Vai trò của Nhà nước trong quản lý ngân sách: Nghiên cứu tại Nghệ An và hàm ý chính sách

Nghiên cứu - Trao đổi 08:48 | 08/09/2026
Ở cấp địa phương, hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước không chỉ quyết định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ thường xuyên về giáo dục, y tế, an sinh xã hội, quốc phòng và an ninh, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực đầu tư kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư và tạo lập động lực tăng trưởng dài hạn.

Nguyễn Đình Hùng

Học viên ngành Quản lý kinh tế K32, Trường Đại học Vinh

Sở Tài chính Nghệ An

Email: hungdinh2709@gmail.com

Tóm tắt

Sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, thống kê mô tả, so sánh theo thời gian và đối chiếu chính sách dựa trên số liệu công bố của tỉnh Nghệ An, cơ quan tài chính địa phương, HĐND tỉnh, cùng các văn bản pháp luật liên quan, nghiên cứu phân tích vai trò của Nhà nước trong quản lý ngân sách nhà nước (NSNN) ở tỉnh Nghệ An giai đoạn 2020-2025, tập trung vào 4 chức năng trọng yếu: kiến tạo thể chế và phân cấp ngân sách; huy động, điều tiết và phát triển nguồn thu; tổ chức phân bổ, chấp hành chi ngân sách; kiểm tra, giám sát và bảo đảm công khai, minh bạch. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất chuyển trọng tâm quản lý từ “hoàn thành dự toán” sang “quản trị ngân sách theo kết quả”, gắn phân cấp với trách nhiệm giải trình, phát triển cơ sở thu bền vững và tăng cường giám sát xã hội dựa trên dữ liệu số.

Từ khóa: Ngân sách nhà nước, quản lý ngân sách, phân cấp ngân sách, Nghệ An, đầu tư công

Abstract

Using document analysis, descriptive statistics, time-series comparisons, and policy comparisons based on data published by Nghe An Province, local financial authorities, the Provincial People's Council, and relevant legal documents, this study analyzes the role of the State in managing the state budget (SB) in Nghe An Province during the 2020-2025 period. The analysis focuses on four key functions: institutional development and budget decentralization; revenue mobilization, regulation, and development; organization of budget allocation and expenditure execution; and inspection, supervision, and ensuring transparency and public disclosure. Based on these findings, the study proposes shifting the focus of budget management from “budget estimate fulfillment” to “results-based budget management,” linking decentralization with accountability, developing sustainable revenue bases, and strengthening data-driven social oversight.

Keywords: State budget, budget management, budget decentralization, Nghe An Province, public investment

ĐẶT VẤN ĐỀ

NSNN là công cụ tài chính công quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng phân bổ nguồn lực, điều tiết kinh tế vĩ mô, tái phân phối thu nhập và bảo đảm cung ứng dịch vụ công. Ở cấp địa phương, hiệu quả quản lý NSNN không chỉ quyết định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ thường xuyên về giáo dục, y tế, an sinh xã hội, quốc phòng và an ninh, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực đầu tư kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư và tạo lập động lực tăng trưởng dài hạn.

Luật NSNN xác lập nguyên tắc quản lý NSNN theo hướng thống nhất, tập trung dân chủ, hiệu quả, tiết kiệm, công khai, minh bạch, công bằng; đồng thời phân công, phân cấp quản lý và gắn quyền hạn với trách nhiệm của các cấp chính quyền (Quốc hội, 2015). Như vậy, vai trò của Nhà nước trong quản lý ngân sách không đơn thuần là thực hiện thu - chi theo dự toán, mà là thiết kế và vận hành một hệ thống thể chế nhằm bảo đảm cân đối tài chính, lựa chọn ưu tiên chi tiêu và tạo ra giá trị công cho xã hội.

Nghệ An là tỉnh có quy mô dân số lớn, không gian phát triển rộng, gồm khu vực đô thị, đồng bằng, ven biển, trung du và miền núi. Đặc điểm này tạo ra yêu cầu lớn đối với NSNN trong việc giảm chênh lệch phát triển giữa các vùng, duy trì dịch vụ công thiết yếu và đầu tư hạ tầng liên kết. Bên cạnh đó, nguồn lực tài khóa tại chỗ còn phụ thuộc tương đối lớn vào các khoản thu có tính biến động như tiền sử dụng đất, hoạt động sản xuất - kinh doanh của một số doanh nghiệp lớn và chu kỳ thị trường bất động sản.

