm định giả thuyết thể chế khuếch đại hiệu quả của vốn đầu tư. Dữ liệu chuỗi thời gian giai đoạn 2006-2025 sử dụng thứ hạng phân vị của Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Toàn cầu và Chỉ số Đổi mới Sáng tạo Toàn cầu làm biến phụ thuộc, ước lượng bằng bình phương nhỏ nhất với sai số chuẩn HAC. Kết quả cho thấy năng suất lao động và đầu tư nước ngoài đều có tác động dương với mức ý nghĩa thống kê cao; chất lượng thể chế có độ co giãn lớn nhất trong các nhân tố được xem xét. Tuy nhiên, giả thuyết về tương tác giữa đầu tư và thể chế không thể kiểm định được với dữ liệu cấp quốc gia do hiện tượng đa cộng tuyến gần hoàn hảo, bắt nguồn từ việc chỉ số thể chế của một quốc gia biến thiên rất chậm theo thời gian. Phát hiện này có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng và định hướng cho thiết kế nghiên cứu tiếp theo ở cấp địa phương.
Từ khóa: Chất lượng thể chế, đầu tư trực tiếp nước ngoài, đa cộng tuyến, năng lực cạnh tranh quốc gia, năng suất lao động.
Abstract
This study estimates the effects of labour productivity, foreign direct investment and institutional quality on Vietnam’s national competitiveness, and tests the hypothesis that institutions amplify the returns to investment. Using annual time-series data for 2006–2025 with the percentile ranks of the Global Competitiveness Index and the Global Innovation Index as dependent variables, the models are estimated by ordinary least squares with heteroskedasticity and autocorrelation consistent standard errors. Results show that labour productivity and foreign investment both exert statistically significant positive effects, while institutional quality carries the largest elasticity among the factors examined. However, the hypothesised interaction between investment and institutions cannot be identified with national-level data owing to near-perfect multicollinearity, arising because a country’s institutional index changes very slowly over time. This finding carries important methodological implications and motivates a subnational research design.
Keywords: Foreign direct investment, institutional quality, labour productivity, multicollinearity, national competitiveness.
GIỚI THIỆU
Năng lực cạnh tranh quốc gia phản ánh khả năng của nền kinh tế tạo lập môi trường thuận lợi cho tăng trưởng năng suất dài hạn. Đối với Việt Nam, việc xác định nhân tố nào thực sự có hiệu lực là cơ sở để phân bổ nguồn lực cải cách trong giai đoạn 2026–2035.
Lý thuyết năng lực hấp thụ của Cohen và Levinthal (1990) gợi ý rằng lợi ích từ nguồn lực bên ngoài chỉ đến với chủ thể có đủ năng lực nội tại để tiếp nhận. Vận dụng vào quan hệ đầu tư nước ngoài và năng lực cạnh tranh, luận điểm này hàm ý tác động của vốn không phải hằng số mà phụ thuộc vào chất lượng thể chế. Nghiên cứu của Đỗ Thị Ngọc Lan (2019) tìm thấy bằng chứng cho cơ chế này ở cấp tỉnh với vốn ODA.
Nghiên cứu này có ba đóng góp. Thứ nhất, ước lượng độ co giãn của năng lực cạnh tranh quốc gia đối với ba nhân tố cốt lõi bằng dữ liệu thực tế giai đoạn 2006–2025. Thứ hai, kiểm định trực tiếp giả thuyết tương tác giữa đầu tư và thể chế ở cấp quốc gia. Thứ ba, và có lẽ quan trọng nhất, chỉ ra một giới hạn phương pháp luận mà các nghiên cứu tương tự cần lưu ý: dữ liệu chuỗi thời gian một quốc gia không đủ biến thiên thể chế để nhận dạng hiệu ứng tương tác.
Bài viết công bố toàn bộ bộ dữ liệu sử dụng tại Phụ lục nhằm bảo đảm khả năng tái lập và kiểm chứng.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết và mô hình
Nghiên cứu kế thừa ba nền tảng lý thuyết. Porter (1990) xác định năng lực cạnh tranh về bản chất là năng suất, do đó năng suất lao động là biến giải thích trung tâm. Romer (1990) qua lý thuyết tăng trưởng nội sinh giải thích vai trò của tri thức và công nghệ, trong đó đầu tư nước ngoài là kênh chuyển giao chủ yếu đối với nền kinh tế đang phát triển. North (1990) xác lập thể chế là nhân tố quyết định sâu xa, tác động qua chi phí giao dịch và hệ thống động cơ.