Giai đoạn 2020-2025 phản ánh rõ tính 2 mặt của quản lý ngân sách tại Nghệ An. Một mặt, thu NSNN có xu hướng tăng mạnh từ 17.363 tỷ đồng năm 2020 lên 29.211 tỷ đồng năm 2025. Mặt khác, năm 2023 chứng kiến sự sụt giảm đáng kể của nguồn thu do hoạt động sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, thị trường bất động sản chững lại và các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp được triển khai trong bối cảnh phục hồi sau đại dịch (Báo Nghệ An, 2023; Kiểm toán Nhà nước, 2024). Điều đó cho thấy năng lực quản lý nhà nước về ngân sách cần được đánh giá không chỉ trên kết quả thu vượt dự toán, mà còn trên mức độ bền vững của cơ cấu thu, hiệu quả chi tiêu và khả năng chống chịu trước các cú sốc kinh tế.

Đặc biệt, Nghị quyết số 36/2021/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Nghệ An đã mở rộng không gian chính sách trong quản lý tài chính - ngân sách, phân cấp quản lý đất đai, quy hoạch và lâm nghiệp. Đây là cơ sở quan trọng để Tỉnh chủ động hơn trong huy động nguồn lực, tổ chức đầu tư phát triển và nâng cao hiệu quả điều hành ngân sách (Quốc hội, 2021).

Do đó, nghiên cứu hướng tới 3 mục tiêu: Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận về vai trò của Nhà nước trong quản lý NSNN; Thứ hai, phân tích thực tiễn quản lý ngân sách ở Nghệ An giai đoạn 2020-2025; Thứ ba, đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cao chất lượng quản trị ngân sách địa phương trong giai đoạn tiếp theo.

KHUNG LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Khung lý thuyết về vai trò của Nhà nước trong quản lý ngân sách

Theo lý thuyết tài chính công, Nhà nước có 3 chức năng nền tảng: phân bổ nguồn lực, phân phối lại thu nhập và ổn định kinh tế vĩ mô. Trong đó, ngân sách là công cụ trung tâm chuyển hóa các chức năng này thành những quyết định về thuế, phí, vay nợ, trợ cấp, đầu tư công và cung cấp dịch vụ công.

Vai trò của Nhà nước trong quản lý NSNN có thể được khái quát trên 4 phương diện:

Thứ nhất, thực hiện vai trò kiến tạo thể chế ngân sách. Vai trò này bao gồm ban hành luật pháp, tiêu chuẩn, định mức, quy trình lập và giao dự toán, cơ chế phân cấp nguồn thu - nhiệm vụ chi, cũng như quy định công khai và quyết toán ngân sách. Một thể chế rõ ràng giúp giảm tùy tiện trong phân bổ nguồn lực, tăng khả năng dự báo và làm rõ trách nhiệm giữa các chủ thể quản lý.

Thứ hai, giữ vai trò huy động và điều tiết nguồn lực tài chính công. Nhà nước tổ chức thu đúng, thu đủ, nuôi dưỡng nguồn thu, chống thất thu, quản lý nợ thuế, mở rộng cơ sở thuế và điều tiết các nguồn thu phát sinh từ đất đai, tài nguyên, thương mại và hoạt động kinh doanh. Chất lượng quản lý thu không chỉ được phản ánh ở số thu vượt dự toán mà còn ở tỷ trọng nguồn thu ổn định, tuân thủ pháp luật và chi phí hành thu hợp lý.

Thứ ba, thực hiện phân bổ và sử dụng ngân sách theo ưu tiên phát triển. Đây là quá trình chuyển hóa nguồn thu thành kết quả phát triển thông qua chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi an sinh xã hội, chi giáo dục, y tế, khoa học - công nghệ và các chương trình mục tiêu. OECD (2015) nhấn mạnh rằng, quản trị ngân sách tốt cần đặt ngân sách trong các giới hạn tài khóa rõ ràng, quản lý và theo dõi chấp hành ngân sách chủ động, đồng thời coi hiệu quả và giá trị đồng tiền là một bộ phận không tách rời của chu trình ngân sách.