Cohen và Levinthal (1990) bổ sung cơ chế liên kết ba nền tảng trên: thể chế quy định mức độ nền kinh tế hấp thụ được tri thức đến từ đầu tư nước ngoài. Trên cơ sở đó, mô hình ước lượng có dạng:
LnNLCTt = β0 + β1LnNSLDt + β2LnFDIt-1 + β3LnTCt + β4(LnFDI × LnTC)t-1 + εt (1)
trong đó NLCT là thứ hạng phân vị của chỉ số năng lực cạnh tranh; NSLD là năng suất lao động; FDI là vốn đầu tư nước ngoài so với GDP, lấy độ trễ một năm; TC là chất lượng thể chế. Tác động biên của đầu tư là β2 + β4 × LnTC, tăng theo chất lượng thể chế nếu β4 > 0. Ba giả thuyết được kiểm định: H1 là β1 > 0; H2 là β3 > 0; H3 là β4 > 0.
Dữ liệu và phương pháp ước lượng
Phạm vi nghiên cứu là Việt Nam giai đoạn 2006–2025. Biến phụ thuộc được đo bằng thứ hạng phân vị theo công thức pct = 100 × [1 − (hạng − 1)/(tổng − 1)], nhằm khắc phục việc các tổ chức xếp hạng thay đổi thang điểm và số lượng nền kinh tế qua các năm.
Một ràng buộc dữ liệu quan trọng cần nêu rõ: Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã tạm dừng công bố Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Toàn cầu từ năm 2020 cho toàn bộ các nền kinh tế và đến nay chưa khôi phục. Do đó nghiên cứu sử dụng song song hai biến phụ thuộc: Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Toàn cầu cho giai đoạn 2006–2019 và Chỉ số Đổi mới Sáng tạo Toàn cầu do Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới công bố liên tục cho giai đoạn 2011–2025. Việc sử dụng hai bộ chỉ số độc lập trên hai giai đoạn khác nhau đồng thời đóng vai trò kiểm định tính vững của kết quả.
Dữ liệu vĩ mô được tổng hợp từ Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Tổng cục Thống kê. Chất lượng thể chế đo bằng chỉ số quản trị tổng hợp quy về thang phân vị. Toàn bộ số liệu được công bố tại Bảng 1.
Bảng 1: Dữ liệu Việt Nam giai đoạn 2006-2025
![]() |
Nguồn: Thứ hạng năng lực cạnh tranh từ Diễn đàn Kinh tế Thế giới (2006–2019) và Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (2011–2025), quy về thứ hạng phân vị. Các biến vĩ mô tổng hợp từ Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Tổng cục Thống kê. Số liệu năm 2025 là ước tính sơ bộ.
Phương pháp ước lượng là bình phương nhỏ nhất với sai số chuẩn nhất quán với phương sai thay đổi và tự tương quan theo Newey–West hai độ trễ. Do quy mô mẫu nhỏ, nghiên cứu ưu tiên mô hình tối giản và kiểm tra đa cộng tuyến bằng hệ số tương quan cặp trước khi diễn giải kết quả.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Kết quả nghiên cứu
Bảng 2 trình bày kết quả ước lượng các mô hình tối giản.
Bảng 2: Kết quả ước lượng tác động đến năng lực cạnh tranh quốc gia
![]() |
Sai số chuẩn HAC (Newey–West, 2 độ trễ) trong ngoặc đơn. Ký hiệu ***, **, * tương ứng mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%.
Nguồn: Nhóm tác giả ước lượng từ bộ dữ liệu tại Bảng 1.
Kết quả tại Bảng 2 ủng hộ mạnh mẽ hai giả thuyết đầu. Về giả thuyết H1, năng suất lao động có tác động dương và có ý nghĩa ở cả bốn mô hình. Trong mô hình đầy đủ nhất là cột (3), độ co giãn đạt 0,3384 với mức ý nghĩa 1%, hàm ý năng suất lao động tăng 1% làm thứ hạng phân vị năng lực cạnh tranh tăng khoảng 0,34%. Về giả thuyết H2, chất lượng thể chế có độ co giãn 1,1106 với mức ý nghĩa 1%, là hệ số lớn nhất trong toàn bộ kết quả và giải thích được 60% biến thiên của biến phụ thuộc chỉ với một biến giải thích duy nhất. Đầu tư nước ngoài với độ trễ một năm cũng có tác động dương ở mức ý nghĩa 5% với độ co giãn 0,5886.
Tuy nhiên, giả thuyết H3 về tương tác giữa đầu tư và thể chế không thể kiểm định được. Bảng 3 trình bày nguyên nhân.
Bảng 3: Đa cộng tuyến của số hạng tương tác
![]() |
Hệ số tương quan trên 0,95 giữa biến gốc và số hạng tương tác cho thấy hai biến gần như trùng nhau về mặt thông tin thống kê.