Thứ tư, bảo đảm kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình. Hoạt động này được thực hiện thông qua vai trò của HĐND, UBND, cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước, cơ quan Thanh tra, Kiểm toán và sự giám sát của người dân. Công khai ngân sách giúp công chúng tiếp cận thông tin, đánh giá mức độ phù hợp giữa ưu tiên chi tiêu với nhu cầu phát triển, qua đó giảm nguy cơ lãng phí và thất thoát.

Từ cách tiếp cận trên, nghiên cứu đánh giá vai trò của Nhà nước trong quản lý ngân sách tại Nghệ An theo các tiêu chí: mức độ hoàn thành dự toán thu; tính ổn định của nguồn thu; kết quả giải ngân vốn đầu tư công; mức độ chủ động của điều hành ngân sách; và sự vận hành của cơ chế công khai, giám sát.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp thống kê mô tả. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo kinh tế - xã hội, thông tin của Sở Tài chính, HĐND tỉnh, UBND tỉnh, các nghị quyết của Quốc hội và HĐND tỉnh, cùng các nguồn báo chí chính thống.

Các phương pháp phân tích chủ yếu gồm: Phân tích tài liệu nhằm nhận diện khung pháp lý, cơ chế phân cấp và định hướng điều hành NSNN tại Nghệ An; Thống kê mô tả để tổng hợp số thu NSNN, mức hoàn thành dự toán và tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công; So sánh theo thời gian nhằm xác định xu hướng, mức biến động và các giai đoạn tăng trưởng hoặc suy giảm của nguồn thu; Phân tích đối chiếu giữa kết quả ngân sách của Nghệ An với mục tiêu kế hoạch và một số chỉ tiêu bình quân quốc gia về giải ngân đầu tư công.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Vai trò kiến tạo thể chế và phân cấp quản lý ngân sách

Khung pháp lý quản lý NSNN tại Nghệ An được xác lập trên nền tảng Luật NSNN năm 2015 và các văn bản hướng dẫn của Trung ương. Trong phạm vi địa phương, HĐND tỉnh quyết định dự toán, phân bổ và quyết toán ngân sách; UBND tỉnh tổ chức điều hành; Sở Tài chính tham mưu tổng hợp, xây dựng dự toán và theo dõi chấp hành ngân sách; còn các sở, ngành và địa phương thực hiện nhiệm vụ thu - chi theo phân cấp.

Nghị quyết số 36/2021/QH15 (Quốc hội, 2021) tạo ý nghĩa quan trọng đối với Nghệ An vì cho phép thí điểm một số cơ chế đặc thù liên quan đến quản lý tài chính - ngân sách và phân cấp quản lý nhà nước. Về thực chất, cơ chế này mở rộng dư địa để chính quyền tỉnh chủ động hơn trong tổ chức nguồn lực cho các dự án hạ tầng, phát triển Khu kinh tế Đông Nam, thúc đẩy liên kết vùng và giải quyết các vấn đề phát triển không đồng đều trong nội tỉnh.

Trong năm 2025, Nghệ An đã điều chỉnh dự toán ngân sách sau khi tổ chức lại đơn vị hành chính và triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Theo nghị quyết được HĐND tỉnh thông qua, tổng thu NSNN trên địa bàn điều chỉnh là 17.726,369 tỷ đồng; tổng chi ngân sách địa phương là 41.991,268 tỷ đồng, trong đó ngân sách cấp tỉnh là 26.096,016 tỷ đồng và ngân sách cấp xã là 15.895,252 tỷ đồng (HĐND tỉnh Nghệ An, 2025). Đây là minh chứng cho vai trò điều phối của Nhà nước trong xử lý biến động thể chế, bảo đảm dòng ngân sách không bị gián đoạn khi thay đổi tổ chức bộ máy.

Tuy nhiên, phân cấp ngân sách chỉ phát huy tác dụng khi đi đôi với năng lực quản trị tương ứng. Nếu quyền quyết định chi được phân cấp nhanh hơn năng lực lập dự án, đấu thầu, giám sát và quyết toán ở cấp cơ sở, rủi ro phân tán nguồn lực và giảm hiệu quả đầu tư có thể gia tăng. Do đó, Nhà nước không chỉ cần trao quyền mà còn phải thiết lập chuẩn năng lực, cơ chế giám sát và hệ thống dữ liệu liên thông giữa tỉnh với cấp xã.

Kết quả huy động và quản lý nguồn thu ngân sách

Giai đoạn 2020-2025, Nghệ An đạt kết quả tích cực trong huy động NSNN, nhưng tốc độ tăng thu không diễn ra theo một đường tuyến tính. Thu ngân sách tăng nhanh trong giai đoạn 2020-2022, giảm vào năm 2023, sau đó phục hồi mạnh trong 2 năm 2024-2025.

Năm 2020, trong bối cảnh tác động của COVID-19, tổng thu NSNN của Nghệ An đạt 17.363 tỷ đồng, bằng 111,6% dự toán HĐND tỉnh điều chỉnh và tăng 7,3% so với năm 2019. Thu nội địa đạt 16.186 tỷ đồng, tương đương 117,6% dự toán (Báo Nghệ An, 2021). Kết quả này phản ánh năng lực điều hành linh hoạt của chính quyền Tỉnh trong việc vừa hỗ trợ doanh nghiệp, vừa duy trì nguồn thu.

Năm 2021, tổng thu NSNN đạt 18.936 tỷ đồng; riêng thu nội địa đạt 17.279 tỷ đồng, bằng 141% dự toán HĐND tỉnh giao. Kết quả này được tạo bởi sự cải thiện trong quản lý thuế, khai thác các nguồn thu nội địa và phục hồi từng bước của hoạt động kinh tế (Báo Nghệ An, 2022). Tuy nhiên, xét theo chất lượng thu, cần lưu ý rằng nguồn thu từ đất đai có thể tạo ra đột biến trong ngắn hạn nhưng không bảo đảm tính ổn định tương tự nguồn thu từ sản xuất - kinh doanh và thuế tiêu dùng.

Năm 2023 là năm cho thấy rõ rủi ro của cơ cấu thu phụ thuộc vào chu kỳ thị trường. Thu NSNN thực hiện đạt 21.232 tỷ đồng, bằng 94,4% so với năm 2022, mặc dù vẫn vượt dự toán 33,9%. Cơ quan quản lý đánh giá tình trạng khó khăn của doanh nghiệp, mức tiêu thụ giảm, thị trường bất động sản hạ nhiệt và chính sách hỗ trợ tài chính là những nguyên nhân quan trọng làm giảm nguồn thu (Kiểm toán Nhà nước, 2024; Báo Nghệ An, 2023).

Đến năm 2024, thu NSNN đạt 25.096 tỷ đồng, bằng 157,8% dự toán HĐND tỉnh giao và tăng 16,7% so với năm 2023. Thu nội địa đạt 23.311 tỷ đồng, bằng 160,4% dự toán. Với kết quả này, Nghệ An đứng thứ 17 cả nước và thứ hai khu vực Bắc Trung Bộ về thu ngân sách (Báo Nghệ An, 2025a). Năm 2025, tổng thu NSNN tiếp tục đạt 29.211 tỷ đồng, tăng 14,3% so với năm trước và vượt 64,8% dự toán (HĐND tỉnh Nghệ An, 2026).

Xu hướng trên cho thấy Nhà nước tại địa phương đã thực hiện tương đối hiệu quả vai trò tổ chức thu, cải thiện quản lý thuế và khai thác các dư địa tăng thu. Dù vậy, đánh giá quản lý thu không nên dừng ở chỉ tiêu vượt dự toán. Khi dự toán ban đầu được xây dựng thận trọng hoặc khi thu tăng chủ yếu từ đất đai, khoản thu bất thường và một số doanh nghiệp trọng điểm, mức vượt dự toán chưa phản ánh đầy đủ năng lực tạo lập nguồn lực tài khóa bền vững.

Vai trò của Nhà nước trong phân bổ và quản lý chi ngân sách

Về nguyên tắc, chi NSNN phải bảo đảm đồng thời 3 mục tiêu: duy trì hoạt động của bộ máy và dịch vụ công; hỗ trợ các nhóm yếu thế; đầu tư cho năng lực phát triển dài hạn. Đối với Nghệ An, áp lực chi ngân sách lớn do yêu cầu đầu tư đồng thời cho đô thị Vinh, Khu kinh tế Đông Nam, hạ tầng giao thông, vùng miền núi, giảm nghèo, giáo dục, y tế, nông thôn mới và phòng chống thiên tai.