Nguồn: Nhóm tác giả tính toán.
Hệ số tương quan giữa biến đầu tư và số hạng tương tác đạt 0,987 và 0,959 ở hai mẫu, tức hai biến gần như đồng nhất về thông tin. Nguyên nhân nằm ở chỗ chỉ số thể chế của Việt Nam chỉ biến thiên trong biên độ 0,34 đơn vị logarit suốt hai mươi năm, với hệ số biến thiên 11,6%. Khi một biến gần như không đổi, tích của nó với biến khác trở thành bội số tuyến tính của chính biến đó.
Hậu quả là các hệ số trong mô hình có tương tác trở nên bất ổn định và không thể diễn giải. Hệ số tương tác ước lượng mang dấu âm với độ lớn bất thường, đồng thời hệ số của biến đầu tư nhảy từ 0,59 lên 19,11 khi thêm số hạng tương tác. Đây là biểu hiện kinh điển của đa cộng tuyến chứ không phải bằng chứng bác bỏ lý thuyết.
Thảo luận kết quả
Kết quả về năng suất lao động phù hợp với luận điểm trung tâm của Porter (1990) rằng năng lực cạnh tranh về bản chất là năng suất. Độ co giãn 0,34 nằm trong khoảng mà các nghiên cứu quốc tế báo cáo cho nhóm nền kinh tế đang phát triển.
Phát hiện đáng chú ý nhất về mặt định lượng là độ co giãn của chất lượng thể chế đạt 1,11, lớn gấp hơn ba lần so với năng suất lao động và gấp đôi so với đầu tư nước ngoài. Điều này củng cố mạnh mẽ luận điểm của North (1990) và Acemoglu cùng Robinson (2012) rằng thể chế là ràng buộc có tính quyết định đối với hiệu quả kinh tế. Về mặt chính sách, con số này hàm ý mỗi phần trăm cải thiện chất lượng quản trị mang lại lợi ích lớn hơn nhiều so với cùng mức đầu tư vào các nhân tố khác.
Về giả thuyết tương tác, kết quả không cho phép kết luận theo hướng nào. Cần phân biệt rõ giữa hai tình huống: không tìm thấy bằng chứng ủng hộ, và tìm thấy bằng chứng bác bỏ. Trường hợp này thuộc loại thứ nhất. Chỉ số thể chế cấp quốc gia thay đổi quá chậm để tạo ra biến thiên đủ lớn cho việc nhận dạng hiệu ứng tương tác trong một mẫu hai mươi quan sát.
Phát hiện này có giá trị phương pháp luận vượt ra ngoài phạm vi bài viết. Nó cho thấy các nghiên cứu muốn kiểm định vai trò điều tiết của thể chế cần thiết kế dữ liệu có biến thiên thể chế theo chiều ngang, chẳng hạn dữ liệu bảng cấp tỉnh hoặc dữ liệu xuyên quốc gia, thay vì chuỗi thời gian một quốc gia. Đây chính là lý do Đỗ Thị Ngọc Lan (2019) tìm thấy hiệu ứng tương tác có ý nghĩa khi sử dụng dữ liệu 63 tỉnh thành, nơi khác biệt thể chế giữa các địa phương tại cùng một thời điểm là đáng kể.
Nghiên cứu có ba hạn chế. Thứ nhất, quy mô mẫu nhỏ khiến các mô hình phải giữ tối đa ba biến giải thích. Thứ hai, việc sử dụng hai bộ chỉ số khác nhau cho hai giai đoạn làm giảm tính so sánh trực tiếp, mặc dù đây là lựa chọn bắt buộc do dữ liệu. Thứ ba, kết quả phản ánh quan hệ tương quan có điều kiện chứ chưa khẳng định quan hệ nhân quả.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP
Nghiên cứu định lượng tác động của ba nhân tố đến năng lực cạnh tranh quốc gia Việt Nam giai đoạn 2006-2025. Chất lượng thể chế có độ co giãn lớn nhất là 1,11, tiếp theo là đầu tư nước ngoài với 0,59 và năng suất lao động với 0,34. Giả thuyết về tương tác giữa đầu tư và thể chế không kiểm định được ở cấp quốc gia do hạn chế về biến thiên dữ liệu.
Thứ nhất, ưu tiên cao nhất cho cải cách thể chế. Với độ co giãn 1,11, đây là nhân tố có suất sinh lợi cao nhất trong ba nhân tố được lượng hóa. Trọng tâm nên đặt vào ba nhóm chỉ tiêu mà Việt Nam đang bị đánh giá thấp: hiệu quả thực thi pháp luật, chất lượng quy định pháp luật và tính minh bạch. Cụ thể, cần rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp thương mại, công khai hóa quy trình cấp phép đầu tư và số hóa toàn diện thủ tục hành chính. Do chỉ số thể chế của Việt Nam chỉ tăng 11,8 điểm phân vị trong hai mươi năm, tốc độ cải cách hiện tại là quá chậm so với yêu cầu.