Quản lý chi hiệu quả đòi hỏi chuyển từ tư duy “phân bổ theo đầu vào” sang tư duy “mua kết quả đầu ra”. Theo OECD (2023), ngân sách theo kết quả là việc sử dụng có hệ thống thông tin về kết quả hoạt động để hỗ trợ quyết định ngân sách; công cụ này góp phần nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong toàn bộ chu trình ngân sách. Đối với Nghệ An, cách tiếp cận này đặc biệt cần thiết trong các lĩnh vực có tỷ trọng chi lớn như giáo dục, y tế, đào tạo nghề, giảm nghèo bền vững, hạ tầng giao thông và phát triển nông nghiệp.

Thực tế điều hành cho thấy Tỉnh đã chủ động điều chỉnh và phân bổ dự toán theo biến động tổ chức bộ máy năm 2025. Tổng chi ngân sách địa phương sau điều chỉnh là 41.991,268 tỷ đồng, cao hơn nhiều so với số thu trên địa bàn (HĐND tỉnh Nghệ An, 2025). Chênh lệch này phản ánh đặc điểm phổ biến của các tỉnh còn nhận bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương; đồng thời cho thấy tầm quan trọng của vai trò điều tiết liên ngân sách của Nhà nước trung ương đối với khả năng cung ứng dịch vụ công ở địa phương.

Tuy vậy, áp lực quan trọng là nâng cao tỷ trọng chi đầu tư phát triển có hiệu quả, kiểm soát chi thường xuyên và tránh dàn trải vốn. Nếu chi thường xuyên tăng nhanh hơn năng lực tăng thu ổn định, dư địa dành cho đầu tư hạ tầng và các chương trình phát triển dài hạn sẽ bị thu hẹp. Vì vậy, quản lý chi cần gắn với đánh giá định kỳ về hiệu quả đầu ra: số người dân được thụ hưởng, chất lượng dịch vụ công, mức giảm chi phí logistics, năng suất lao động, tỷ lệ giảm nghèo hoặc khả năng thu hút đầu tư sau khi dự án hoàn thành.

Điều hành đầu tư công: kết quả và những điểm nghẽn

Đầu tư công là khu vực thể hiện trực tiếp nhất vai trò phát triển của Nhà nước. Với Nghệ An, vốn đầu tư công vừa là nguồn lực cải thiện hạ tầng, vừa là công cụ kích thích tổng cầu, tạo việc làm và hỗ trợ phục hồi kinh tế khi khu vực doanh nghiệp gặp khó khăn.

Năm 2021, kết quả giải ngân đầu tư công của Nghệ An đạt khoảng 88% kế hoạch; năm 2022 chỉ đạt 84,86% kế hoạch giao đầu năm. Đây là các năm giải ngân chưa đạt yêu cầu, đặc biệt đối với các nguồn vốn nước ngoài, nơi tỷ lệ giải ngân chỉ đạt khoảng 52-60% (HĐND tỉnh Nghệ An, 2024b).

Năm 2023 là năm có chuyển biến rõ rệt. Tỉnh giải ngân 8.585,59 tỷ đồng, đạt 95,04% kế hoạch giao đầu năm. Kết quả này không chỉ cao hơn năm 2022 mà còn cao hơn mức giải ngân bình quân chung của cả nước là 93,12% (HĐND tỉnh Nghệ An, 2024a). Đây là kết quả của việc giao kế hoạch tương đối sớm, thành lập và vận hành cơ chế đôn đốc tiến độ, tăng cường trách nhiệm người đứng đầu và xử lý khó khăn trong triển khai dự án.

Tuy nhiên, xu hướng này chưa hoàn toàn bền vững. Năm 2024, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công tập trung năm 2024 của toàn Tỉnh mới đạt 91,37% so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao đầu năm và 84,31% so với tổng kế hoạch giao. UBND tỉnh đã phê bình 34 sở, ngành, địa phương và chủ đầu tư có kết quả giải ngân thấp, qua đó thể hiện việc tăng cường trách nhiệm hành chính trong quản lý vốn đầu tư công (HĐND tỉnh Nghệ An, 2025a).

Sự biến động trong giải ngân phản ánh một vấn đề cơ bản: trách nhiệm của Nhà nước không kết thúc ở khâu bố trí vốn mà bao gồm toàn bộ chuỗi quản trị dự án, từ lựa chọn dự án, lập và phê duyệt chủ trương đầu tư, chuẩn bị kỹ thuật, giải phóng mặt bằng, lựa chọn nhà thầu, quản lý hợp đồng đến nghiệm thu và quyết toán. Khi dự án thiếu sự chuẩn bị đầy đủ, việc tăng áp lực giải ngân vào cuối năm có thể dẫn tới rủi ro ưu tiên “tốc độ chi” hơn “chất lượng đầu tư”.

Công khai, giám sát và trách nhiệm giải trình

Công khai ngân sách là điều kiện để nâng cao chất lượng quản trị công. Nghệ An đã duy trì chuyên mục công khai ngân sách trên Cổng thông tin điện tử của Tỉnh, công bố các quyết định về dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phương án phân bổ ngân sách. Việc công khai này tạo cơ sở để người dân, đại biểu dân cử, doanh nghiệp và tổ chức xã hội tiếp cận thông tin ngân sách (UBND tỉnh Nghệ An, 2025).

Tuy nhiên, công khai thông tin chưa đồng nghĩa đầy đủ với minh bạch có thể sử dụng. Các tài liệu ngân sách thường có dung lượng lớn, thiên về biểu mẫu kỹ thuật và khó tiếp cận đối với người dân không chuyên môn. Vì vậy, vai trò của Nhà nước cần được mở rộng từ công bố dữ liệu sang thiết kế dữ liệu mở, thân thiện và có khả năng phân tích. Ví dụ, Tỉnh có thể công bố bảng điều khiển ngân sách trực tuyến theo xã, lĩnh vực chi, dự án đầu tư, tiến độ giải ngân, tỷ lệ hoàn thành và kết quả đầu ra.

Việc công bố danh sách các dự án giải ngân 0% vào tháng 5/2024 là một thực hành đáng chú ý. Tại thời điểm ngày 10/5/2024, tỷ lệ giải ngân toàn tỉnh đạt 24,79%; việc công khai các dự án chậm tiến độ tạo áp lực giám sát và thúc đẩy trách nhiệm của chủ đầu tư, sở ngành và địa phương (Đài Phát thanh và Truyền hình Nghệ An, 2024). Dù vậy, cần kết hợp công khai với giải trình nguyên nhân, thời hạn khắc phục và chế tài rõ ràng để tránh việc công khai chỉ dừng lại ở hình thức.

KẾT LUẬN

Thực tiễn Nghệ An giai đoạn 2020-2025 cho thấy Nhà nước có vai trò quyết định trong thiết lập thể chế, huy động nguồn lực, điều hành chi tiêu công, thúc đẩy đầu tư phát triển và bảo đảm trách nhiệm giải trình trong quản lý NSNN. Thành tựu đáng ghi nhận là quy mô thu NSNN tăng mạnh, từ 17.363 tỷ đồng năm 2020 lên 29.211 tỷ đồng năm 2025; Tỉnh đạt kết quả thu vượt dự toán trong nhiều năm và từng cải thiện đáng kể hiệu quả giải ngân đầu tư công vào năm 2023.

Tuy nhiên, sự sụt giảm thu năm 2023 và tình trạng giải ngân không ổn định năm 2024 cho thấy quản trị ngân sách vẫn đối mặt với 3 thách thức lớn: cơ cấu thu chưa đủ bền vững; chất lượng chuẩn bị và triển khai đầu tư công chưa đồng đều; công khai ngân sách chưa thực sự chuyển hóa thành giám sát xã hội hiệu quả. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các hàm ý chính sách sau:

Thứ nhất, chuyển từ mục tiêu thu vượt dự toán sang phát triển cơ sở thu ổn định, ưu tiên nguồn thu từ sản xuất, kinh doanh, công nghiệp chế biến, dịch vụ logistics, thương mại, du lịch và kinh tế số; đồng thời kiểm soát phụ thuộc vào thu từ đất đai.

Thứ hai, hoàn thiện phân cấp ngân sách theo nguyên tắc gắn quyền hạn với trách nhiệm, bảo đảm các đơn vị được phân cấp nhiệm vụ chi có đủ năng lực nhân sự, dữ liệu và quy trình quản lý tương ứng.

Thứ ba, áp dụng ngân sách theo kết quả đối với các lĩnh vực chi trọng điểm. Mỗi chương trình chi cần xác định rõ mục tiêu, chỉ tiêu đầu ra, cơ quan chịu trách nhiệm và cơ chế đánh giá độc lập.