Thứ hai, nâng cao chất lượng dòng vốn đầu tư nước ngoài. Độ co giãn 0,59 với độ trễ một năm cho thấy vốn đầu tư có hiệu lực rõ rệt nhưng cần thời gian chuyển hóa. Chính sách nên chuyển trọng tâm từ số lượng sang chất lượng, ưu tiên dự án có hàm lượng công nghệ và cam kết chuyển giao, đồng thời phát triển mạng lưới nhà cung ứng nội địa để mở rộng hiệu ứng lan tỏa. Việc tỷ lệ vốn đầu tư trên tổng sản phẩm quốc nội giảm từ mức trên 6% giai đoạn 2016–2019 xuống khoảng 4,3–4,7% giai đoạn 2021–2025 là tín hiệu cần theo dõi.
Thứ ba, duy trì tăng năng suất lao động như nền tảng dài hạn. Mặc dù độ co giãn thấp hơn hai nhân tố trên, năng suất lao động là biến duy nhất có ý nghĩa thống kê ở cả bốn mô hình, cho thấy tính ổn định của tác động. Giải pháp gồm cải cách giáo dục nghề nghiệp gắn với yêu cầu công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng công nghệ, và phát triển cụm liên kết ngành.
Thứ tư, về phương pháp nghiên cứu, cơ quan hoạch định chính sách cần xây dựng hệ thống dữ liệu thể chế cấp tỉnh liên tục và nhất quán. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy đánh giá vai trò điều tiết của thể chế chỉ khả thi khi có biến thiên theo chiều ngang. Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh với 63 địa phương là nguồn dữ liệu phù hợp và cần được khai thác trong các nghiên cứu tiếp theo.
*Lời cảm ơn: Nhóm tác giả trân trọng cảm ơn Trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung đã hỗ trợ và tài trợ cho nghiên cứu theo Hợp đồng thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường trọng điểm Mã số: ĐT.02.25.
Tài liệu tham khảo:
1. Acemoglu, D. và Robinson, J. A. (2012). Why Nations Fail: The Origins of Power, Prosperity and Poverty, Nxb Crown, New York.
2. Cohen, W. M. và Levinthal, D. A. (1990). Absorptive capacity: A new perspective on learning and innovation, Administrative Science Quarterly, Tập 35, Số 1, tr. 128–152.
3. Đỗ Hữu Hải (2019). Giáo trình Nghiên cứu thị trường. Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân.
4. Đỗ Thị Ngọc Lan (2019). ODA với tăng trưởng kinh tế Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
5. North, D. C. (1990). Institutions, Institutional Change and Economic Performance, Nxb Cambridge University Press, Cambridge.
6. Porter, M. E. (1990). The Competitive Advantage of Nations, Nxb Free Press, New York.
7. Romer, P. M. (1990). Endogenous technological change, Journal of Political Economy, Tập 98, Số 5, tr. S71–S102.
8. Diễn đàn Kinh tế Thế giới (2019). The Global Competitiveness Report 2019, truy cập từ https://www.weforum.org/publications/
9. Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (2025). Global Innovation Index 2025, truy cập từ https://www.wipo.int/global_innovation_index/
10. Ngân hàng Thế giới (2025). World Development Indicators, truy cập từ https://data.worldbank.org/
| Ngày nhận bài: 26/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 3/8/2026; Ngày duyệt đăng: 7/9/2026 |
Các tin khác
Đề xuất mô hình nghiên cứu ý định mua ô tô điện của người tiêu dùng Việt Nam: Tiếp cận tích hợp TPB, TAM và các điều kiện thị trường
Mối quan hệ giữa mật độ doanh nghiệp mới và tỷ lệ thất nghiệp: Bằng chứng từ các quốc gia OECD
Tăng cường thu hút đầu tư tư nhân và hợp tác công tư trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam
Vai trò của Nhà nước trong quản lý ngân sách: Nghiên cứu tại Nghệ An và hàm ý chính sách
Tác động của chuyển đổi số đến hiệu suất công việc của nhân viên hành chính tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở TP. Hồ Chí Minh
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ hậu cần hàng không tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài: Vai trò trung gian của giá trị cảm nhận
Hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Dệt may Supertex, TP. Hà Nội
Tín dụng xanh gắn với phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Nâng cao ý định mua hàng trực tuyến trên Digishop VNPT Tiền Giang: Phân tích vai trò trung gian của sự hài lòng và niềm tin thương hiệu