Thứ tư, rà soát danh mục đầu tư công theo hướng tập trung vốn cho dự án có tính lan tỏa, có khả năng hoàn thành và đưa vào sử dụng sớm; hạn chế bố trí vốn dàn trải, kéo dài hoặc dự án thiếu mặt bằng và thủ tục pháp lý.

Thứ năm, xây dựng nền tảng dữ liệu ngân sách mở của Tỉnh, liên thông dự toán, phân bổ, giải ngân, quyết toán và kết quả thực hiện; qua đó nâng cao năng lực giám sát của HĐND, Mặt trận Tổ quốc, doanh nghiệp và người dân.

Thứ sáu, tăng cường đánh giá độc lập hiệu quả đầu tư công sau hoàn thành dự án. Việc đánh giá cần xem xét không chỉ tỷ lệ giải ngân mà cả hiệu quả kinh tế - xã hội, mức giảm chi phí cho người dân và doanh nghiệp, hiệu quả khai thác công trình và tác động phân phối giữa các khu vực trong Tỉnh.

Tài liệu tham khảo:

1. Báo Nghệ An (2021). Xây dựng kịch bản tạo nguồn thu ngân sách: Bài 1 - Một năm vượt khó.

2. Báo Nghệ An (2022). Thu ngân sách Nghệ An đạt cao nhất từ trước tới nay với 18.936 tỷ đồng.

3. Báo Nghệ An (2023). Lý giải nguyên nhân thu ngân sách năm 2023 của Nghệ An thấp hơn năm 2022.

4. Báo Nghệ An (2025a). Thu ngân sách năm 2024 của Nghệ An vượt 25.000 tỷ đồng.

5. Đài Phát thanh và Truyền hình Nghệ An (2024). Nghệ An công khai loạt dự án giải ngân 0% kế hoạch đầu tư công năm 2024.

6. HĐND tỉnh Nghệ An (2024a). Nghệ An giải ngân vốn đầu tư công năm 2023 đạt 95,04%.

7. HĐND tỉnh Nghệ An (2024b). HĐND tỉnh Nghệ An chỉ ra 7 tồn tại trong đầu tư công ở địa phương.

8. HĐND tỉnh Nghệ An (2025a). UBND tỉnh Nghệ An phê bình 34 sở, ngành, huyện, chủ đầu tư có kết quả giải ngân thấp.

9. HĐND tỉnh Nghệ An (2025b). Nghệ An điều chỉnh phương án phân bổ ngân sách địa phương năm 2025 cho cấp xã bảo đảm hoạt động thông suốt, hiệu quả.

10. HĐND tỉnh Nghệ An (2026). Chốt sổ năm 2025, thu ngân sách Nghệ An tiến sát mốc 30.000 tỷ đồng.

11. Kiểm toán Nhà nước (2024). Nghệ An: Thu ngân sách nhà nước đạt hơn 21.000 tỷ đồng.

12. OECD (2015). Recommendation of the Council on Budgetary Governance.

13. OECD (2023). OECD good practices for performance budgeting.

14. Quốc hội (2015). Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13.

15. Quốc hội (2021). Nghị quyết số 36/2021/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Nghệ An.

16. UBND tỉnh Nghệ An (2025). Công khai ngân sách trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Nghệ An.

Ngày nhận bài: 5/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 29/8/2026; Ngày duyệt đăng: 7/9/2026

Các tin khác

Đề xuất mô hình nghiên cứu ý định mua ô tô điện của người tiêu dùng Việt Nam: Tiếp cận tích hợp TPB, TAM và các điều kiện thị trường

Đề xuất mô hình nghiên cứu ý định mua ô tô điện của người tiêu dùng Việt Nam: Tiếp cận tích hợp TPB, TAM và các điều kiện thị trường

Chuyển đổi sang xe điện là một cấu phần quan trọng của chiến lược giảm phát thải trong giao thông. Năm 2025, doanh số ô tô điện tại Đông Nam Á tăng hơn gấp đôi so với năm trước; Việt Nam trở thành thị trường lớn nhất khu vực, với gần 40% xe mới bán ra là xe điện.
Năng suất lao động, đầu tư nước ngoài và thể chế trong năng lực cạnh tranh quốc gia Việt Nam

Năng suất lao động, đầu tư nước ngoài và thể chế trong năng lực cạnh tranh quốc gia Việt Nam

Năng lực cạnh tranh quốc gia phản ánh khả năng của nền kinh tế tạo lập môi trường thuận lợi cho tăng trưởng năng suất dài hạn. Đối với Việt Nam, việc xác định nhân tố nào thực sự có hiệu lực là cơ sở để phân bổ nguồn lực cải cách trong giai đoạn 2026–2035.
Mối quan hệ giữa mật độ doanh nghiệp mới và tỷ lệ thất nghiệp: Bằng chứng từ các quốc gia OECD

Mối quan hệ giữa mật độ doanh nghiệp mới và tỷ lệ thất nghiệp: Bằng chứng từ các quốc gia OECD

Sự gia tăng doanh nghiệp mới được xem là một kênh quan trọng để thúc đẩy tạo việc làm và giảm áp lực thất nghiệp. Từ dữ liệu các quốc gia OECD, bài viết làm rõ hơn mối liên hệ giữa khởi sự doanh nghiệp và biến động của thị trường lao động.
Tăng cường thu hút đầu tư tư nhân và hợp tác công tư trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam

Tăng cường thu hút đầu tư tư nhân và hợp tác công tư trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam

Xử lý chất thải rắn sinh hoạt đang đặt ra yêu cầu lớn về công nghệ, vốn đầu tư và cơ chế huy động nguồn lực tư nhân. Trong bối cảnh nhiều dự án PPP còn vướng mắc, việc hoàn thiện chính sách và tháo gỡ điểm nghẽn là cần thiết để nâng cao hiệu quả xử lý chất thải và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.
Tác động của chuyển đổi số đến hiệu suất công việc của nhân viên hành chính tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở TP.  Hồ Chí Minh

Tác động của chuyển đổi số đến hiệu suất công việc của nhân viên hành chính tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở TP. Hồ Chí Minh

Chuyển đổi số không chỉ làm thay đổi quy trình vận hành của doanh nghiệp nhỏ và vừa, mà còn tác động trực tiếp đến môi trường làm việc và trải nghiệm của nhân viên. Trong bối cảnh đó, việc làm rõ mối quan hệ giữa công nghệ, văn hóa tổ chức, sự hài lòng và hiệu suất công việc có ý nghĩa thiết thực.
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ hậu cần hàng không tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài: Vai trò trung gian của giá trị cảm nhận

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ hậu cần hàng không tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài: Vai trò trung gian của giá trị cảm nhận

Trong lĩnh vực hậu cần hàng không tại Nội Bài, giá trị cảm nhận là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ của khách hàng.
Hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Dệt may Supertex, TP. Hà Nội

Hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Dệt may Supertex, TP. Hà Nội

Trong ngành dệt may - lĩnh vực thâm dụng lao động đặc trưng - quản trị nguồn nhân lực là yếu tố cốt lõi quyết định đến năng suất, chi phí vận hành và khả năng thích ứng của doanh nghiệp trước những biến động thị trường.
Tín dụng xanh gắn với phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Tín dụng xanh gắn với phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Biến đổi khí hậu toàn cầu, suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia
Nâng cao ý định mua hàng trực tuyến trên Digishop VNPT Tiền Giang: Phân tích vai trò trung gian của sự hài lòng và niềm tin thương hiệu

Nâng cao ý định mua hàng trực tuyến trên Digishop VNPT Tiền Giang: Phân tích vai trò trung gian của sự hài lòng và niềm tin thương hiệu

Tại Việt Nam, thương mại điện tử tăng trưởng nhanh và đóng góp lớn cho kinh tế số, nhưng hành vi tiêu dùng số vẫn phân hóa theo ngành và khu vực; ở các tỉnh như Tiền Giang, người dân vẫn ưu tiên mua bán truyền thống, ít chủ động tự mua dịch vụ viễn thông trên nền tảng trực tuyến.
Tác động của các biến động tài chính toàn cầu đến rủi ro thị trường chứng khoán Việt Nam

Tác động của các biến động tài chính toàn cầu đến rủi ro thị trường chứng khoán Việt Nam

Nghiên cứu phân tích tác động của các yếu tố trong nước và quốc tế đến rủi ro của VN-Index. Kết quả cho thấy việc bỏ qua các yếu tố quốc tế có thể dẫn đến đánh giá chưa đầy đủ về rủi ro thị trường, từ đó nghiên cứu đề xuất hàm ý góp phần ổn định và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam.